Đề tài:NGHIÊN CỨU VÀ ĐO LƯỜNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
--------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
NGHIÊN CỨU VÀ ĐO LƯỜNG BỘ BA BẤT KHẢ THI
Ở VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
Sinh viên thực hiện: LƯ KIỀU HẠNH
Lớp: TC11 – Khóa: 33
MSSV: 107207110

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011

LỜI GIỚI THIỆU


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Lí thuyết bộ ba bất khả thi từ lúc ra đời cho đến ngày hôm nay luôn là đề tài nghiên
cứu nhận được nhiều sự quan tâm. Bắt đầu từ mô hình cơ bản-mô hình MundellFleming- do hai giáo sư Robert Mundell và J.M.Fleming đặt những viên gạch đầu tiên,
sau đó lí thuyết bộ ba bất khả thi được mở rộng qua nghiên cứu của Yigang và
Tangxian hay được nâng lên thành thuyết tứ diện trong nghiên cứu của Goubing Shen
và gần đây là những nghiên cứu định lượng cho bộ ba bất khả thi. Chúng ta có thể dễ
dàng nhận thấy mức ảnh hưởng của bộ ba bất khả thi đến nền kinh tế nên việc nghiên
cứu lí thuyết này là việc rất cần thiết. Những ứng xử không đúng với bộ ba sẽ làm nền

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI.........................................5
1.1Khái niệm bộ ba bất khả thi..............................................................................................5
1.2Những phát triển của lý thuyết bộ ba bất khả thi trong những thập niên vừa qua..........6
1.2.1Mô hình Mundell-Fleming (mô hình nền tảng)........................................................6
1.2.2Các mở rộng mang tính trung gian của bộ ba bất khả thi......................................11
1.3Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối.............................................................................15
1.3.1Mô hình tài chính bất định của Maurice Obstsefd, Jay C.Shambaugh, Alan
M.Taylor (2007)................................................................................................................15
1.3.2Tiền tệ độc lập và vai trò của dự trữ ngoại hối.......................................................16

CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM.......................18
2.1 Cơ sở xây dựng phương pháp đo lường...........................................................................18
2.1.1Chỉ số tiền tệ độc lập...............................................................................................18
2.1.2Tỷ giá cố định.............................................................................................................21
2.1.3Độ mở của tài chính..................................................................................................23
2.2Đo lường bộ ba bất khả thi cho Việt Nam...................................................................27
2.2.1Tự do hóa dòng vốn...................................................................................................27
2.2.2Ổn định tỷ giá..............................................................................................................28
2.2.3Tiền tệ độc lập..........................................................................................................28

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HỒI QUY......................................................................32
3.1 Xây dựng hàm hồi quy giữa các biến kinh tế vĩ mô và các yếu tố của bộ ba bất khả thi 32
3.1.1 Mô hình cơ bản.......................................................................................................32
3.1.2Các biến của mô hình – Dữ liệu hồi quy.................................................................33
3.2Kết quả ước lượng mô hình – Kết luận.......................................................................34
3.2.1Mô hình thực nghiệm...............................................................................................34
3.2.2Sản lượng quốc gia và bộ ba bất khả thi.................................................................35
3.2.3Lạm phát và bộ ba bất khả thi....................................................................................38

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT.............................................................................................41


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI
1.1

Khái niệm bộ ba bất khả thi
Bộ ba bất khả thi không phải là một khái niệm mới mẻ trong kinh tế học. Bộ ba

bất khả thi với vai trò là một trong những lý thuyết tài chính quốc tế nền tảng, đã được
đề cập từ rất sớm trong khoảng thập niên 60. Và khi nền kinh tế thế giới càng phát triển
đi kèm với nó là xu hướng hợp tác quốc tế hay nói cách khác là xu hướng toàn cầu hóa,
nền kinh tế của một quốc gia không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia,
sự phát triển của quốc gia phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố quốc tế, thì khi đó lý thuyết
bộ ba bất khả thi càng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn.
Trải qua hơn 5 thập kỷ, lý thuyết bộ ba bất khả thi đã được bổ sung thêm nhiều
nhân tố nhằm phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế thế giới,
chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề này ở phần sau. Tuy nhiên, nội dung cơ bản của lý
thuyết vẫn bao gồm ba yếu tố chính hay còn gọi là ba cạnh của tam giác, đó là tỷ giá,
chính sách tiền tệ và dòng vốn ra vào của quốc gia. Lý thuyết bộ ba bất khả thi phát
biểu như sau: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện được 3 mục tiêu kinh tế vĩ
mô:
 Tự do hóa dòng vốn.
 Cố định tỷ giá.
 Chính sách tiền tệ độc lập.

5


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

• Y=C + Y +G + NX (đường IS)
Trong đó: Y là GDP, C là tiêu dùng, I là đầu tư quốc gia, G là chi tiêu chính
phủ, NX là xuất khẩu ròng.
• M/P = L(i.Y) ( đường LM)
Trong đó: M là cung tiền quốc gia, P là mức giá trung bình, I là lãi suất.
• BoP = CA+KA ( đường BoP)
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai, KA là tài khoản vốn.
• C=C(Y-T,i-E(π))
Trong đó: T là thuế suất, E(π) là lạm phát dự đoán.
• I=I(i-E(π),Y-1)
Trong đó: Y-1 là GDP năm trước.
• NX= NX(e,Y,Y*)
7


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Trong đó: e là tỷ giá hối đoái, Y* GDP của nước ngoài.
• CA=NX
• KA=z(i-i*)+k
Trong đó: z là mức độ tự do hóa vốn, i* là lãi suất nước ngoài.
Mô hình này kiểm tra tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ đến sản lượng
quốc gia trong mối quan hệ với cán cân thanh toán trong hai trường hợp của chính sách
tỷ giá: tỷ giá hối đoái thả nổi và tỷ giá hối đoái cố định.
Trường hợp 1: tỷ giá thả nổi hoàn toàn

IS"



Y

Bắt đầu từ điểm cân bằng E, giao điểm của 3 đường IS, LM và BP. Lúc này có
sự cân bằng trên cả thị trường hàng hóa lẫn tiền tệ và cán cân thanh toán không thặng
dư cũng không thâm hụt. Sau đây, mô hình Mundell-Fleming sẽ chỉ ra tác động của
những thay đổi trong chính sách tài khóa và tiền tệ đến cán cân thanh toán khi mà tỷ
giá thả nổi hoàn toàn.
8


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

*Thay đổi trong chính sách tài khóa: giả sử chính phủ áp dụng chính sách tài
khóa mở rộng, khi đó đường IS sẽ dịch chuyển sang phải nằm ở vị trí đưởng IS’’, cân
bằng sẽ đạt tại điểm có lãi suất cao hơn tức là di chuyển từ điểm E ban đầu sang điểm
G. Điểm G nằm phía trên đường BP điều đó có nghĩa là lúc này cán cân thanh toán
thặng dư. Tuy nhiên cán cân thanh toán thặng dư sẽ khiến giá trị đồng nội tệ tăng lên.
Đồng nội tệ tăng giá sẽ gây ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu hay nói cách khác việc lên
giá của đồng nội tệ sẽ tác động ngược lại đường BP, đường BP sẽ dịch chuyển sang
trái thành đường BP” và đường IS dịch chuyển sang trái thành đường IS’. Điểm cân
bằng mới đạt tại điểm K. Sản lượng quốc gia ứng với điểm K là Yk*, thấp hơn mức
sản lượng tại điểm G. Như vậy chúng ta có thể thấy, trong điều kiện tỷ giá thả nổi,
chính sách tài khóa ít hiệu quả làm tăng sản lượng quốc gia.
*Thay đổi trong chính sách tiền tệ: giả sử chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ
mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải thành đường LM’, cân bằng sẽ đạt tại điểm
có lãi suất thấp hơn, nằm phía dưới điểm E. Lúc này cán cân thanh toán thâm hụt, hay
nói cách khác dư cầu ngoại tệ và giảm cung ngoại tệ làm cho tỷ giá tăng lên. Sau khi tỷ

H

E

BP < 0
r*

O

Y

Y*

*Thay đổi trong chính sách tiền tệ: Chính phủ khó có thể thực hiện chính sách
tiền tệ như trong trường hợp 1 bởi vì: giả sử chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ mở
rộng, đường LM dịch chuyển sang phải, áp lực của việc tăng cung tiền sẽ làm tăng tỷ
giá hối đoái. Ngay lập tức để duy trì tỷ giá hối đoái, chính phủ phải rút bớt đồng nội tệ
hay nói cách khác không thực hiện được chính sách tiền tệ mở rộng. Như vậy, cân
bằng sẽ quay về vị trí cũ hay chính sách tiền tệ không có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu
trong trường hợp này, chính phủ sử dụng “chính sách vô hiệu hóa” thì kết quả sẽ khác.
Lúc đầu, chính phủ tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển thành LM’, sau đó lại phải
bán ngoại tệ ra thu nội tệ về để duy trì tỷ giá, đường LM’ dịch chuyển về vị trí cũ.
Chính phủ sẽ thực hiện mua lại các chứng khoán trên thị trường mở có giá trị đúng
bằng lượng nội tệ đã giảm nhằm duy trì cân bằng tại vị trí F.
Một trường hợp khác của chính sách vô hiệu hóa là khi cung ngoại tệ tăng, tỷ
giá sẽ giảm.Và để duy trì tỷ giá,ngân hàng trung ương sẽ tung nội tệ mua ngoại tệ. Sau
10


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

A1

M

Ev

Ms

E

O
Mh
Kc
A2

A3
K

Bắt đầu từ tam giác bất khả thi với cạnh A1A2 là cạnh chính sách tiền tệ độc lập
hoàn toàn, cạnh A1A3 là cạnh tỷ giá cố định, cạnh A2A3 là cạnh tự do hóa dòng vốn
hoàn toàn. Trên 3 cạnh đó tác giả đặt thêm các điểm M,E,K như hình bên trên. Điểm
mấu chốt trong lý thuyết này là điểm O nằm bên trong tam giác. Điểm O có thể di
chuyển bên trong tam giác. Chúng ta có khoảng cách từ O đến các điểm M,K,E lần
lượt là Ms, Kc và Ev tượng trưng cho mức độ độc lập tiền tệ (Ms), mức độ cố định tỷ
giá (Ev) và mức độ tự do hóa tài chính (Kc). Giả sử Ms, Kc, Ev nằm trong khoảng từ 0

nước ngoài bằng đồng nội tệ vào để nghiên cứu tác động của nó đến bộ ba bất khả thi.
Nhưng khác với Hausmann, Guobing Shen đã bỏ qua mối quan hệ nội sinh giữa khả
năng vay mượn nước ngoài với tỷ giá bởi vì tác giả nhận thấy giữa khả năng vay mượn
nước ngoài và tỷ giá không đơn giản là quan hệ tuyến tính mà là phức tạp hơn. Ngoài
ra, Guobing Shen còn nhận thấy khả năng vay mượn nước ngoài còn ảnh hưởng đến
chinh sách tiền tệ và kiểm soát vốn. Chính vì thế mà tác giả đã đưa cả 4 nhân tố vào
mô hình trở thành một tứ diện như hình sau:
A4

E

M

Ms

A1
O
Cb

A2

Ev
K

Kc

C
A3

13

“một nửa” và tự do hóa dòng vốn “một nửa”.

14


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Đây là những kết hợp điển hình của thuyết tứ diện, ngoài ra còn rất nhiều khả năng
khác xảy ra nhưng chúng tôi sẽ không đề cập trong bài viết này. Và chúng ta cũng thấy
rằng bộ ba bất khả thi cũng như thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian là 1
trường hợp của thuyết tứ diện.

1.3

Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối

1.3.1 Mô hình tài chính bất định của Maurice Obstsefd, Jay C.Shambaugh, Alan
M.Taylor (2007)
Chúng ta phải thừa nhận rằng rất dễ nhận thấy rằng giữa bộ ba bất khả thi và dự
trữ ngoại hối có mối liên hệ mật thiết. Những thay đổi dù nhỏ trong mức độ độc lập
tiền tệ hay tỷ giá cố định đều làm cho dự trữ quốc gia thay đổi theo. Tuy nhiên, một
điều rất đáng lưu ý khi nhắc đến mối quan hệ giữa 4 nhân tố này là khả năng duy trì
tình trạng khả thi của bộ ba bất khả thi. Với quỹ dự trữ khổng lồ, quốc gia có thể duy
trì được chính sách tiền tệ độc lập khi dòng vốn tràn vào thị trường trong nước mà tỷ
giá vẫn không bị ảnh hưởng. Dự trữ ngoại hối đã không ít lần xuất hiện khi nhắc đến
các nhân tố của bộ ba trong các bài nghiên cứu của nhiều tác giả nhưng cũng chỉ là
định tính và lý thuyết. Một nghiên cứu hẳn hoi về mối liên hệ giữa bốn nhân tố này chỉ
có trong bài nghiên cứu của Maurice Obstsefd, Jay C.Shambaugh, Alan M.Taylor. Các

mô hình tức là thay biến mức dự trữ (dự trữ/ GDP) thành biến dự trữ/M0 và thêm các
biến liên quan đến tiền tệ vào danh sách các biến trong mô hình. Tuy nhiên, thực sự nó
vẫn chưa hoàn chỉnh để thay thế cho nhân tố tiền tệ độc lập. Chúng ta có thể lý giải cho
vấn đề này, bởi vì cho đến thời điểm các tác giả viết bài viết này thì chưa xuất hiện bất
cứ bài nghiên cứu nào đưa ra chỉ số đại diện cho tiền tệ độc lập. Cho đến năm 2008,
trong bài nghiên cứu của 3 tác giả Joshua Aizeman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito thì
chỉ số MI (monetary independence) lần đầu tiên xuất hiện.
1.3.2 Tiền tệ độc lập và vai trò của dự trữ ngoại hối.
Trong bài nghiên cứu mới đây của 3 tác giả Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli
Nataraj và Pravakar Sahoo ( 11-2010), mối tương quan giữa dự trữ quốc gia và bộ ba
bất khả thi lại được đề cập. Nhưng nội dung chính trong bài viết này là chú tâm vào
mối quan hệ giữa mức độ độc lập tiền tệ và các nhân tố còn lại trong bộ ba, bên cạnh
đó tác giả đưa dự trữ quốc gia vào phương trình như là biến giải thích cùng với các
biến khác.

2

Một quốc gia được xem là có chế độ tỉ giá “soft peg” nếu tỉ giá của nó dao động trong khoảng ±5% so với quốc
gia chuẩn hoặc mức độ biến động tỉ giá hàng tháng dưới 2%_Theo phân loại của Maurice Obstsefd, Jay
C.Shambaugh, Alan M.Taylor.

16


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Đây là phương trình hồi quy được sử dụng trong bài viết. Trong đó
δ(DIR)/δ(UIR) là biến phụ thuộc và cũng là chỉ số đại diện cho mức độ tiền tệ độc lập;

Xét cho cùng các nghiên cứu đo lường bộ ba bất khả thi cũng là những mở rộng
lý thuyết bộ ba bất khả thi. Các nhân tố của bộ ba giờ đây được đặt lên bàn cân để định
lượng.
2.1.1 Chỉ số tiền tệ độc lập.
Có rất ít các nghiên cứu xây dựng phương pháp tính toán cho chỉ số tiền
tệ độc lập. Bài nghiên cứu đầu tiên xây dựng phương pháp tính toán cho việc đo lường
mức độ độc lập của chính sách tiền tệ ra đời vào năm 2008. Đó là chỉ số MI (monetary
independence) của 3 tác giả Joshua Aizeman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito. Sự hợp tác
của 3 tác giả trong nghiên cứu của mình đã đưa ra phương pháp đo lường tiền tệ độc
lập thông qua chỉ số MI có thể xem là nền tảng cho những nghiên cứu sâu hơn.
MI được tính toán như sau:
18


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Trong đó ii là lãi suất thị trường tiền tệ của quốc gia ( quốc gia 1), ij là lãi suất
của quốc gia (quốc gia 2) được chọn làm chuẩn so sánh. Quốc gia (quốc gia 2) đươc
chọn làm chuẩn là quốc gia mà chính sách tiền tệ của quốc gia 1 có mối liên hệ mật
thiết hoặc bị ảnh hưởng nhiều nhất. MI sẽ có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị của MI càng cao
thì chứng tỏ mức độc lập trong chính sách tiền tệ của quốc gia càng cao.
Bài nghiên cứu của Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli Nataraj và Pravakar
Sahoo (11/2010) đã phân tích kĩ hơn về chỉ số MI của tác giả Joshua Aizeman. MI
được tính toán bằng mối tương quan giữa lãi suất quốc gia và quốc gia làm chuẩn, theo
như Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli Nataraj và Pravakar Sahoo ( 11-2010) nhận xét thì
MI còn khá nhiều thiếu sót. Theo lập luận của các tác giả trong bài viết của mình thì
cách tính của MI sẽ không loại bỏ được những kết luận sai do hiện tượng tương quan
giả giữa 2 mức lãi suất, hoặc MI sẽ không phản ánh được mức độ độc lập nếu lãi suất

Đầu tiên, MI chọn tương quan lãi suất làm chuẩn cho tiền tệ độc lập. Tuy
chính sách tiền tệ không độc lập hay nói cách khác sự thay đổi trong cung tiền
có ảnh hưởng đến lãi suất, nhưng chúng ta cần nhận rõ là lãi suất là biến phụ
thuộc của rất nhiều yếu tố vĩ mô khác. Lấy ví dụ như chính phủ muốn kích đầu
tư của quốc gia thì việc giảm lãi suất cũng là một trong các nhóm giải pháp. Do
đó, lãi suất thay đổi không thể nói lên tiền tệ của quốc gia có mất hay giảm đi
tính độc lập. Hơn nữa, lạm phát của quốc gia cũng là nguyên nhân khiến lãi suất
thay đổi.

20


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Thứ hai, xét trong mối quan hệ với hai nhân tố còn lại trong bộ ba thì
chính sách tiền tệ mất độc lập khi mở cửa tài chính và phải duy trì tỷ giá cố định
thì nhân tố bị ảnh hưởng đầu tiên là cung tiền và song song đó là dự trữ của
quốc gia, vậy tại sao chúng ta không đặt những nhân tố đó vào khi xem xét tính
độc lập của chính sách tiền tệ mà chỉ có tương quan lãi suất.
Cách đo lường của 3 tác giả Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli Nataraj và Pravakar
Sahoo ( 11-2010) theo chúng tôi chưa được thuyết phục. Bởi vì, phương trình
hồi quy để tính toán các hệ số và công thức tính độ nhạy cảm là một, thực chất
chỉ là sự biến đổi qua lại. Như vậy, chúng ta dựa vào các dữ liệu quá khứ tìm ra
các hệ số sau đó lại dùng các hệ số này tính toán cho chỉ số hiện tại. Việc tính
toán như thế này rõ ràng là khập khiễng. Ưu điểm của phương pháp này là đã
đưa dự trữ ngoại hối vào khi nghiên cứu mức độc lập chính sách tiền tệ, tuy
nhiên như đã nhận xét ở trên thì cung tiền mới là biến quan trọng trong việc
phản ánh chính sách tiền tệ.

Để xây dựng chỉ số phản ánh sự ổn định của tỷ giá thì đơn giản hơn so
với chỉ số tiền tệ độc lập. Chúng ta chỉ cần kiểm tra sự biến động của tỷ giá theo thời
gian thông qua độ lệch chuẩn. Chỉ số ERS do Joshua Aizeman, Menzie D. Chinn và
Hiro Ito xây dựng cũng với nguyên tắc trên. ERS được tính như sau:

Giá trị của ERS cũng từ 0 đến 1. ERS càng lớn thì tỷ giá giữa đồng nội tệ so với
đồng tiền của quốc gia làm chuẩn càng ổn định. Chỉ số ERS cũng đơn giản trong tính
toán nhưng đồng thời nó lại phản ánh chính xác sự ổn định hay không của tỷ giá.
Mô hình Frankel-Wei
Chúng tôi sẽ giới thiệu 1 phương pháp khác cũng nhằm ước lượng mức độ cố
định của tỷ giá thông qua phương pháp hồi quy. Ý tưởng cơ bản của phương pháp này
là sử dụng phương trình hồi quy tỷ giá của đồng nội tệ và 1 đồng tiền độc lập với 1rổ
tiền tệ. Phương pháp này được nhắc đến đầu tiên trong bài viết của Haldane và Hall
(1994) sau đó, nó được phổ biến hơn nhờ Frankel và Wei nên đôi khi nó được gọi là
22


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

mô hình Frankel-Wei. Sau Frankel là một số bài viết khác với các mô hình khác nhưng
nói chung là cùng ý tưởng. Các tác giả cũng sử dụng phương trình hồi quy tỷ giá của
đồng nội tệ và 1 đồng tiền độc lập với một rổ tiền tệ nhưng có thể khác nhau ở cách
chọn rổ tiền tệ. Chúng ta sẽ phân tích mô hình này trong bài viết gần đây của Ila
Patnaik, Ajay Shah, Anmol Sethy và Achim Zeileis (8-2010). Phương trình hồi quy
trong bài viết của Ila Patnaik, Ajay Shah, Anmol Sethy và Achim Zeileis (8-2010) như
sau:

Đây là ví dụ tính toán mức độ cố định của tỷ giá đồng Rupee (INR). CHF là một

chỉ số phản ánh độ mở cửa tài chính của quốc gia, đó là de jure và de factor.
De jure là phương pháp tính toán quan tâm nhiều đến chính sách của
quốc gia. Đại diện cho phương pháp này có thể nhắc đến chỉ số Kaopen do Menzei D.
Chinn, Hiro Ito đề xuất. Menzei D. Chinn, Hiro Ito không phải là những người tiên
phong trong việc tìm cách đo lường độ mở cửa thị trường tài chính của quốc gia nhưng
lại thành công trong việc đưa ra phương pháp đo lường ưu việt và được chấp nhận sử
dụng rộng rãi. Đã có rất nhiều nghiên cứu trước Chinn và Ito nhằm định lượng độ mở
cửa tài chính như Edwards hay Klein và Olivei hoặc Mody và Murshid… Tất cả đều
thừa nhận rằng thật khó để đo lường một cách chính xác độ mở cửa hay việc kiểm soát
vốn của một quốc gia. Chúng ta có thể kể đến một số trở ngại chính như sau: bản chất
của việc đo lường dựa vào các chính sách kiểm soát của quốc gia là rất phức tạp, các
nhà nghiên cứu không thể nắm bắt hết tất cả các rào cản. Tuy các nhà nghiên cứu đã
tiến hành phân tách và chia thành các nhóm chính sách nhưng đó cũng giống như
phương pháp chọn mẫu nên các nhóm đó cũng chỉ mang tính đại diện. Kế đến là thiếu
sót về mặt dữ liệu, hầu hết các phương pháp sử dụng dữ liệu của IMF nhưng dữ liệu
của IMF (AREAER - từ viết tắt của Annual Report on Exchange Arrangements and
Exchange Restrictions) cũng có những hạn chế do nó không thể tính đến hết những
nhân tố trong việc kiểm soát vốn của quốc gia.
24


KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ

Hằng năm, Menzei D. Chinn, Hiro Ito dựa vào dữ liệu của IMF tính toán chỉ số
Kaopen (hay còn gọi là chỉ số Chinn-Ito) cho hơn 200 quốc gia trên thế giới, sau đó kết
quả tính toán này được các nhà nghiên cứu kinh tế khác sử dụng vào bài nghiên cứu
của mình. Theo hai tác giả công bố trong các bài viết của mình thì Kaopen được tính
toán từ 4 nhân tố k1, k2, k3, k4 được tổng hợp từ AREAER. K1,k2,k3,k4 là 4 biến giả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status