Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông công lập quận bình tân thành phố hồ chí minh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KIỀU TẤN TIỆP

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP
QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KIỀU TẤN TIỆP

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP
QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.01.14

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: NGUYỄN VĂN TỨ

NGHỆ AN, 2015


LỜI CÁM ƠN


3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3

4. Giả thuyết khoa học

3

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

6. Phương pháp nghiên cứu

4

7. Cấu trúc luận văn

4

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
5
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

5

1.2. Các khái niệm cơ bản



THÀNH

PHỐ

HỒ

CHÍ

MINH

30
2.1. Giới thiệu khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của Quận Bình Tân
30
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học ở các trường THPT công lập Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh
33
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT công lập Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí
Minh

39
2.3.1. Thực trạng nhận thức của CB-GV-HS về đổi mới quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT

công lập Quận Bình Tân
2.3.2. Thực trạng về việc quản lý đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình dạy học ở trường THPT công
lập
2.3.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên ở các trường THPT công lập Quận Bình Tân
2.3.4. Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh ở các trường THPT công lập Quận Bình Tân
2.3.5. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động dạy học ở các trường THPT
công lập Quận Bình Tân
2.4. Đánh giá chung về thực trạng hoạt động chuyên môn tại các trường THPT công lập quận Bình


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
BGH
CBQL
CBGV
CNTT
CNXH
CSVC
DH
GD&ĐT
GDTrH

Viết đầy đủ
Ban giám hiệu
Cán bộ quản lý
Cán bộ giáo viên
Công nghệ thông tin
Chủ nghĩa xã hội
Cơ sở vật chất
Dạy học
Giáo dục và Đào tạo
Giáo dục Trung học


GDNGLL
GVBM
GVCN
GV

giáo dục – đào tạo đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các
quốc gia, lãnh thổ. Việt Nam trải qua gần ba mươi năm đổi mới, vốn một nước chậm phát
triển, nền kinh tế lạc hậu, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, vấn đề phát triển giáo dục –
đào tạo được coi là mục đích, đồng thời là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển,...” được các văn kiện của Đảng, Nhà nước luôn luôn quán triệt. Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ phải đổi mới và phát triển toàn diện, mạnh mẽ giáo
dục, đào tạo bằng việc thực hiện đồng bộ các giải pháp “Phát triển và nâng cao chất
lượng chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo
dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công
nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng


yêu cầu về chất lượng…”, “...Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn;
đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề. Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát
triển của xã hội ” [8].
Chăm lo đến nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có những phẩm
chất và năng lực đáp ứng đòi hỏi phát triển của giai đoạn mới, việc này cần bắt đầu từ
giáo dục phổ thông. Trong điều 27 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi năm 2009) ghi rõ: "Giáo
dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của
giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn
hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động"[22]. Nghị quyết 29 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) cũng đã khẳng
định giáo dục phổ thông phải tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,
năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống,
đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức

phương trong giai đoạn mới.
Giáo dục THPT ở Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, hạn chế, không đồng đều giữa các đơn vị bởi địa bàn Quận dàn trải, dân lao động
nghèo, vùng ven đô, dân nhập cư cao, dân tạm trú lớn; cơ sở vật chất còn thiếu thốn; nề
nếp, kỷ cương nhà trường chưa thật sự được đề cao, có lúc, có nơi còn xem nhẹ, trình độ
chuyên môn của một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới ở giáo dục
phổ thông, hiệu quả quản lý ở các trường chưa cao. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
quản lý của một bộ phận đội ngũ CBQL các trường THPT chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu
đổi mới và phát triển của giáo dục và đào tạo; đội ngũ giáo viên yếu về chất lượng còn
nhiều, phương pháp dạy học chậm đổi mới; cơ sở vật chất phục vụ dạy học còn thiếu
thốn, không đồng bộ. Trong khi giáo dục THPT giữ vai trò quan trọng việc tạo dựng mặt
bằng dân trí, đáp ứng những yêu cầu kinh tế xã hội trong xu thế hội nhập.
Vấn đề nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT đã có nhiều công trình
nghiên cứu ở các góc độ tiếp cận khoa học khác nhau. Tuy nhiên ở Quận Bình Tân, thành
phố Hồ Chí Minh vấn đề này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, nhất là
vấn đề quản lý hoạt động dạy học trong bối cảnh đổi mới hiện nay. Từ thực tế công tác
quản lý dạy học ở nhà trường và những lý do đã nêu ở trên chúng tôi chọn đề tài “Một số
giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông công lập Quận Bình
Tân, thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn xác định được các giải pháp quản lý vừa
mang tính khoa học vừa mang tính phù hợp với thực tế ở địa phương, với mục tiêu góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT ở Quận Bình Tân nói riêng, cũng như góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT công lập Quận Bình
Tân, TP. Hồ Chí Minh.


3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

vấn,... nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu.
7. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung
học phổ thông công lập.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường
trung học phổ thông công lập Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.


Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học
phổ thông công lập Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.


Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung
và nhà trường phổ thông nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam.
Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về dạy học và quản lý dạy học đã được thể hiện trong những quan điểm của
nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục. Đức Khổng Tử (551- 479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách
khuyến khích sở trường và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học là khải phát (gợi mở). Socrates (469 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay. J.A.Komenxki (15921670) đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp dạy học buộc học sinh phải
tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng. J.J.Rousseau (1717-1778) chủ trương giáo dục trẻ em
một cách tự nhiên và người học sẽ tự khám phá tích luỹ kiến thức thông qua chính hoạt động của mình.
Nhiều nhà giáo dục tiêu biểu xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như John Dewey (18591952), A.Macarenco (1888-1938), Jean Piaget (1896-1980),... cũng có quan điểm hướng đến sự tích cực hóa hoạt
động nhận thức của người học.
Vào nửa đầu thế kỷ XX, T.Makiguchi (Nhật Bản) đã nêu lên quá trình phát triển của giáo dục tương ứng
với nó là sự thay đổi vai trò của người thầy trong quá trình giáo dục, dạy học. Dạy học phải hướng vào người học,

dạy học trong nhà trường phổ thông.
Các đề tài đã nghiên cứu lý luận quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học tương đối sát với thực trạng
quản lý hoạt động dạy học (QLHĐ DH) trong các trường THPT và đã đề xuất được một số biện pháp quản lý có
tính khả thi. Kết quả nghiên cứu của các dề tài trên đã đóng góp thêm vào việc hiểu rõ, sáng tỏ cơ sở lý luận về QL
HĐDH nhằm nâng cao chất lượng ở các trường THPT và đem lại một số kinh nghiệm quản lý cho cán bộ quản lý ở
từng địa phương.

Đối với nền giáo dục THPT hiện nay, tác giả nghiên cứu vấn đề này ở các trường
THPT công lập ở quận Bình Tân, với hy vọng được góp phần nhỏ vào lĩnh vực này.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1.Vị trí, vai trò trường THPT trong hệ thống GD quốc dân
Luật Giáo dục năm 2005 trong điều 26 mục 1, điểm c có ghi: giáo dục trung học phổ thông được thực hiện
trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai; học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ
sở, có tuổi là mười lăm [22].
Điều 2, Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo
Thông tư số: 12/2011/QĐ- BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ghi: “ Trường trung
học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”
[4].
Cấp THPT là cấp học nối tiếp cấp THCS, HS đã có kiến thức cơ bản của chương trình THCS. Một số học
sinh không đủ điều kiện học tiếp thì trực tiếp tham gia lao động trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội, còn lại đa
số các em tiếp tục học lên tiếp chương trình THPT, hoàn thiện về tri thức để dự tuyển vào các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và số còn lại tiếp tục học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động sản xuất.

- Đây là cấp học đang chuyển sang sự đa dạng về loại hình, đa dạng hóa các trường học, ở cấp học này,
cần phải tính đến sự kết nối liên tục chương trình giáo dục THCS với chương trình mà học sinh sẽ được học ở cấp
THPT.

- Là cấp học có nhiệm vụ tạo nguồn đáng kể cho đào tạo Trung cấp nghề, Cao đẳng, Đại học nhằm phục
vụ cho CNH-HĐH đất nước, cần có sự tăng cường trong các nội dung giáo dục, đào tạo và giáo dục hướng nghiệp.


HĐDH làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ
xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành
những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng
yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt dộng của học sinh.
Do vậy, có thể nói HĐDH trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội, đặc trưng nhiệm vụ của nhà
trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường.
1.2.2.2. Hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy (HĐD) là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và
phát triển nhân cách học sinh. Vai trò chủ đạo của HĐD với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của
học sinh, giúp cho học sinh nắm được kiến thức, có khả năng vận dụng vào thực tiễn, hình thành kỹ năng thái độ.
1.2.2.3. Hoạt động học của học sinh
Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học của học sinh biến nó từ kho tàng
văn hóa xã hội thành học vấn riêng của bản thân, học sinh sẽ hình thành cho mình một thái độ mới trong việc đánh
giá các giá trị tinh thần vật chất của thế giới khách quan, một phẩm chất đạo đức mới, dưới sự điều khiển sư phạm
của giáo viên. Đó là quá trình tự điều khiển tối ưu, sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu
trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện.
1.2.3. Quản lý nhà trường và quản lý hoạt động dạy học
1.2.3.1. Quản lý
a. Khái niệm
Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó bắt nguồn và gắn chặt
với sự phân công, hợp tác lao động. QL là một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát
triển xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Có thể nói
QL là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất.
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Ngay từ khi con
người bắt đầu hình thành nhóm đã biết phối hợp các nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Từ khi
xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh
vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tể quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự
nghiệp,... đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và
đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt

- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền hành và các nguồn lực cho
các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. ứng với những mục
tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ chức hiệu quả mà người quản lý có thể phối
hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được
năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực.

- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con người trong tổ
chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Vai trò của người chỉ đạo là
phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu
chung của đơn vị.

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì
coi như không có quản lý. Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn,
điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo.
c. Các nguyên tắc quản lý
Các nguyên tắc quản lý là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các cơ quan quản lý, các nhà
lãnh đạo phải tuân thủ trong quá trình quản lý.

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa học có
sự kết họp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc
thực hiện mục tiêu quản lý. Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ hoạt động của hệ thống được tập trung vào
cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và


đề xuất các giải pháp cơ bản, chủ yếu để tiến hành thực hiện.
Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng - người chịu trách nhiệm trước tập
thể cán bộ, công nhân viên về toàn bộ hoạt động của đơn vị, tổ chức mình. Dân chủ trong quản lý được hiểu là sự
huy động trí lực của mọi thành viên trong tổ chức để tiến hành quản lý. Dân chủ được thể hiện ở chỗ: Các chỉ tiêu,
phương án đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các biện pháp thực thi trước khi đi đến quyết định. Các tổ
chức quần chúng, người lao động còn được tham gia thực hiện các chức năng quản lý: tham gia xây dựng kế hoạch,

Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng
nhằm thực hiện các mục tiêu đã định. Phương pháp quản lý có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý. Quá trình
quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng nguyên tắc, nhưng các nguyên tắc đó lại được vận
dụng và được thông quan các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý có hiệu
quả là một nội dung của quản lý. Mục tiêu, nhiệm vụ chỉ được thực hiện thông qua các tác động của phương pháp
quản lý, vai trò của phương pháp còn ở chỗ nhằm khơi dậy những động lực, kích thích tính năng động, sáng tạo của
mỗi cá nhân.
Thực tiễn quản lý cho thấy không có phương pháp nào là vạn năng, phương pháp nào cũng có mặt ưu
điểm, mặt nhược điểm. Bởi vậy, chủ thể quản lý cần biết phối hợp các phương pháp một cách linh hoạt nhằm khai
thác được những mặt mạnh, hạn chế được những nhược điểm của từng phương pháp. Vận dụng các phương pháp có
thành công hay không phụ thuộc vào tài năng của nhà quản lý, nghệ thuật sử dụng các phương pháp đòi hỏi nhà
quản lý sự sáng tạo, còn bản thân các phương pháp không phải là cái quyết định thành công của nhà quản lý.


1.2.3.2. Quản lý nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã
hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm
hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên
trạng thái mới [21]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: Quản lý tnrờng học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập họp và
tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực
giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và dào tạo trong nhà trường [24]. Tóm lại: Quản lý nhà trường là thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên
lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học
sinh. Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt dộng
đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng
thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó. Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy
định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi

giáo viên, học sinh trong nhà trường nhằm mục tiêu quản lý hoạt động dạy học của nhà trường đề ra. Người phụ
trách chuyên môn phải có những giải pháp quản lý mang tính đồng bộ thì mới đảm bảo chất lượng dạy học, giáo


dục học sinh trong nhà trường.
1.3. Hoạt động dạy học ở trường THPT
1.3.1.Mục tiêu của hoạt động dạy học ở trường THPT
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc” [22.
Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện
học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực
cá nhân dể lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống
lao động” [22].
Từ những mục tiêu giáo dục phổ thông đã được xác định trong Luật Giáo dục, ta có thể thấy được mục
tiêu cụ thể của hoạt động dạy học ở trường THPT đó là trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng thực hành,
giúp học sinh có một trình độ học vấn có thể đáp ứng được việc tiếp tục học cao hơn hoặc đủ khả năng để tham gia
lao động ngoài xã hội. Như vậy, mục tiêu của hoạt động dạy học THPT phải hình thành và phát triển ở học sinh nền
tảng tư duy con người thời đại mới.
1.3.2. Nội dung hoạt động dạy học ở trường THPT
Từ khái niệm về HĐDH ta có thể hiểu nội dung HĐDH là một hệ thống bao gồm hai thành tố đó là HĐD
của GV và HĐH của HS.
* HĐD là truyền đạt lại cho thế hệ sau nền văn hoá của nhân loại, giúp cho họ bảo tồn, kế thừa và phát
triển nền văn hoá đó. Đây còn là sự điều khiển quá trình giúp học sinh tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức
khoa học, bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện. Như vậy HĐD có chức
năng kép truyền đạt và điều khiển.
HĐD của giáo viên thực chất gồm hai hoạt động:

- Giáo viên nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, trình độ học sinh, điều kiện của giáo viên, tài liệu tham

viên khơi dậy sự hào hứng, say mê học tập của HS. Giáo viên phải biết cách tổ chức để học sinh chủ động tích cực
tham gia vào bài học, phát huy khả năng sáng tạo trong học tập. Nghệ thuật sử dụng phương pháp trong hoạt động
dạy học của giáo viên quyết định nhiều đến hiệu quả của quá trình dạy học.
1.3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học ở trường THPT
Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năng riêng,
tác động qua lại với nhau và vận động theo qui luật chung, tạo nên chất lượng toàn diện của hệ thống. Chúng ta
thường xuyên nghiên cứu để hoàn thiện lừng thành tố của quá trình dạy học, nâng cao chất lượng của chúng, góp
phần thúc đẩy chất lượng của toàn bộ hệ thống mà tựu chung là chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục.
Dạy học có chất lượng chính là thực hiện tốt các nhiệm vụ: cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình
thành thái độ. Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ đó sẽ làm cho hiệu quả dạy học ngày càng cao, chất lượng dạy học ngày
càng được nâng lên.
Chất lượng dạy học ổn định và phát triển, nó quy tụ ở những yếu tố sau: đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học, nguồn tài chính và môi trường sư phạm; mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học;
qui mô phát triển học sinh; HĐDH của thầy trong mối quan hệ không thể tách rời với hoạt động học của trò; cơ chế
tổ chức quản lý; cơ chế cộng đồng phối hợp trong và phối hợp ngoài; hiệu quả dạy học. Trên cơ sở đó, các nhà quản
lý cần tìm ra các biện pháp khả thi để quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường, mà trọng tâm là HĐDH.
1.4. Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
1.4.1. Quản lý kế hoạch dạy học của nhà trường
Trong bối cảnh đổi mới GDPT của nước ta hiện nay, phát triển chương trình nhà trường là một hoạt động
rất cần thiết. Trên cơ sở chương trình quốc gia do Bộ GD &ĐT ban hành, Sở GD&ĐT các tỉnh, thành sẽ xây dựng
chương trình địa phương để từ đó các trường THPT sẽ xây dựng nên chương trình nhà trường thực sự phù hợp với
đặc điểm tình hình, các điều kiện thực tế cụ thể của trường mình. Một trong những nội dung quan trọng của phát
triển chương trình nhà trường đó là quản lý kế hoạch dạy học trường THPT. Việc quản lý kế hoạch dạy học của nhà
trường bao gồm: Xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch dạy học, chỉ đạo thực hiện kế
hoạch dạy học và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch dạy học.
1.4.1.1. Xây dựng kế hoạch dạy học trong trường THPT
Nếu như kế hoạch năm học là bản kế hoạch tổng hợp tất cả các hoạt động trong năm học của toàn trường,
thì kế hoạch dạy học là một loại kế hoạch tác nghiệp nói riêng và bao quát về quản lý dạy học của người CBQL. Kế
hoạch dạy học được lập từ đầu năm học và tuân theo đúng các quy định về cấu trúc mà một bản kế hoạch cần có.
Khi xây dựng kế hoạch dạy học của nhà trường cần chú ý các nội dung sau:



- Hoạch định, cân đối tài chính cho các hoạt động trong năm học (ưu tiên các nội dung cấp thiết và quan
trọng).

- Phổ biến đến toàn thể CBGV để cùng thực hiện. Giao cho các TTCM giám sát việc thực hiện để đảm
bảo kế hoạch được thực thi hiệu quả.
1.4.1.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy học trong trường THPT
Chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy học trong trường THPT là một hoạt động thường xuyên, liên tục và được
tiến hành trong suốt cả năm học. Nội dung của hoạt động này bao gồm:

- Chỉ huy, ra các quyết định làm cho hoạt động dạy học của nhà trường diễn ra thuận lợi theo đúng kế
hoạch và đạt được mục tiêu mong muốn.

- Đôn đốc, động viên, khích lệ mọi người khi họ gặp khó khăn để kế hoạch dạy học được thực hiện đúng
tiến dộ, cần thiết có sự khen thưởng bằng vật chất.

- Theo dõi và giám sát, điều chỉnh với tư cách là người hướng dẫn, trợ giúp kĩ thuật cho GV trong quá
trình thực hiện kế hoạch dạy học.

- Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện kế hoạch dạy học. Trong bước chỉ đạo, người ta thường
thực hiện theo chu trình “hoạch định - kiểm soát”.
Trong QLHĐDH trong trường THPT, người CBQL đồng thời vừa là nhà thiết kế vừa là người thi công
cùng các GV, nên tổ chức thực hiện kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy học là lúc đòi hỏi người CBQL kết
hợp được tính khoa học và tính nghệ thuật của nhà quản lý, nhà sư phạm, cùng những kinh nghiệm thực tiễn của
bản thân.
Trong QLHĐDH trong trường THPT, người CBQL chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy học thông qua việc chỉ
đạo thống nhất các tổ CM thực hiện các nội dung sau:

- Tổ chức cho GV học tập nắm vững các mục tiêu DH và GD cấp học, chương trình, SGK, hướng dẫn
dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, hướng dẫn xây dựng ma trận đề kiểm tra và các quy định, quy chế CM khác..

Thực hiện trương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của nhà trường phổ thông, nó
là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành. Trên cơ sở nắm vững chương trình, tổ chức cho
giáo viên nghiên cứu theo từng nhóm môn để xây dựng một chương trình thực sự phù hợp với đặc điểm cụ thể của
nhà trường, đối tượng học sinh, đặc thù năm học và các điều kiện hỗ trợ khác như thời gian, CSVC , TBDH.... Và
đây chính là chương trình dạy học của nhà trường. Tuy nhiên phải đảm bảo đầy đủ các nội dung theo chương trình
quốc gia do Bộ GD& ĐT ban hành.
Nắm vững chương trình dạy học là việc đảm bảo quản lý thực hiện tốt chương trình dạy học, bao gồm:

- Nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung và phạm vi kiến thức dạy học của từng
môn học, cấp học.

- Nắm vững phương pháp dạy học của từng môn học, từng khối lớp trong cấp học.
- Phương pháp dạy đặc trưng của bộ môn, của bài học phù hợp với từng loại lớp học, từng loại bài của
cấp học.

- Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa các hình thức dạy học trên lớp, ngoài
lóp, thực hành, tham quan,... một cách hợp lý.

- Dạy học và coi trọng tất cả các môn học theo quy định của phân phối chương trình - nghiêm cấm việc
cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiết học với bất cứ môn học nào, lớp học nào, dưới bất kỳ hình thức nào.
Để việc quản lý thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, đảm bảo thời gian cho việc thực hiện chương
trình dạy học, phải chú ý sử dụng thời khoá biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến bộ thực
hiện chương trình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chương
trình dạy học.
1.4.2.2. Quản lý việc soạn bài

vờ

chuẩn bị lên lớp



- Xây dựng được “chuẩn” giờ lên lớp để quản lý tốt giờ lên lớp của giáo viên. Chuẩn này, ngoài những
quy định chung của ngành như Thông tư 13/TT/GD-ĐT ngày 12/9/1994. Thông tư 12/TT/GD-ĐT ngày 4/8/1997
của Bộ GD-ĐT, cần thường xuyên bổ sung, điều chỉnh đế thể hiện được sự tiến bộ chung của trường và của giáo
viên trong trường.

- Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thầy và trò nhằm đảm bảo tính nghiêm túc trong mọi hoạt động
hết sức nhịp nhàng của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

- Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp càng tốt để mọi giờ lên lớp góp phần
thực hiện mục tiêu.

- Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những quy định của nhà trường, thực
hiện nghiêm túc quy chế có liên quan đến giờ lên lớp, việc khai thác, sử dụng TBDH, THTN.
Để đảm bảo được những yêu cầu quản lý giờ lên lớp, sử dụng TBDH và THTN cần quy định và rõ chế độ
thực hiện và kiểm tra, sử dụng thời khóa biểu, kế hoạch sử dụng TBDH ,THTN nhằm kiểm soát các giờ lên lớp, duy
trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học và tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường.
1.4.2.4. Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên
Đổi mới PPDH là vấn đề cốt lõi của hoạt động dạy học, là đòn bẩy trực tiếp để nâng cao chất lượng, hiệu
quả dạy học trong nhà trường. Đổi mới PPDH được thực hiện theo các định hướng sau:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông.
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể.
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh.
- Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường.
- Phù họp với đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học.


- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH tiên tiến, hiện đại với việc khai
thác các yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống.
- Tăng cường sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công

vụ cụ thể, phải lập kế hoạch kiểm tra đánh giá học tập một cách dầy đủ theo yêu cầu của chương trình. Đồng thời
phải thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng để đảm bảo công việc đã đề ra,
từng bước nâng cao chất lượng toàn diện của quá trình dạy học.
1.4.2.6. Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên.
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trình quản lý có tính khách quan và cụ thể,
giúp người quản lý nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên. Có thể nói hồ
sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những cơ sở pháp lý để nói lên việc thực hiện nề nếp chuyên môn, việc
chuẩn bị, đầu tư cho công việc của giáo viên. Tuy nhiên, hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xem đồng
nghĩa với năng lực giảng dạy của giáo viên trên lóp. Nó chỉ là điều kiện cần chứ không phải đủ.
Hồ sơ của giáo viên phục vụ cho hoạt động dạy theo Điều 25.2 của Điều lệ nhà trường Phổ thông bao gồm
các loại hồ sơ sau:

- Giáo án (bài soạn)


- Các loại sổ: sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp), sổ công tác, sổ
điểm cá nhân,...

- Các loại sách: Sách giáo khoa, sách hướng dẫn, phân phối chương trình, các tài liệu tham khảo.
Trong quá trình quản lý, phải hướng dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ, và thường xuyên kiểm tra
bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động dạy và học.
Tóm lại: QL HĐD của giáo viên là quản lý một quá trình chủ đạo của người thầy trong quá trình dạy học,
đòi hỏi người cán bộ quản lý phải hiểu hết nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa
mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa mềm dẻo linh hoạt để đưa hoạt động dạy của giáo viên vào nề
nếp kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ
của mình.
Tuy nhiên hoạt động dạy của giáo viên sẽ hoàn thành trọn vẹn khi tổ chức tốt hoạt động của trò. Đó là sự
liên tục của hoạt động dạy học, là trách nhiệm của người thầy đối với “Sản phẩm đào tạo” của mình.
1.4.3. Quản lý hoạt động học của học sinh
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tại củng với hoạt động dạy của giáo viên.

- Giúp học sinh có nề nếp tổ chức học tập ở trường cũng như ở nhà và những nơi sinh hoạt văn hoá,...


- Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập.
- Xây dựng được nề nếp về khen thưởng kỷ luật, chấp hành nề nếp nội quy học tập cho học sinh.
Nề nếp học tập tốt, sẽ duy trì mọi hoạt động học tập tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy,
phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nề nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các
đối tượng để phối hợp thực hiện, tạo ra bầu không khí thuận lợi cho sự giáo dục của nhà tnrờng.
1.4.3.2. Quản lý hoạt động học tập trên lớp của HS
Hoạt động học tập của học sinh diễn ra trong không gian và thời gian tương đối rộng, bao gồm chủ yếu là
học tập trên lớp và ở nhà. Trong thời gian học tập trên lớp, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV, HS được tiếp nhận
tri thức đồng thời có cơ hội thực hành để từ đó hình thành kỹ năng thái độ cho bản thân. Để HS phát huy tính sáng
tạo, chủ động trong việc học trên lớp đòi hỏi GV ngoài việc vững vàng trong CM còn phải có những thủ pháp, kỹ
thuật dạy học cũng như khả năng bao quát, điều hành tốt HS. Vì thế trong việc quản lý hoạt động dạy học, nhà
trường cần phải thường xuyên chỉ đạo, dôn đốc GV thực hiện tốt vai trò của mình. GV phải không ngừng tìm hiểu
những kiến thức thuộc bộ môn mình cũng như kiến thức trong khoa học quản lý. Bên cạnh đó cần phải nắm vững
đối tượng HS, đặc thù của từng lớp, tâm lý của độ tuổi. Ngoài ra GV phải luôn đặt việc quản lý việc học tập của HS
trong các mối quan hệ phối hợp. Không thể tách biệt riêng bộ môn của bất cứ GV nào, và cũng không xem nhẹ vai
trò của tổ chức nào đối với hoạt động học của HS.
Tuy nhiên, mọi sự phối kết hợp cần phải chặt chẽ nhưng phải thực sự nhẹ nhàng dể tránh cảm giác áp lực
cho HS, phải tạo cho HS không khí học tập thoải mái, cởi mở, chia sẻ và hợp tác để dạt dược kết quả học tập như
mong muốn từ đó hình thành những phẩm chất tốt và các kỹ năng cần thiết giúp các em tự tin bước vào cuộc sống.
1.4.3.3. Quản lý hoạt động học tập ở nhà của HS
Cùng với việc quản lý học tập tại trường của HS, nhà trường phải quản lý chặt chẽ việc học tập ở nhà của
các em, bởi đây chính là một thành tố quan trọng trong hoạt động học tập của HS. Với những kiến thức được lĩnh
hội từ các giờ học trên lớp, các em cần phải có thời gian để nghiền ngẫm, để tái tạo thông qua việc luyện tập ở nhà
để từ đó có thể chiếm lĩnh tri thức khoa học một cách tự tin và chủ động. Như vậy, nếu như việc học ở nhà của HS
không đảm bảo thì HĐDH sẽ kém hiệu quả và mục tiêu GD khó đạt được như mong muốn. Nhà trường giao việc
quản lý học tập ở nhà của HS cho GVCN. GVCN sẽ có kế hoạch thật khoa học và hợp lý từ việc xây dựng thời gian
biểu cho HS, phân chia các nhóm học tập, phát động thi đua giữa các nhóm, các cá nhân, kiểm tra đầu mỗi buổi học

học ở mỗi nhà trường. Để quản lý tốt hoạt động tổ chuyên môn, cần phải dảrn bảo các nguyên tắc sau: đảm bảo sự
lãnh đạo của Đảng trong quản lý tổ; tập trung dân chủ; bảo đảm tính khoa học, cụ thể và thiết thực; bảo đảm tính kế
hoạch; coi trọng công tác giáo dục, thuyết phục kết hợp với việc tạo động lực làm việc cho giáo viên.
1.4.4.3. Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng giáo viên là một yêu cầu, một mục tiêu không thể thiếu được trong quá
trình quản lý nhà trường, nó thể hiện cụ thể ở hai nội dung sau:
- Sử dụng đội ngũ giáo viên: Phân công hợp lý trong chuyên môn, phối hợp với năng lực chuyên môn trên
cơ sở có chú ý đến điều kiện của từng giáo viên trong trường.
- Bồi dưỡng đội ngũ: Bao gồm việc tự học, bồi dưỡng thường xuyên theo chương trình của Bộ GD&ĐT
theo hình thức bồi dưỡng tại trường hoặc tham gia các lớp bồi dưỡng do cấp trên mở, bồi dưỡng nâng cao trình độ
nhằm chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, bồi dưỡng nâng chuẩn,...
Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng quyết định đến
chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà trường, vì vậy nhà trường phải có chương trình, kế hoạch, chủ động trong
việc bồi dường giáo viên, nhằm từng bước nâng cao trình độ và năng lực sư phạm cho giáo viên.
1.4.4.4.Quản lý các nguồn lực trong nhà trường (vật lực, tài lực)
a. Quản lý tài cơ sở vật chất nhà trường
Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết để nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là diều kiện không thể
thiếu được trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học của nhà trường là
hệ thống các phương tiện vật chất - kỹ thuật dạy và học trong nhà trường.
Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho dạy và học đảm bảo được 3 yêu cầu liên quan mật thiết với
nhau đó là: đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học; sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ
thuật trong việc dạy và học; tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường.
Nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường bao gồm: quản lý trường
lớp, phòng học, bàn ghế, bảng; quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng
chức năng; quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu; quản lý đồ dùng học tập của học sinh.
Tất cả các nội dung trên đều cần thiết, cơ sở vật chất và thiết bị ngày càng được trang bị hiện đại để phục
vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng được thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
b. Quản lý nguồn kinh phí nhà trường
Nguồn kinh phí đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các hoạt động dạy và học trong nhà trường,
nó là nguồn lực dùng để chi trả lương cho CBGV, khen thưởng giáo viên, học sinh có thành tích trong dạy và học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status