CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀINGUYÊN KHOÁNG SẢN RẮN Ở VIỆT NAM - Pdf 33

Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HN
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

ĐỀ TÀI

“CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI
NGUYÊN KHOÁNG SẢN RẮN Ở VIỆT NAM”

Giảng viên hướng dẫn:

PGS, TS Phan Huy Đường

Thực hiện:

Nhóm 3 - Lớp Quản lý kinh tế 3 khoá 21

1. Vũ Sỹ Đức Thắng

6. Lê Hồng Phúc

2. Nguyễn Thái Sơn

7. Đoàn Thanh Sơn

3. Nguyễn Tất Tài

8. Nguyễn Thị Ngọc Hà

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY......................................................................................................22
1. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản...............................................22
1.1. Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản rắn ở Trung ương................................22
1.1.1 Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT).......................................................22
1.1.2. Bộ Công thương, Bộ Xây dựng......................................................................23
1.1.3. Tổng cục Địa chất và Khoáng sản (ĐC&KS) Việt Nam................................24
1.1.4. Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản......................................................28
1.2. Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản rắn ở địa phương................................28
1.2.1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương........................28
1.2.2. Sở Tài nguyên và Môi trường........................................................................30
1.2.3. Sở Công thương..............................................................................................32
1.2.4. Sở Xây dựng...................................................................................................32
1.2.5. Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã...............................................................33
1.2.6. Phòng Tài nguyên và Môi trường...................................................................33
2. Công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản hiện nay..................................34
2.1. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (QPPL).....................................34
2.2 Công tác điều tra thăm dò.......................................................................................37
2.3 Công tác lập quy hoạch, chiến lược.......................................................................44
2.4. Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản.............................................................44
2.5. Công tác thanh, kiểm tra hoạt động khoáng sản....................................................44
3. Thành tựu và hạn chế của việc sử dụng khoáng sản rắn vào sự phát triển kinh tế đất
nước..................................................................................................................................46
3.1. Đối với nhóm khoáng sản than:.............................................................................46
3.2. Đối với nhóm khoáng sản phóng xạ:.....................................................................48
3.3. Đối với nhóm khoáng sản kim loại:......................................................................49
3.4. Đối với nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường:.................................53
4. Những bất cập trong công tác quản lý tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam hiện
nay....................................................................................................................................56
4.1. Những bất cập trong chính sách............................................................................57
4.2. Những bất cập trong tổ chức thực hiện.................................................................60


Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

MỞ ĐẦU
Trong hơn nửa thế kỷ qua nhu cầu về tài nguyên khoáng sản trên thế giới là rất
lớn, dẫn đến tình trạng khai thác và sử dụng cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, để lại
nhiều hậu quả nghiêm trọng về xã hội và môi trường ở vùng khai thác khoáng sản của
nhiều nước trên thế giới. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những
điều chỉnh chính sách và hoạt động quản lý nhắm khai thác và sử dụng hiệu quả
nguồn tài nguyên này đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai. So với các
nước trong khu vực, Việt Nam được coi là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản khá
phong phú, với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác
nhau. Nhìn chung: Tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại nhưng
tiềm năng hạn chế. Các loại khoáng sản có giá trị, được thị trường thế giới ưa chuộng
thì nước ta không có nhiều (như vàng, bạc…) hoặc đã khai thác gần như cạn kiệt (như
dầu mỏ, than). Những loại khoáng sản chúng ta có nhiều (như bauxite, ilminite, đất
hiếm…) một mặt chưa được đánh giá một cách đầy đủ, mặt khác các loại khoáng sản
này trên thế giới cũng có nhiều, nhu cầu tiêu thụ lại không cao, còn có thể sử dụng
trong hàng trăm năm tới.
Sau khi Luật khoáng sản ra đời năm 1996, bên cạnh những đóng góp tích cực
cho sự phát triển của kinh tế đất nước, công tác quản lý và khai thác khoáng sản ở
Việt nam cũng đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, tiêu cực đòi hỏi chúng ta phải có những
thay đổi về cơ chế, chính sách để công tác quản lý nhà nước về khoáng sản được cải
thiện góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước được nhiều hơn nữa. Chính
vì vậy, ngày 25/4/2011 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về định
hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn
đến 2030. Cùng với đó, ngày 22/12/2011, thủ tướng chính phủ đã ban hành nghị quyết
103/ NQ – CP về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ và quyết định
2427/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030.


Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN RẮN Ở VIỆT NAM
1. Một số khái niệm:
- Khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự
nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này
có thể được khai thác. Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể
được khai thác lại, cũng là khoáng sản.
- Điều tra cơ bản địa chất là hoạt động nghiên cứu, điều tra về cấu trúc, thành phần
vật chất, lịch sử phát sinh, phát triển vỏ Trái Đất và các điều kiện, quy luật sinh
khoáng liên quan.
- Điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản là việc đánh giá tổng quan tiềm
năng tài nguyên khoáng sản trên cơ sở điều tra cơ bản địa chất, làm căn cứ khoa học
cho việc định hướng các hoạt động khảo sát, thăm dò khoáng sản.
- Khảo sát khoáng sản là hoạt động nghiên cứu tư liệu địa chất về tài nguyên khoáng
sản, khảo sát thực địa nhằm khoanh định khu vực có triển vọng để thăm dò khoáng
sản.
- Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm tìm kiếm, phát hiện, xác định trữ lượng, chất
lượng khoáng sản, điều kiện kỹ thuật khai thác, kể cả việc lấy, thử nghiệm mẫu công
nghệ và nghiên cứu khả thi về khai thác khoáng sản.
- Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các
hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu khoáng sản.
- Chế biến khoáng sản là hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản, hoạt động khác

khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển
mạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm
nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam
cùng với các kết qủa nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước Cách mạng tháng
8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có gần 5.000 điểm mỏ và tụ khoáng

Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến
khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng.
Có thể chia khoáng sản ở Việt Nam thành 4 nhóm như sau:

2.1. Nhóm khoáng sản năng lượng gồm có dầu khí, than khoáng, urani và
địa nhiệt
2.1.1. Về dầu khí: Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể. Tiềm năng và trữ lượng
dầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300
tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có
khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi.
Dầu khí đã được phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chỉ sau năm 1984,
ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có bước đi vững chắc, ngày càng góp nhiều
vào việc tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Dầu khí được tập trung ở các bể trầm tích
Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư Chính, Vũng
Mây, Trường Sa. Đến nay, đã có 37 Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa
Petro Vietnam và các đối tác nước ngoài nhằm thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục
địa Việt Nam. Tổng diện tích các lô đã được ký hợp đồng thăm dò vào khoảng

sâu 1700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu 3500m thì
dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn.
Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùng sông Đà và
vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần 80 triệu tấn.
Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh,
Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn. Bể than
Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh đã được
khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Bể than Antraxit Quảng Ninh: Nằm về phía Đông Bắc Việt Nam, kéo dài từ
Phả Lại qua Đông Triều đến Hòn Gai- Cẩm Phả - Mông Dương- Cái Bầu- Vạn Hoa
dài khoảng 130 Km, rộng từ 10 đến 30 Km, có tổng trữ lượng khoảng 10,5 tỉ tấn,
trong đó: tính đến mức cao -300m là 3,5 tỉ tấn đã được tìm kiếm thăm dò tương đối
chi tiết, là đối tượng cho thiết kế và khai thác hiện nay, tính đến mức cao -1000m có
trữ lượng dự báo khoảng 7 tỉ tấn đang được đầu tư tìm kiếm thăm dò. Than Antraxit
Quảng Ninh có chất lượng tốt, phân bố gần các cảng biển, đầu mối giao thông... rất
thuận lợi cho khai thác và tiêu thụ sản phẩm. Than Antraxit Quảng Ninh đã được triều
đình nhà Nguyễn khai thác từ năm 1820 và người Pháp khai thác từ năm 1888-1955.
Từ năm 1955 đến nay do chính phủ Việt Nam quản lý và khai thác. Than Antraxit
Việt Nam đã nổi tiếng thế giới với tên thương mại 'Hòngay Antraxit'.
Bể than Đồng bằng sông Hồng: Nằm trọn trong vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng, có đỉnh là Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển kéo dài từ Ninh Bình đến
Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

Hải Phòng, thuộc các tỉnh thành phố: Thía Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng,
Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Sơn Tây, Hà Nam, Phủ Lý, Phúc Yên, Vĩnh Yên và dự

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

41 đến 60 độ C), 36 nguồn có nhiệt độ rất cao (từ61 – 100 độ C) và 64 nguồn nước ấm
(30 – 40 độ C).
Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nhiều
nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long. Tiềm năng địa
nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thể coi là nguồn năng lượng bổ sung cho các
nguồn năng lượng truyền thống phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước.

2.2. Nhóm khoáng sản kim loại
Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt,
nickel, nhôm, thiếc, vonfram, bismut, molybden, lithi, đất hiếm, vàng, bạc, platin,
tantal-niobi v.v... Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ
lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxit (quặng nhôm), đất hiếm, titan, wolfram, crôm…
Bauxit có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit.
- Diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn,
Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần 200 triệu tấn.
- Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên
với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn (Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công bố sách hàng hoá
khoáng sản thế giới và xếp bauxit Việt nam đứng hàng thứ 3 thế giới sau Guinea 7,4
tỷ tấn và Australia 6,2 tỷ tấn). Hiện bauxit đang được khai thác thử nghiệm để sản
xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông.
Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ
lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và
Mỹ (13 triệu tấn). Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng.
Quặng titan (Ilmenit) ở Việt nam có 3 loại: quặng gốc trong đá xâm nhập
mafic,

quặng

Nguyên

với

tài

nguyên

dự

báo

đạt

2,5

triệu

tấn.

Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu. Đặc biệt
ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu có
Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn. Ngoài khoáng vật ilmenit,

lượng đạt gần 20 triệu tấn.
Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

Sắt. Cho đến nay trên lãnh thổ Việt Nam đã ghi nhận được hơn 300 mỏ và
điểm quặng sắt, chủ yếu tập trung ở phía bắc như: Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên,
Hà Giang, Hà Tĩnh. So sánh với bảng phân loại trữ lượng hiện đang được sử dụng ở
một số nước đang phát triển và phát triển trong khu vực, Việt Nam có 2 mỏ thuộc loại
trữ lượng trung bình là Thạch Khê và Quý Xa. Mỏ sắt Thạch Khê là mỏ có trữ lượng
lớn nhất đã được thăm dò. Mỏ nằm ven biển, cách Hà Tĩnh 7 km. Qua phân tích hoá
học cho thấy kết quả như sau: Fe= 61,35%; Mn= 0,207%; SiO2= 5,4%; Al2O3=
1,79%; CaO= 0,86%; MgO= 1,20%; TiO2= 0,27%; P= 0,04% và S= 0,148%. Trữ
lượng của mỏ Thạch Khê là 544 triệu tấn. Mỏ có thể được khai thác lộ thiên với chiều
sâu đến –120m so với mặt nước biển.
Mỏ sắt lớn thứ hai ở Việt Nam là mỏ sắt Quý Xa với trữ lượng 119 triệu tấn. Mỏ nằm
ở bờ phải Sông Hồng thuộc tỉnh Lào Cai. Phân tích hoá học cho kết quả như sau: Fe54 đến 55%; Mn- 3%; SiO2- 1,7%; Al2O3- 1,7 đến 3%%; CaO- 0,25% và S- 0,025%.
Bauxit. Các mỏ và điểm quặng bauxit Việt Nam phân bố chủ yếu ở đông Bắc
Bắc Bộ và phía nam. Xét về nguồn gốc, quặng bauxit thuộc 2 loại chính là trầm tích
(một số bị biến chất) và phong hoá laterit từ đá bazan.
Các mỏ thuộc nguồn gốc trầm tích phân bố ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang,
Hải Dương, Nghệ An. Trong số này cụm mỏ ở Lạng Sơn có quy mô trữ lượng lớn,
chất lượng tốt và có giá trị công nghiệp. Cụm mỏ Lạng Sơn có 36 mỏ và điểm quặng
chủ yếu thuộc loại eluvi- deluvi. Bauxit có thành phần khoáng vật chủ yếu là diaspor
(60-70%), bơmit (20-30%) và ít gipxsit. Tinh quặng bauxit có hàm lượng Al2O3=
44,65-58,84%; SiO2= 6,4-19,2%; Fe2O3= 21,32-27,35%; TiO2= 2-4,5%. Tổng trữ
lượng ước tính khoảng vài trăm triệu tấn.

nghìn tấn SnO2 và 1,5 nghìn tấn WO3.
Khu vực Tam Đảo cách Hà Nội 130 km về phía bắc. Đây là vùng có diện tích khoảng
1.500 km2 kéo dài theo hướng hướng tây bắc- đông nam. Tổng trữ lượng ước tính là
13.582 tấn SnO2 với hàm lượng 273 g SnO2/m3. Những kết quả thăm dò cho thấy
tiềm năng sơ bộ của khu vực Tam Đảo là đầy hứa hẹn với thiếc, vonfam và các
nguyên tố hợp khác như bitmut và berili. Trữ lượng quặng gốc ở khu vực Tam Đảo là
45.000 tấn Sn, 45.000 tấn WO3; 17.000 tấn Be và 30.000 tấn Bi.
Khu vực Quỳ Hợp nằm ở phần phía tây của tỉnh Nghệ Tĩnh, cách Hà Nội 250 km về
phía nam. Vùng này có trữ lượng tổng cộng là 36.000 tấn cassiterite. Trữ lượng quặng
gốc ước tính của khu mỏ tổng cộng là 2.065 tấn thiếc.
Vùng Đa Chay nằm cách Đà Lạt khoảng 30 km về phía đông bắc. Trữ lượng ước tính
của vùng này là 40,000 tấn Sn và 20.000 tấn WO3.
Vàng. Vàng là một trong những khoáng sản có diện phân bố rộng nhất Việt
Nam, có nhiều nguồn gốc và quặng hoá khác nhau. Vàng tập trung chủ yếu ở phần rìa
vùng trũng Sông hiến (Pắc Lạng, Nà Pái), dọc theo các đứt gãy sâu sông Hồng, sông
Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

Đà, sông Mã, hoặc ở phần rìa các khối nâng Hoà Bình (mỏ Kim Bôi), Kon Tum (mỏ
Bồng Miêu, Trà Năng, Suối Ty).
- Vàng sa khoáng có liên quan chặt chẽ với các thành tạo trầm tích sông, suối. Trữ
lượng dao động từ 200-400 kg mỗi mỏ. Hàm lượng trung bình khoảng 0,31-2,95
g/m3. Cho đến nay đã phát hiện khoảng 150 mỏ và điểm quặng. Trữ lượng ước tính
5.000 kg và dự báo 11.000 kg.
- Vàng gốc phát triển chủ yếu trong một số kiểu thành hệ khoáng hoá như: thạch anhvàng (mỏ Bồ Cu- Thái Nguyên); Thạch anh- sunfua-vàng (Pắc Lạng, Trà Năng, Bồng
Miêu); vàng- bạc (Nà Pái, Xà Khía). Hàm lượng trung bình ở các mỏ từ vài g/t đến

tích chứa đá vôi gần 30.000 km2 với 96 mỏ, khu vực đã được tìm kiếm và thăm dò.
Trong đó có 28 mỏ có trữ lượng lớn (trữ lượng > 100 triệu tấn/1 mỏ); 17 mỏ vừa (trữ
lượng 20- 100 triệu tấn/1 mỏ) và 54 mỏ nhỏ (trữ lượng < 20 triệu tấn/1 mỏ).
Ngoài các loại khoáng sản kể trên, nước ta còn phát hiện nhóm đá quý ruby,
saphia, peridot, kaolin, secpentin, graphit, bentonit… nhưng trữ lượng không lớn.
Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An có chất lượng cao được thế giới đánh giá đạt chất
lượng quốc tế, tương đương với ruby nổi tiếng của Myanmar.
Điểm qua về tiềm năng khoáng sản của đất nước ta kể trên, nếu so sánh với các
nước ở trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, thì thấy rằng: nước ta tuy có diện tích
đất liền không lớn, nhưng có vị trí địa chất, địa lý thuận lợi cho sự sinh thành và phát
triển khoáng sản. Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào
hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể.

Bảng tổng hợp hiện trạng tài nguyên khoáng sản đã điều tra thăm dò ở
Việt Nam:

Khoáng sản

Đơn vị tính

Tổng tài
nguyên

Trữ lượng
đã được

Bauxit laterit

Triệu tấn



15,71

Cát thủy tinh

Triệu tấn

1.028

301

Đá vôi

Triệu tấn

Rất lớn

10.692

Phân bổ
Tây Nguyên
Yên Bái, Lai
Châu
Quảng Nam,
Lai Châu
Lào Cai
Dọc ven biển
miền Trung
Ven biển miền
Trung

300

100

Triệu tấn

210.000

3.520

Triệu m3

1000

m3/ngày

Triệu tấn

15
32.469

960,6

760,6

Crom

Triệu tấn

33,8

Đồng Bằng
sông Hồng
Phân bố rải rác
ở nhiều tình
Phân bố rải rác
ở nhiều tình
Lào Cai, Cao
Bằng, Thái
Nguyên, Hà
Tĩnh
Thanh Hóa
Cao Bằng,
Tuyên Quang
Lào Cai
Trữ lượng đã
cạn kiệt, phần
còn lại ít có khả
năng khai thác
Tuyên Quang,

Thiếc gốc

Ngàn tấn

Wonfram

Ngàn tấn

Chì Kẽm


Triệu tấn

67

37

Kaolin

Triệu tấn

Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21

255,7

Nguyên
Có 34 tấn Lào
Cai
Hà Giang,
Quảng Ninh
Phân bố rải rác


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

ở nhiều tỉnh
Kaolin
pyrophilit
Magnezit


0,2

Quảng Ninh
Gia Lai
Lào Cai
Lâm Đồng,
Ninh Thuận
Phú Yên, Kon
Tum
Chủ yếu trong
mỏ đất hiếm ở
Lai Châu
Chủ yếu trong

Fluorit

Triệu tấn

2,05

0,05

Talc

Triệu tấn

0,9

0,3

Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

1. Việt Nam không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lượng. Dầu khí
chỉ đảm bảo khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm
thăm dò để tăng trữ lượng phục vụ lâu dài. Than biến chất cao (Anthracit) với trữ
lượng đã được đánh giá đạt nhiều tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn
nữa mới bảo đảm cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Than biến chất thấp ở
dưới sâu đồng bằng sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên lớn đến vài trăm tỷ tấn
nhưng ở độ sâu hàng ngàn mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và
phức tạp cả về công nghệ, cả về an sinh xã hội và môi trường. Tiềm năng urani và địa
nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò đánh giá trữ lượng.
2. Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất
nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì , kẽm, thiếc v.v..) thế giới rất cần
trong khi trữ lượng không có nhiều, chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt. thì
Việt Nam cũng có ít, không đảm bảo tiêu dùng trong nước. Một số ít khoáng sản kim
loại như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có nhiều, thế giới cũng có nhiều, song nhu cầu
hàng năm không lớn, hàng trăm năm nữa mới cạn kiệt, nên chúng không là những
khoáng sản "nóng", khoáng sản cạnh tranh để phát triển, lại càng không thể xem là
cứu cánh của nền kinh tế Việt Nam.
Trữ lượng bauxit trên thế giới là 27 tỷ tấn và với sản lượng khai thác hàng năm
trên

200

triệu

tấn



kiệt

loại

khoáng

sản

này

Thế giới có nhiều quặng titan với tổng tài nguyên đạt hơn 2 tỷ tấn, trong đó trữ lượng
đạt 730 triệu tấn. Hàng năm thế giới chỉ tiêu thụ hơn 6 triệu tấn, như vậy 128 năm nữa
mới hết quặng titan.
3. Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng phục
vụ tốt cho phát triển kinh tế của đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên chúng không
phải là khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng có nhiều đủ dùng trong
nhiều năm nữa.
4. Việt Nam chưa phát hiện được kim cương - loại khoáng sản quý có giá trị
kinh tế kỹ thuật cao. Các nhà địa chất đã phát hiện ở Việt Nam có Ruby chất lượng
Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

cao, nhưng trữ lượng chưa rõ, các loại đá qúy khác cũng chưa được phát hiện nhiều.
Thực tế nhóm đá quý được phát hiện ở Việt Nam chưa đóng góp gì đáng kể cho phát
triển kinh tế đất nước.

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI
NGUYÊN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản
1.1. Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản rắn ở Trung ương.
1.1.1 Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT).
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ TN&MT trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về khoáng sản rắn được quy định cụ thể tại Điều 2 của Nghị định số 25/2008/NĐCP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT và Điều 3 Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27
tháng 12 năm 2005 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản. Cụ thể như sau:
- Trình Chính phủ các dự án luật và văn bản quy phạm pháp luật về tài
nguyên khoáng sản; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm
quyền các văn bản quy phạm pháp luật về điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên
khoáng sản, quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản;
- Xây dựng và chỉ đạo, kiểm tra thực hiện quy hoạch, kế hoạch điều tra cơ bản
địa chất về tài nguyên khoáng sản trong phạm vi cả nước sau khi được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt;
- Xác định khu vực có tài nguyên khoáng sản đã được điều tra, đánh giá; khoanh
định khu vực có khoáng sản độc hại, thông báo cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan biết để quản lý, bảo vệ;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan quyết định việc khai thác và cấp
giấy phép khai thác tại khu vực có dự án đầu tư công trình quan trọng quốc gia hoặc
công trình quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ đã được điều tra, đánh giá về tài nguyên khoáng sản hoặc chưa
được điều tra, đánh giá mà phát hiện có khoáng sản;
- Tổ chức thực hiện điều tra cơ bản về địa chất khoáng sản; quy định việc lập,
thẩm định đề án khảo sát, thăm dò khoáng sản, nội dung dự án điều tra cơ bản địa chất

thác, chế biến và sử dụng khoáng sản thuộc phạm vi được phân công quản lý; chỉ đạo
và kiểm tra việc thực hiện sau khi được phê duyệt;
- Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khu vực đấu thầu thăm dò, khai thác
khoáng sản ;
- Ban hành các quy định về tiêu chuẩn, quy trình, công nghệ khai thác, chế biến
khoáng sản; .
Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Tiểu luận

Chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản rắn ở Việt Nam

- Tổ chức thẩm định các dự án đầu tư khai thác, chế biến khoáng sản thuộc lĩnh
vực công nghiệp vật liệu xây dựng theo phân cấp của Chính phủ;
- Ban hành danh mục, điều kiện và tiêu chuẩn khoáng sản xuất khẩu, khoáng sản
hạn chế xuất khẩu thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ;
1.1.3. Tổng cục Địa chất và Khoáng sản (ĐC&KS) Việt Nam.
Tổng cục Địa chất và Khoáng sản là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi
trường, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
quản lý nhà nước và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản;
thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn Tổng cục Địa chất và Khoáng sản được quy định tại Quyết định số 26/2011/QĐTTg ngày 4 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, như sau:
1. Trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành theo thẩm quyền
hoặc để Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền:
a) Dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ; dự thảo thông tư, thông tư liên tịch về địa chất
và khoáng sản;

khoáng sản; việc phê duyệt đề án đóng cửa mỏ, quyết định đóng cửa mỏ khoáng sản
theo quy định của pháp luật.
6. Về kinh tế địa chất và khoáng sản:
a) Tổ chức thực hiện quy định về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, về đấu
giá quyền khai thác khoáng sản; quản lý hoạt động đấu giá quyền khai thác khoáng
sản theo quy định của pháp luật;
b) Theo dõi, tổng hợp hoạt động đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản, hoạt
động chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản;
c) Tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về việc hoàn trả chi phí điều tra cơ
bản về khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản.
d) Phối hợp xây dựng quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý sử dụng phí, lệ
phí khai thác, sử dụng dữ liệu về địa chất và khoáng sản; phí, lệ phí cấp giấy chứng
nhận lưu hành tự do (CFS) sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu đối với mặt
hàng tài nguyên, khoáng sản.
7. Về kiểm soát hoạt động khoáng sản và hoạt động điều tra cơ bản địa chất về
khoáng sản:

Nhóm 3, lớp Quản lý Kinh tế 3 – K 21


Trích đoạn Những bất cập trong chính sách Những bất cập trong tổ chức thực hiện Kiến nghị về quản lý khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản rắn Kiến nghị về chính sách tài chính Kiến nghị về công khai minh bạch trong hoạt động khoáng sản rắn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status