thực thi vai trò của BHXH và giải pháp để nâng cao vai trò của BHXH ở Việt Nam - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, BHXH xuất hiện cách đây hàng trăm năm. Ngày nay, BHXH đã trở
thành một công cụ hữu hiệu, mang tính xã hội to lớn,mang tính nhân văn sâu sắc để
giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong
quá trình lao động như bị ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, mất việc làm, mất khả năng lao động, già cả hoặc bị chết, bằng việc lập
các quỹ BHXH từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và Nhà nước để trợ
giúp cho họ khi gặp các rủi ro trên. Vì thế, BHXH ngày càng trở thành nền tảng cơ
bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia,của mọi thể chế nhà nước và được thực hiện
ở hầu hết các nước trên thế giới.
Ở nước ta, Đảng và Chính phủ luôn xác định chính sách BHXH là chính sách xã
hội lớn ,có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với cuộc
sống con người:BHXH góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ,ổn
định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp,ổn định chính trị, trật tự an toàn xã
hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc….
Như vậy vai trò to lớn của BHXH là không thể phủ nhận,đó cũng là lý do để em
đi vào tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này, với mục đích:Phân tích làm sáng tỏ vai trò
của BHXH trong đời sống kinh tế xã hội,những thành tựu và hạn chế trong việc thực
thi vai trò của BHXH và giải pháp để nâng cao vai trò của BHXH ở Việt Nam hiện
nay.
Bài viết dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi những sai
sót,khiếm khuyết.Bởi vậy ,kính mong các thầy cô có những nhận xét và đánh giá để
những bài viết sau em hoàn thành tốt hơn.Em xin cảm ơn.

1


I:CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Khái niệm BHXH:
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động khi họ gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất đi khả năng thu nhập từ lao động

những người tham gia, tổn thất của một hay một số người sẽ bị phân tán ,dàn mỏng
theo quy luật “số đông bù số ít”.
Nếu tham gia bảo hiểm, các cá nhân ,tổ chức kinh tế -xã hội sẽ được nhà bảo
hiểm phối hợp quản lý rủi ro, thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất .
Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa đối với những người tham gia, người bảo hiểm mà
còn có ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội và thực chất là góp phần bảo đảm an toàn xã
hội.
Do đặc điểm của bảo hiểm là cần phài có các quỹ dự trữ, dự phòng ,quỹ bồi
thường hoặc chi trả..Khi các loại quỹ này chưa sử dụng đến ,chúng sẽ là nguồn vốn
đầu tư đáng kể góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế.
Bảo hiểm còn làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và tăng cường tích
luỹ xã hội.
Các tổ chức và doanh nghiệp bảo hiểm còn thu hút một lực lượng lao động đáng
kể vào làm việc tạo công ăn việc làm giảm tỉ lệ thât nghiệp cho xã hội
Về phương diện tâm lý bảo hiểm còn là chỗ dựa tinh thần cho những người tham
gia yên tâm trong cuộc sông và trong hoạt động kinh doanh
Thông qua hoạt động tái bảo hiểm,bảo hiểm còn có vai trò to lớn trong việc thúc
đẩy phảt triển quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước trong điều kiện kinh tế hội
nhập để phát triển như hiện nay.
II:VAI TRÒ CỦA BHXH TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI
a,Với người lao động :
Về mục đích có thể nói rằng BHXH là hình thức bảo hiểm thu nhập và cung cấp
các dịch vụ việc làm,chăm sóc y tế thiết yếu cho người lao động và một số thành
viên trong gia đình họ trong các trường hợp ốm đau ,thai sản ,tai nạn nghề nghiệp
,tàn tật ,hưu trí ,tử tuất ,thất nghiệp….trên cơ sở đóng quỹ của người tham gia.Vì
vậy,BHXH có vai trò to lớn đối với người lao động.
Trước hết đó là cho người lao động được cộng đồng tương trợ khi ốm đau ,tai
nạn...đó là một khoản thu nhập được đảm bảo.Khoản thu nhập này cao hơn so với
khoản phí mà họ đã đóng góp.Để làm được điều này,BHXH thực hiện trên cơ sở số
đông bù số ít,tức là lấy số đông người tham gia đóng góp để bù cho số ít người

động, không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời người lao
động cho đến khi già yếu.Như vậy BHXH làm cho quan hệ lao động có tính nhân
văn sâu sắc.

4


BHXH còn giúp cho đơn vị sử dụng lao động ổn định nguồn chi,ngay cả khi có
rủi ro lớn xảy ra thì cũng không lâm vào tình trang nợ nần hay phá sản.Nhờ đó các
chi phí được chủ động hạch toán, ổn định và tạo điều kiện để phát triển không phụ
thuộc nhiều vào hoàn cảnh khách quan.
Tuy nhiên BHXH hầu như không mang lại cá lợi ích trực tiếp nên không phải bao
giờ người sử dụng lao động cũng nhận thức đúng được vai trò của nó.Nếu không tổ
chức BHXH bắt buộc thì nhiều khi,vì những khoản lợi trước mắt mà người sử dụng
lao động cắt xén quyền lợi ,vô trách nhiệm với người lao động.Trong thực tế vẫn còn
rất nhiều doanh nghiệp nhỏ bằng nhiều thủ đoạn luồn lách luật để tránh bị đóng một
khoản tiền BHXH cho nhân viên,công nhân.Đây cũng là bài toán nan giải đối với
ngành BHXH hiện nay.
c, Với xã hội:
Bảo hiểm xã hội có vai trò to lớn ,có những đóng góp quan trọng đối với xã hội,
với tư cách là hình thức chia sẻ rủi ro hữu hiệu, tạo ra nguồn thu nhập thay thế, góp
phần bảo đảm an toàn cuộc sống cho người lao động. Cùng với việc gia tăng quy
mô, “độ bao phủ” các đối tượng tham gia, bảo hiểm xã hội càng khẳng định là trụ
cột quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội.
Vai trò đầu tiên của hình thức bảo hiểm này đối với xã hội là việc tạo ra cơ chế
chia sẻ rủi ro,nâng cao tính cộng đồng xã hội,củng cố truyền thống đoàn kết gắn bó
giữa các thành viên trong xã hội. Điều đó đã thúc đẩy sự ra đời và trở thành lý do tồn
tại của BHXH.Tuy không nhằm mục đích kinh doanh,lợi nhuận nhưng BHXH là
công cụ phân phối,sử dụng nguồn quỹ dự phòng hiệu quả nhất cho việc giảm hậu
quả rủi ro,tạo động lực phát triển kinh té ,xã hội.Thông qua hoạt động BHXH,những

doanh nghiệp,các dự án cần huy động vốn,mang lại lợi ích cho tất cả các bên: người
tham gia bảo hiểm xã hội,cơ quan bảo hiểm xã hội và nền kinh tế xã hội nói chung.
Ở Việt nam,thông qua chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với khu vực chính
thức,BHXH còn góp phần làm cho quá trình từ sản xuất nhỏ tiến nên sản xuất lớn
nhanh chóng hơn.
Với chức năng của mình BHXH là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện
mục tiêu “dân giàu nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ và văn minh”,góp phần ổn
định xã hội,phát triển kinh tế đất nước.

III:THỰC TRẠNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA BHXH.
a,Kết quả đạt được:
6


Kết quả đạt được lớn nhất đó là Luật BHXH có hiệu lực từ năm 2007,Luật Bảo
hiểm xã hội thực sự đi vào cuộc sống, trong đó bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực
hiện từ ngày 1-1-2008 ,bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện từ ngày 1-1-2009,đã
hướng đối tượng phục vụ tới từng người dân, bao gồm gần như toàn bộ lực lượng
lao động 46 triệu người của nước ta hiện nay. Đây là những hình thức bảo hiểm có ý
nghĩa xã hội rất lớn, mở ra cơ hội được thụ hưởng dịch vụ này tới đông đảo người
dân, nhất là bộ phận có thu nhập thấp, vốn phải gánh chịu nhiều rủi ro như: nông
dân, thợ thủ công...,những người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao trong điều nền
kinh tế đang rơi vào khủng hoảng như hiện nay.
Mặt khác tính pháp lý của luật cao và ổn định,giúp người sử dụng lao động và
người lao động yên tâm trong việc đóng góp và hưởng quyền lợi. Trước đây, khi
chưa có luật, chế độ, chính sách BHXH ở nước ta thường xuyên có sự thay đổi, mà
sự thay đổi này bản chất của nó không thuộc về sự điều chỉnh của chính sách BHXH
mà thuộc về sự điều chỉnh của các chính sách xã hội khác như: chính sách ưu đãi
người có công, dân số và kế hoạch hóa gia đình, sắp xếp lại lực lượng lao động tinh
giản biên chế, quy đổi thời gian công tác... những chính sách này đã phá vỡ sự tương

chủ sử dụng lao động. Tất cả các bước giải quyết đều được thực hiện trong cơ chế
một cửa thuộc lộ trình cải cách hành chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Những kết quả nhìn từ các con số:
Nếu như năm 1996 mới có 3,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì
đến năm 2007, con số đó đã lên tới 8,15 triệu người, tăng 2,5 lần so với năm 1996,
chiếm 67% đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.Nếu năm 2007
số lao động tham gia BHXH đạt 8,15 triệu người thì số lao động tham gia BHXH
đến cuối năm 2008 đạt gần 8,50 triệu người.
Lương hưu liên tục được điều chỉnh, trong 3 năm (2003 - 2005) đã điều chỉnh 5
lần, tăng từ 164,8% đến 228,8% so với trước tháng 12-2002.
Trong năm 2007, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã chi trả các chế độ BHXH
nói trên với số kinh phí lên tới 33.951 tỉ đồng, trong đó chi cho chế độ hưu trí là
27.702 tỷ đồng chiếm 81,5% tổng chi. Trong năm có thêm 120.315 người hưởng chế
độ hang tháng, 208.710 người hưởng chế độ một lần, hơn 2 triêu người hưởng trợ
cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 750000 lượt người
hưởng trợ cấp dưỡng sức và 35.000 người qua dời được mai táng phí.Năm 2008 có

8


gần 60 nghìn người hưởng chế độ BHXH hằng tháng, gần 200 nghìn người hưởng
chế độ BHXH một lần và gần 4 triệu lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ
cấp mai táng và hưởng trợ cấp dưỡng sức đã được giải quyết. Với số chi hơn 33
nghìn tỷ đồng, số tiền này góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
b,Khó khăn,hạn chế,tồn tại:
Thứ nhất: Mức độ bao phủ của bảo hiểm xã hội còn thấp, tỷ lệ lao động tham
gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mới chiếm khoảng 16% tổng lao động xã hội và 67%
đối tượng thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.Người về hưu có mức lương
hưu, trợ cấp hưu còn thấp, năm 2006 lương hưu bình quân của công nhân viên chức
là một triệu đồng.Trong khi đó, hiện nay giá cả đang tăng, tỷ lệ lạm phát rất cao,năm

sẽ mất khả năng chi trả.Hiện nay quỹ BHXH được dùng để chi trả cho quá nhiều chế
độ như: thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, lương hưu, tử tuất,
khám sức khoẻ... và vô vàn các khoản chi khác như chi cho quản lý bộ máy và chi
hoạt động đầu tư quỹ. Nhưng mức thu vẫn dừng lại ở con số khiêm tốn 20% mức
lương cơ bản thì hệ quả tất yếu sẽ xảy ra. Nếu vậy, từ năm 2022 trở đi số chi hàng
năm sẽ lớn hơn số thu và sẽ phải sử dụng quỹ BHXH tồn từ những năm trước - đây
chính là sự mất cân đối của quỹ.
Thứ năm: Năng lực chuyên môn, phương pháp làm việc của một số cán bộ công
chức trong ngành còn hạn chế, hành chính, cứng nhắc, chưa đạt mục tiêu phục vụ
người lao động, phục vụ đối tượng làm đích phấn đấu trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ được giao. Việc chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính, thụ động
sang tác phong phục vụ còn chậm, hiệu quả chưa cao và chưa đồng đều trong toàn
ngành; có nơi, có lúc còn gây phiền hà cho đối tượng tham gia và hưởng các chế độ
BHXH,BHYT.
Thứ sáu:Trong bảo hiểm tự nguyện:việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện còn
nhiều khó khăn, xuất phát từ một số nguyên nhân. Thứ nhất, các chế độ của bảo
hiểm tự nguyện ít hơn bảo bắt buộc.Thứ 2,mức đóng còn cao, trong khi thu nhập của
đại đa số người dân còn tấp, không ổn định. Mức đóng thấp nhất bằng 16% mức
lương tối thiểu chung, tương ứng 86.400 đồng (từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một
lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%). Thứ 3,công tác tuyên truyền
đưa vào cuộc sống của bhtn còn hạn chế... dẫn đến nhận thức của người dân về về
vai trò của BHTN còn nhiều hạn chế.Thứ 4,Hiện thời thu nhập của người lao động là
rất khác nhau nên BHXH tự nguyện khó triển khai hơn so với BHXH bắt buộc. Vì
BHXH bắt buộc có thể thu tại cơ quan, doanh nghiệp còn bảo hiểm xã hội tự nguyện
là phải thu của từng người một…..
Thứ bảy: Một số chế độ BHXH đối với người LĐ còn chưa hợp lý; hệ thống chế
độ chính sách BHXH chưa đồng bộ và tính pháp lý chưa cao; quyền lợi của người
LĐ chưa được quan tâm thoả đáng; trong thực hiện còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ
10


trong của hệ thống BHXH Việt Nam theo hướng hình thành các tổ chức dịch vụ bảo
11


hiểm theo từng loại hình bảo hiểm: bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm
thai sản, ốm đau, BHYT, tai nạn lao động…, hoặc nghiên cứu tổ chức theo loại hình
BHXH: bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện (kể cả BHYT tự nguyện).
Thứ năm: Tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, cán bộ
làm công tác BHXH theo hướng có năng lực chuyên môn cao, đạo đức trong sáng và
thái độ phục vụ tận tuỵ, chu đáo, góp phần làm ổn định xã hội, củng cố lòng tin của
nhân dân với Đảng, Nhà nước và đối với bản chất tốt đẹp của các chính sách BHXH.
Thứ sáu: Tiếp tục tổ chức tốt công tác chi trả các chế độ BHXH cho người lao
động và người được thụ hưởng chế độ bảo hiểm theo phương châm "chi đúng, chi
đủ, chi kịp thời đến tay người lao động". Tuyệt đối không để xảy ra mất mát và tiêu
cực trong chi trả dẫn đến nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp. Phải xác định được:
Làm tốt công tác chi trả là một trong những biện pháp tuyên truyền tốt nhất để tăng
nhanh số người tham gia bảo hiểm…Chỉ có như vậy chức năng của BHXH mới
được thực hiện đầy đủ và vai trò của BHXH với đời sống kinh tế xã hội mới được
bảo đảm.

KẾT LUẬN
Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới bắt đầu từ năm 1986 thực hiện quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị
12


trường định hướng XHCN đã đưa ra các nguyên tắc phát triển kinh tế gắn với giải
quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội, trong đó đặt vấn đề phát triển
hệ thống an sinh xã hội (trong đó bảo hiểm xã hội là trụ cột) như một tất yếu đảm
bảo cho các giá trị của CNXH được thể hiện trong quá trình chuyển đổi đầy khó



Trang
Lời mở đầu: ………………………………………………………..
I,Cơ sở lý luận:……………………………………………………...
II,Vai trò của BHXH trong đời sống kinh tế xã hội:………………..
a,Với người lao động:……………………………………………….
b,Với người sử dụng lao động:……………………………………..
c,Với xã hội:………………………………………………………...
III,Thực trạng trong việc thực hiện vai trò của BHXH:…………….
a,Kết quả đạt được:………………………………………………….
b,Khó khăn ,hạn chế,tồn tại:…………………………………………
IV,Những giải pháp nâng nhằm nâng cao vai trò của BHXH:………
Kết luận:……………………………………………………………..
Tài liệu tham khảo:………………………………………………….

15

1
2
3
3
4
5
7
7
9
11
13
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status