Thế giới nghệ thuật trong xa xôi thôn ngựa già của ma văn kháng - Pdf 33

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
TrƯêng ®¹i häc vinh

BÙI THỊ HÀ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ
CỦA MA VĂN KHÁNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHÖ aN - 2015


Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
TrƯêng ®¹i häc vinh

BÙI THỊ HÀ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG XA XÔI THÔN NGỰA GIÀ
CỦA MA VĂN KHÁNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH:LÝ LUẬN VĂN HỌC
M· sè: 60.22.01.20

Người hướng dẫn khoa học: TS. Ph¹m tuÊn vò

NGHÖ aN - 2015



Cố Vinh, người xứ lạ; Cánh buồm tím; Người khổ nhất trần gian và Xa
xôi thôn ngựa già.


2
Xa xôi thôn ngựa già là câu chuyện kể về một người đàn ông 65
tuổi nhưng vẫn đang còn rất nhiều nhiệt huyết và đam mê, đã tự bỏ tiền
đi khắp nơi trên đất nước để có thêm hiểu biết và rồi ông lên thôn Ngựa
Mới (còn gọi là thôn Ngựa Già) để khai hoang, đưa máy móc vào áp
dụng trong sản xuất nông nghiệp ở nơi đây mặc cho mọi người nói ông
là kẻ hoang tưởng. Thôn Ngựa Già từ khi ông lên có cuộc sống ấm no,
sung túc hơn. Ông được người dân trong thôn Ngựa Già gọi là “chàng
hiệp sĩ”, là “bông hoa đức hạnh mang màu lửa” của người dân thôn bản
ở đây.
Truyện Cố Vinh, người xứ lạ kể lại câu chuyện về một cha xứ đi
mở mang nước chúa ở vùng đồng bào dân tộc Mông. Ông đã cống hiến
cả trái tim và tâm hồn bằng “cái đam mê của kẻ tạo cử nghiệp ở bước
khởi đầu” nhưng lại có một kết cục buồn thảm vì đã sống thành thật với
chính mình…
Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường là câu chuyện về một phụ nữ
xinh đẹp tuyệt sắc của xứ Mèo trên núi Fansian. Sắc đẹp của cô đến
mức đã lưu truyền trở thành một trong những truyền kỳ đặc sắc nhất
trong vùng, “mắt nàng biếc xanh màu núi lung liêng, môi nàng hé mở
đầy vẻ mời mọc gợi tình” Nàng là nguyên nhân gây nên những bi hài
kịch, những cuộc thăng chức, giáng chức của các vị quan chức quan
trọng trong huyện lỵ M, để từ đó những âm mưu, toan tính có cơ hội
được hé lộ, phơi bày…”.
Tập truyện đã phản ánh hơi thở nóng hổi của cuộc sống đương đại
tại những bản làng vùng núi phía Bắc. Bằng ngòi bút am hiểu, đầy tình
cảm với những năm gắn bó cùng đồng bào dân tộc tại miền núi. Nhà văn

phạm Hà Nội. Tốt nghiệp lên dạy ở tỉnh Lào Cai và từng là hiệu trưởng
trường trung học. Về sau ông được Tỉnh ủy điều về làm thư ký cho Bí


4
thư Tỉnh ủy, rồi làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ
tỉnh.
Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, ông từng là Tổng
biên tập, phó giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995,
ông là Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt
Nam.
Ông lấy bút danh là Ma Văn Kháng, cái tên nghe rất đặc biệt có vẻ
“thiểu số” này đã nói lên sự gắn bó và tình cảm của tác giả đối với miền
đất từng sống và hoạt động trên hai mươi năm, nơi quê hương thứ hai
của mình.
Mảnh đất Lào Cai xinh đẹp cùng những con người tình nghĩa là
động lực cho ngòi bút Ma Văn Kháng thỏa sức sáng tạo. Hàng loạt
tiểu thuyết, truyện ngắn có giá trị phản ánh đời sống của đồng bào
miền núi khiến cho có người mệnh danh Ma Văn Kháng là “nhà văn
núi rừng”.
Khối lượng văn chương đồ sộ của Ma Văn Kháng thu hút sự
nghiên cứu, đánh giá của những nhà nghiên cứu phê bình văn học. Ngay
từ khi truyện ngắn Phố cụt ra đời (1959) và đặc biệt là những tác phẩm
xuất hiện trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Ma Văn
Kháng đã được đông đảo dư luận, độc giả và các nhà phê bình quan tâm.
Nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà
nghiên cứu như: Giáo sư Phong Lê, Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng
Xuyền, Nguyễn Bích Thu đã được đăng tải trên nhiều sách báo và tạp
chí…
Khi bàn về Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời trong Vẫn

tình yêu thương con người,vẫn nhoi nhói nỗi đau trần thế. Không ít
truyện của anh mang tính chất luận đề và chất triết lí khá rõ nhưng


6
vẫn nhuyễn, vẫn cuốn hút người đọc vì văn của anh đậm đà, giàu
hương vị, nhiều chi tiết, đời sống phong phú, tiêu biểu và nhiều
thuyết phục”.
Đáng chú ý nhất phải kể tới bài viết “Khi nhà văn đào bới bản thể ở
chiều sâu tâm hồn” của Lã Nguyên đăng trên Tạp chí văn học số 9/1999.
Bằng cái nhìn sắc sảo, cách tiếp cận khoa học, tác giả đã đề cập tới nhiều
bình diện của truyện ngắn Ma văn Kháng. Tác giả chia truyện ngăn Ma văn
kháng thành ba nhóm: Nhóm thứ nhất là những sáng tác viết về đề tài miền
núi, nhóm thứ hai là những tác phẩm viết về đời sống thành thị trong sự đổi
thay mạnh mẽ của đất nước. Nhóm thứ ba là những sáng tác đi sâu thể hiện
niềm tin và tinh thần lạc quan vào cuộc sống. Cũng trong bài viết này tác
giả đã đề cập đến một số đặc điểm truyện ngắn Ma văn Kháng như: Tính
công khai bộc lộ chủ đề, sự cố ý tô đậm tính cách nhân vật, việc lồng giai
thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ,tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật… Điều
đáng chú ý là, trong bài viết này tác giả đã đưa ra một số nhận xét về nghệ
thuật trần thuật của nhà văn. Tuy mới chỉ dừng lại ở những nhận định chứ
chưa được cụ thể hóa và lí giải một cách cụ thể nhưng chúng tôi coi đó là
những gợi mở thú vị là những chỉ dẫn quý báu trong quá trình triển khai đề
tài của mình.
Bên cạnh những bài viết trên các báo và tạp chí còn có một số luận
văn về Ma văn Kháng đã được bảo vệ thành công.
Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma văn Kháng từ
sau năm 1980, tác giả Phạm Mai Anh đã tập trung khai thác một số yếu
tố nghệ thuật trong truyện Ma văn Kháng như: kết cấu, nhân vật, ngôn
ngữ. Tác giả chỉ ra những đặc điểm truyện ngắn Ma văn Kháng như: lối

- Khái quát được các biểu hiện chủ yếu của giọng điệu nghệ thuật
trong tác phẩm Xa xôi thôn Ngựa Già.


8
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các phương diện chủ yếu
thuộc thế giới nghệ thuật của tác phẩm Xa xôi thôn Ngựa Già của Ma
Văn Kháng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận các truyện vừa trong tác phẩm
này như một hệ thống tập trung viết về miền núi.
- Bám sát đặc trưng của truyện vừa, loại tác phẩm về dung lượng
đứng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Giới thuyết khái niệm thế giới nghệ thuât. Quan niệm
về con người và nhân vật trong Xa xôi thôn Ngựa Già
Chương 2. Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật
trong Xa xôi thôn Ngựa Già
Chương 3. Hình tượng người trần thuật và giọng điệu nghệ thuật
của Xa xôi thôn Ngựa già


9


nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác
của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật. Thế giới
nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó
chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người… là
thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học.
mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật riêng của mình” .
Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ .Tuy còn
dừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý báu,
phù hợp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn.
Năm 1992, Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi, chủ biên) định nghĩa: "Thế giới nghệ thuật là khái niệm
chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác
phẩm, một tác giả, một trào lưu). Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng
được tạo ra theo các nguyên tắc riêng của nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật
có thời gian không gian riêng, có quy luật tâm lí thang bậc giá trị riêng
trong việc phản ánh thế giới. Mỗi thế giới ứng với một cách cắt nghĩa về
thế giới [7, 201- 202].
Khái niệm thế giới nghệ thuật là phương diện của thi pháp học.
Theo Trần Đình Sử: "Thi pháp học là bộ môn cổ xưa nhất đồng thời
cũng là bộ môn hiện đại nhất [38, 4]. Thế giới nghệ thuật đã được nói
đến từ rất xa xưa. Cách đây hơn 2300 năm Aristote khi bàn về kịch cho
rằng: Kịch cần phải có sáu thành phần “ Cốt truyện, tính cách, tư tưởng,
bài trí sân khấu, văn tự, và bố cục âm nhạc” [1, 35]. Lưu Hiệp đã đưa ra
cái nhìn biện chứng về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức. Ông
quan niệm một tác phẩm văn học phải đảm bảo 6 yếu tố:
1- Tình cảm sâu mà không dối
2 - Việc chắc mà không ba hoa


11
3- Phong thái mà không tạp

quanh…”. Vận dụng khái niệm này vào tìm hiểu chỉnh thể thế giới nghệ
thuật cho thấy thế giới này bao gồm rất nhiều cấp độ. Tác phẩm, tác giả,
giai đoạn, thời kì văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu .
Mỗi cấp độ lại là một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất. Mọi yếu tố
trong hệ thống chỉnh thể có quan hệ ràng buộc, quy định và tác động lẫn
nhau. Mối quan hệ này đã tạo ra một thế giới với nội dung và chức năng
mới vốn không có khi đem tách rời các yếu tố. Nói như vậy, thì chỉnh
thể thế giới nghệ thuật là sự liên kết "siêu tổng cộng" của các chỉnh thể
nhỏ trong hệ thống từ quan niệm, mô hình, hình tượng đến các chỉnh thể
nhỏ hơn khái niệm hình tượng. Chỉnh thể thế giới nghệ thuật là kết quả
của quá trình tư duy của người nghệ sĩ khi biến những cảm xúc, những
tình điệu thẩm mĩ, những cách khám phá, cắt nghĩa, lí giải đời sống
thành "thiên nhiên thứ hai" - để người đọc chiêm nghiệm, suy ngẫm, soi
ngắm các vấn đề mà người nghệ sĩ đã gửi vào trong đó. Là sản phẩm của
nhà văn nhưng thế giới nghệ thuật tồn tại độc lập với nhà văn đó theo
cách riêng của mình.
Tính chỉnh thể của văn học được biểu hiện qua sự thống nhất biện
chứng giữa nội dung và hình thức. Trong sáng tạo, nội dung làm nẩy
sinh hình thức và hình thức phụ thuộc, phục tùng nội dung, biểu đạt nội
dung. Không có nội dung ở ngoài hình thức, cũng không có hình thức
trừu tượng tách rời nội dung. Tuy nhiên, việc thống nhất không phải lúc
nào, nhà văn nào cũng có thể làm được mà chỉ những nhà văn thực sự tài
năng thì mới tạo nên sự thống nhất. Sự thống nhất càng cao thì giá trị
biểu hiện càng lớn. Trong thế giới nghệ thuật, mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức là hệ quả tất yếu nhằm thống nhất nội tại giữa các yếu tố,
thể hiện tính quy luật của chỉnh thể. Đây là cơ sở để đánh giá đúng chân


13
giá trị của tác phẩm. Nó giúp người sáng tác tránh được những lắp ghép

quan niệm rất cụ thể” và “Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành
là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái
vô thức. Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm
về đối tượng” [7;23]. Có thể khẳng định, quan niệm chính là một phương
tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ
thuật về con người trong văn học là bước đi thiết thực để đến với chiều
sâu của các tác phẩm, của các giai đoạn văn học.
Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học”. Đó là
nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Do vậy, con người chính là đối
tượng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc
đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều nhằm mục đích miêu tả
và thể hiện vào con người.
Thực tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền
văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan đến
con người. Nói cách khác, mục đích miêu tả của nhà văn là nhằm hướng
đến thể hiện con người. Ngay cả những dòng thơ viết về cảnh vật, thiên
nhiên không phải là động tác phác thảo vài nét cơ bản vào không gian,
mà là sự bộc lộ những tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình cũng
như chủ thể tác giả dấu mặt.
Tóm lại, trong văn học, yếu tố con người được nói đến như một
điều tất yếu. Con người chính là nhân vật trung tâm của văn học.
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể
hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con
người của nhà văn. Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa
vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo
nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói
riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu quan


16

ăn… Người ta thấy văn chương có những tác phẩm cảm động khi đi vào
miêu tả những liên hệ của con người với miếng ăn. Hồi kí Từ bến sông
Thương của Anh Thơ kể, hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tác giả gặp
Xuân Diệu đang trên đường vào khu bốn. Hỏi tại sao vào mới biết ra ở
Việt Bắc thiếu cái ăn quá, tác giả Thơ thơ “du” Thanh Nghệ để tìm cách
cải thiện sức khỏe. Mối quan hệ giữa người và miếng ăn là một đặc điểm
của thời đại.
Ngoài sự ăn, trong may mặc, đi lại và cả trong vui chơi giải trí
nữa, con người lúc ấy cũng ở vào tình trạng tương tự. Những câu nhại
Truyện Kiều: “Bắt ở trần phải ở trần, cho may ô mới được phần may ô”
lan ra như cỏ dại, câu này chết đi câu khác lại được truyền tụng. Nói
rằng thiếu thốn còn quá đơn giản, phải nói sự thiếu thốn lúc ấy đã lên
đến mức vượt ra ngoài sự tưởng tượng. Hơn nữa, sự thiếu thốn triền
miên ấy đã in sâu vào tâm lí mọi người và trở nên một cách nghĩ thường
trực, nhìn bên ngoài có chút gì đó kỳ quái, thế mới đáng sợ.
Về mặt sản xuất, chế độ bao cấp mang lại nhiều tai hại, nó tước đi
của xã hội sự năng động và khả năng điều chỉnh tự nhiên. Nhưng không
chỉ có thế, tác động sâu xa mà nó để lại trong đời sống tâm lí và toàn bộ
cách sống của con người cũng là điều đáng để day dứt.
Tchekhov là một nhà văn Nga, rất nhạy cảm với chủ đề nỗi khổ tai
hại tới phẩm chất con người. Qua miệng một nhân vật, nhà văn đã khái
quát: “Những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ, ác độc, thiếu tỉnh táo,
nghiệt ngã và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn”
Xa xôi thôn Ngựa Già là tập truyện phản ánh cuộc sống thông qua
các nhân vật với những tính cách như là đặc sản của chế độ bao cấp.
Người đọc sẽ khó quên hình ảnh ông Tương Bằng trong Thắp một
tuần hương, đã từng là “tấm gương trung thành liêm chính vằng vặc như


19

ông không may đồ mà để dành “Mình già rồi, vải được thưởng để đấy,
có chết con cái còn lấy vải đó may cho chúng được, chứ còn đã thành
quần áo rồi thì đứa nào nó chịu mặc”. Những ngày tháng thiếu thốn đã
làm cho ông Lâm luôn lo lắng, sợ sệt.
Đồng thời với việc tác động vào tâm tính con người, những ngày
bao cấp còn làm cho mối quan hệ giữa người với người biến dạng, sự
biến dạng này mỗi ngày một ít đến mức người trong cuộc khó nhận ra,
nhưng rồi cuối cùng vẫn hằn lên thành quy tắc rõ ràng. Nếu như thời
gian đầu,giữa người với người có sự chia sẻ ngọt bùi thì càng về sau
(nhất là từ những năm 1975 trở đi) một lối sống nổi lên và đóng vai trò
chi phối. Trong cảnh nghèo rỗi rãi, người ta rất hay soi mói, để ý đồng
nghiệp và hàng xóm. Nghi ngờ xen lẫn ghen tị. Nghi ngờ: “đói ăn vụng
túng làm càn” ai cũng một lần da đến ruột, ai cũng sẵn sàng làm bậy như
mình thôi. Và ghen tị, ghen tị một cách tự nhiên, thậm chí không biết
rằng đang làm một hành động độc ác.
Trong truyện Người khổ nhất trần gian, người phụ nữ là vợ Lân
khi biết tin hàng xóm của mình là Nội được cử đi Pari công tác một
nhiệm kỳ 5 năm đã ghen tỵ: “làm sao có thể vô tư khi mình thì quá khổ
mà người khác lại cứ nhơn nhơn sung sướng được!”. Vợ Lân là như thế,
từ hôm được tin Nội được cử sang Pari công tác một nhiệm kỳ những 5
năm, mặt y cứ lầm lầm và hễ có dịp là y sổ ra, toàn những lời tức tưởi đố
kỵ âm ỉ sẵn ở trong lòng” người phụ nữ ấy từ cuộc sống khó khăn của
mình nên trở thành người hẹp hòi, có tính ghen tỵ và thiển cận. Cũng từ
chuyến công tác của Nội, Ma văn Kháng đã đặt ra câu hỏi trong
truyện Ai khổ hơn ai? qua việc so sánh cuộc sống giữa hai người hàng
xóm là Nội và Lân để thấy rằng “cuộc đời còn biết bao là oái oăm bí ẩn
đến quái đản”.


21

Ma văn Kháng cho rằng: “Một con người là một cá thể hữu hạn
nhưng cũng là cái vô hạn vô cùng”, tức là con người cá nhân lưỡng diện,
đa chiều luôn tồn tại hai mặt tốt xấu, con người không trùng khít với
chính nó, vừa mang bản chất tự nhiên vừa chịu tác động bởi môi trường
xã hội. Phản ánh sự xuống cấp về mặt nhân cách do sự đảo lộn các giá trị
chuẩn của cuộc sống trong buổi giao thời. Đó là sự chao đảo biến dạng
những giá trị đạo đức của truyền thống gia đình, là lối sống vụ lợi, thực
dụng đến trắng trợn giữa người với người. Tất cả đang rơi vào hỗn tạp
biến dạng khiến cho cuộc sống chao đảo bất an, con người trong xã hội
ấy, đặc biệt là những con người có tâm huyết có trách nhiệm với cuộc
đời đều lâm vào bi kịch. Bị chà đạp, bị vùi dập, bị rơi vào khủng hoảng
niềm tin và bế tắc không lối thoát.
Trong truyện Cánh bướm tím, Ma văn Kháng đã viết về cuộc
sống một gia đình khi người cha là ông Lâm qua đời sau bao hy sinh và
vất vả để các con của ông khôn lớn và trưởng thành. Thoan con gái út
trong gia đình hồi tưởng về khoảng thời gian cha lâm bệnh nặng, nằm
cấp cứu trong bệnh viện. Hai người con trai và hai cô con dâu của ông
mãi lo cho công việc kiếm tiền, đi lễ chùa và đi du lịch mà không thể gặp
mặt cha lần cuối mà thay vào đó là những lời trách móc: “Khốn nạn thế!
Tiêu chuẩn của cụ đáng lẽ phải là A1 bệnh viện cao cấp, chứ đâu có phải
cái xó nhà thương bình dân ấy”. Và khi biết được nguyên nhân cái chết
của cụ: “ Vỡ tim! Ngu đến thế là cùng! Anh cả Lễ kêu trời trong điện
thoại khi gọi cho anh hai Nghĩa. Anh bảo tim cụ, động mạch vành của cụ
trục trặc từ lâu, lại không chịu đi chữa, vì còn mải gây gổ, kiện tụng với
thằng cha lãnh đạo nọ. Dở hơi, gàn quái quá chừng. Nó chẳng qua cũng
là một bãi cứt trong một đống cứt lớn ở nhà xí, thối thì thối chung chứ
riêng gì cụ ngửi mà cụ uất tức. Hai anh trai của Thoan nhất trí cho rằng
cha Thoan là kẻ không thức thời dể thiệt thân!”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status