CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG ANH THCS - Pdf 33

Chuẩn kiến thức, kĩ năng Tiếng Anh THCS
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng Tiếng Anh 6
Hết lớp 6, học sinh có khả năng sử dụng những kiến thức tiếng Anh đã học trong phạm vi chương trình để:
Nghe hiểu được các câu mệnh lệnh và lời nói đơn giản thường dùng trên lớp học.
Nghe hiểu những câu nói, câu hỏi-đáp đơn giản với tổng độ dài khoảng 40-60 từ về thông tin cá nhân, gia đình và nhà trường.
Hỏi - đáp đơn giản về thông tin cá nhân, gia đình và nhà trường trong phạm vi các chủ điểm có trong chương trình.
Thực hiện một số chức năng giao tiếp đơn giản: chào hỏi, đưa ra và thực hiện mệnh lệnh, nói vị trí đồ vật, hỏi-đáp về thời gian,
miêu tả người, miêu tả thời tiết,...
Đọc hiểu được nội dung chính các đoạn độc thoại hoặc hội thoại đơn giản, mang tính thông báo với độ dài khoảng 50-70 từ ,
xoay quanh các chủ điểm có trong chương trình.
Viết được một số câu đơn giản có tổng độ dài khoảng 40-50 từ có nội dung liên quan đến các chủ điểm có trong chương trình.
>> Tải nội dung
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng Tiếng Anh 7
Hết lớp 7, học sinh có khả năng sử dụng những kiến thức tiếng Anh đã học trong phạm vi chương trình để:
Nghe hiểu được các đoạn hội thoại và độc thoại đơn giản về các nội dung chủ điểm đã học.trong chương trình.
Hiểu được nội dung chính các đoạn hội thoại và độc thoại ở tốc độ chậm vừa phải có độ dài khoảng 60-80 từ .
Hỏi - đáp hoặc trao đổi về thông tin cá nhân đơn giản, các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí, và sinh hoạt hàng ngày.
Thực hiện một số chức năng giao tiếp cơ bản: diễn đạt ý định, lời mời, lời khuyên, góp ý, thu xếp thời gian địa điểm các cuộc
hẹn, hỏi đường và chỉ đường.
Đọc hiểu được nội dung các đoạn độc thoại hoặc hội thoại đơn giản, mang tính thông báo với độ dài khoảng 50-70 từ , xoay
quanh các chủ điểm có trong chương trình.
Đọc hiểu được nội dung các đoạn độc thoại hoặc hội thoại đơn giản, mang tính thông báo với độ dài khoảng 50-70 từ , xoay
quanh các chủ điểm có trong chương trình.

>> Tải nội dung
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng Tiếng Anh 8
Hết lớp 8, học sinh có khả năng sử dụng những kiến thức tiếng Anh đã học trong phạm vi chương trình để:
Nghe hiểu được nội dung chính và nội dung chi tiết các đoạn độc thoại / hội thoại trong phạm vi các nội dung chủ điểm đã học
trong chương trình.
Hiểu được các có độ dài khoảng 80-100 từ ở tốc độ tương đối chậm.
Hỏi - đáp, miêu tả, kể, giải thích về các thông tin liên quan đến cá nhân các hoạt động học tập, sinh hoạt vui chơi, giải trí.

- Wh-questions: How? What? Where? Which? When? Why?
- Yes / No questions
- Imperatives: commands (positive / negative)
- Adjectives: comparatives and superlatives of adjectives
- Possessive case
- Personal pronouns
- Prepositions of position
- Partitives: a box of, a can of
- Indefinite quantifiers: some, any, a few, a little, lots, a lot of
- Adverbs of frequency: sometimes, usually
- Articles: a(n), the
What about verb-ing ..?
Why don’t we ...?
Kiến thức ngôn ngữ Tiếng Anh Lớp 7
-

Tenses: present simple, present progressive, past simple, future simple (including be going to)
Modal verbs: must, can, could, should, ought to, may, might
Question words
Nouns: singular, plural, countable, uncountable.
Adverbs of place, time, frequency
Comparison of adjectives: comparatives and superlatives
Prepositions of time, place, direction
Indefinite qualifiers: a little, a lot/lots of, too much
Sequencing: first, next then, after that, finally
So, too, either, neither
Like+gerund, like/preposition+infinitive
Suggestions: Why don’t you ..., let’s ..., what about ...
Compound sentences with but, and, or
Kiến thức ngôn ngữ Tiếng Anh Lớp 8


Tenses: present simple, present progressive, past simple, past progressive, future simple (including
be going to), present perfect
- Modal verbs: may, might, should, could
- The passive
- Adverb clauses of result/reason/concession
- Direct & indirect speech
- Tag questions
- Gerund after some verbs
- Conditional sentences type 1, 2 (including wish)
- Adjective + that clause
- Connectives
- Phrasal verbs
- Relative pronouns & relative clauses (defining/non-defining)
Qui trình ra đề kiểm tra môn Tiếng Anh THCS gồm có các bước sau đây:
1. Xác định mục tiêu bài kiểm tra
Đây là khâu quan trọng nhất của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc làm này giúp kiểm tra, đánh giá đúng
tình hình học tập của học sinh mặt khác tránh làm sai lệch qui trình dạy và học môn học. Có ba mức độ xác định mục tiêu kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu kiểm tra, đánh giá môn tiếng Anh phải xuất phát từ mục tiêu dạy học môn học. Nói khác đi, việc kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập của học sinh phải dựa vào mục tiêu dạy học chung của môn học ở THCS, đó là: (i) kiểm tra kĩ năng giao tiếp, (ii)
kiến thức ngôn ngữ và (iii) những hiểu biết về đất nước, con người và nền văn hoá của các nước nói tiếng Anh.
1.2 Mục tiêu từng lớp
Đối với mỗi lớp học, mục tiêu kiểm tra, đánh giá phải dựa vào mục tiêu, yêu cầu cụ thể của từng lớp.
1.3 Mục tiêu từng bài kiểm tra
Mục tiêu của mỗi bài kiểm tra cần được xác định theo chuẩn kiến thức, kĩ năng tại thời điểm kiểm tra. Nghĩa là người ra đề
kiểm tra phải nắm được mục tiêu, yêu của các kĩ năng cần đạt tại thời điểm kiểm tra ở mỗi lớp. Ví dụ khi xây dung bài kiểm tra
chủ điểm 1 của lớp 6, giáo viên cần xem xét:
(i)


Nội dung chủ điểm: Personal information

Nội dung chủ đề: Friends, Clothing, Home village

2.2 Nội dung giao tiếp hay năng lực ngôn ngữ
Nội dung giao tiếp hay năng lực ngôn ngữ của chủ điểm 1, tiếng Anh 9 là:
Attainment targets
Speaking
Students will be able to:
- Make and respond to introductions
- Ask and respond to questions on personal preferences
- Ask for and give information about the geography
of one’s home country
- Talk about a picnic in the country
- Describe directions / locations
Listening
Students will be able to:
Listen to a monologue or a dialogue of 100-120 words for general or specific information
Reading
Students will be able to:
Read a dialogue or a passage of 150-180 words for general or specific information

-

Writing
Students will be able to:
Write an argument letter with a frame using suggested ideas or word cues
- Write an exposition of 80-100 words from picture and word cues


ngữ-TNKQ. Tuy nhiên, để đảm bảo tính đa dạng hình thưc câu hỏi trong một bài kiểm tra (không phải cho một bài thi), đôi khi
có thể thiết kế loại câu hỏi tự luận (TL) thay cho loại câu hỏi tắc nghiệm khách quan (TNKQ) trong nội dung nghe hiểu và đọc
hiểu. Thời gian kiểm tra 45 phút cho 4 nội dung là ngắn nên các đợn vị kiểm tra mỗi bài ít hơn so với kiểm tra 15 phút. Cấu trúc
bài thường là: nghe 5 đơn vị KT, đọc 5 đơn vị KT, viết 5 đơn vị KT và ngôn ngữ 10 đơn vị KT.
Ta có thể có bảng tóm tắt sau:
Loại bài kiểm
tra
Kiểm tra miệng
Kiểm
phút

tra

Loại hình
Nói

Hình thức

Đơn vị nội dung KT

TL

15 Nghe

5

TNKQ

5-10


+ Đọc

+ Viết
+ Kiến thức NN

4. Xây dựng ma trận đề kiểm tra
Ma trận đề kiểm tra cần được xác định trước khi soạn bài kiểm tra. Ma trận giúp chúng ta hình dung loại bài kiểm tra, nội dung
kiểm tra, số lượng các nội dung kiểm tra, mức độ yêu cầu của mỗi nội dung và số điểm cho các nội dung đó. Một ma trận bài
kiểm tra 1 tiết và học kì thường gồm một bảng có các cột dọc và ngang.


Cột dọc chỉ các nội dung kiểm tra bao gồm kĩ năng hay kiến thức ngôn ngữ. Có ba kĩ năng nghe, đọc viết và kiến thức
ngôn ngữ cho bài kiểm tra 1 tiết hay học kì.



Các cột ngang chỉ (i) mức độ của các câu hỏi (nhận biết, thông hiểu hay vận dụng), (ii) các loại câu hỏi trong mỗi mức
độ (khách quan hay tự luận, (iii) số câu hỏi cho mỗi nội dung (5 hay 10) và (iv) số điểm cho các câu hỏi đó.



Cột dọc và cột ngang cuối cùng trong ma trận chỉ số câu hỏi và số điểm của mỗi nội dung kiểm tra và tổng số câu hỏi
và số điểm của cả bài.

Ví dụ: Thiết lập ma trận kiểm tra (2 chiều)
Chủ đề

Nhận biết

Thông hiểu

TL

TN

TL
5
2,5
5
2,5
10

2,5

2,5
5

5
2,5

10

5

2,5

5,0

2,5
25


+ Đọc
+ Viết
+ Kiến thức NN

Hình thức
TL
- TNKQ
- TNKQ
- TL
- TNKQ/TL +
- TNKQ/TL +
- TL +
- TNKQ/TL

Đơn vị nội
dung KT
5
5-10
5-10
5
5
5
5
10

Số điểm
10
10
10
10


(iii)

Biên soạn nội dung bài kiểm tra (nghe, đọc, viết, kiến thức ngôn ngữ)
(iv) Đáp án và hướng dẫn chấm

-6-


Các loại hình bài tập kiểm tra đánh giá kết quả học tập học sinh THCS
Môn Tiếng Anh

Khi đã xác định được cấu trúc bài kiểm tra, giáo viên có thể chọn các bài tập thích hợp để kiểm tra các kĩ năng và kiến thức
ngôn ngữ. Các loại hình bài tập dùng cho kiểm tra gồm:
1. Loại hình bài tập dùng cho bài kiểm tra nghe
Khi đã xác định được cấu trúc bài kiểm tra nghe, giáo viên có thể chọn các bài tập thích hợp để kiểm tra kĩ năng nghe hiểu của
học sinh. Các loại hình bài tập dùng cho kiểm tra nghe gồm:


Nghe đoạn văn, đoạn hội thoại và trả lời các câu hỏi



Nghe đoạn văn, đoạn hội thoại và sắp xếp trật tự các câu cho sẵn



Nghe đoạn văn, đoạn hội thoại và chọn câu đúng/sai



Nói theo chủ điểm/chủ đề

Khi soạn bài tập dùng cho bài kiểm tra, cần lưu ý:


Bài nói có thể là đối thoại giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh và giáo viên hoặc nói độc thoại của học sinh về một
hoặc một vài đơn vị năng lực ngôn ngữ theo chủ điểm hoặc chủ đề do chương trình quy định.

3. Loại hình bài tập dùng cho bài kiểm tra đọc hiểu
Khi đã xác định được cấu trúc bài kiểm tra đọc hiểu, giáo viên có thể chọn các bài tập thích hợp để kiểm tra các kĩ năng đọc
hiểu của học sinh. Các loại hình bài tập dùng cho kiểm tra đọc hiểu gồm:


Đọc đoạn văn, đoạn hội thoại và trả lời câu hỏi



Đọc các câu cho sẵn và sắp xếp chúng thành đoạn hội thoại hợp lí



Đọc đoạn văn, đoạn hội thoại và tìm câu đúng/sai



Đọc và tìm tiêu đề cho mỗi đoạn văn



Đọc đoạn văn, đoạn hội thoại và đặt câu hỏi với từ gợi ý


Hoàn thành biểu bảng, phiếu, ......

Khi soạn bài tập dùng cho bài kiểm tra, cần lưu ý:


Bài viết là một đoạn văn liền ý về một chủ điểm hoặc chủ đề do chương trình quy định và cần có gợi ý về tình huống, về
kiến thức ngôn ngữ hoặc cả tình huống và kiến thức ngôn ngữ.

5. Loại hình bài tập dùng cho bài kiểm tra kiến thức ngôn ngữ
Khi đã xác định được cấu trúc bài kiểm tra, giáo viên có thể chọn các bài tập thích hợp để kiểm tra các kĩ năng về kiến thức
ngôn ngữ. Các loại hình bài tập dùng cho kiểm tra kiến thức ngôn ngữ gồm:


Hoàn thành câu/đoạn văn/đoạn hội thoại bằng cách chọn và điền các từ cho sẵn vào các chỗ trống.



Chọn trong số các từ cho sẵn (A, B, C, D) điền vào chỗ trống trong câu/đoạn văn cho phù hợp



Hoàn thành đoạn văn/đoạn hội thoại dạng chừa trống



Cho từ gợi ý viết thành câu hoàn chỉnh





-8-




Giới thiệu bài nói mẫu (Những phát ngôn riêng lẻ hay một bài hội thoại).



Yêu cầu học sinh luyện đọc (Chú ý cách phát âm và nghĩa của từ mới)



Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để HS tự rút ra cách sử dụng từ và cấu trúc câu.



Giáo viên yêu cầu bài nói.

b) Luyện nói có kiểm soát (Controlled practice)


Học sinh dựa vào tình huống gợi ý (qua tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội thoại mẫu) để luyện nói
theo yêu cầu.



HS luyện nói theo cá nhân/ cặp /nhóm dưới sự kiểm soát của của GV (sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ pháp, gợi ý từ …)


Có thể mở rộng tình huống, khai thác các tình huống có liên quan đến chính hoàn cảnh của địa phương, khuyến khích liên hệ
đến tình hình cụ thể của chính cuộc sống thật của các em.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN TI N G ANH TRUNG H C C S
K THU T M BÀI, GI I THI U NG LI U M I , LUY N T P NG PHÁP

1. Mở bài - Gây không khí học tập
Để có được một giờ dạy thành công, ngay ở bước hoạt động đầu tiên của một giờ dạy là bước mở bài, giáo viên cần tạo
ra được một không khí học tập thuận lợi về cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó.
Những hoạt động gây không khí học tập này thường rất ngắn (5 -7 phút) nhưng vô cùng quan trọng. Vậy mở bài nên làm những
gì và làm thế nào để có thể thực hiện được các mục đích đó.
1.1. Các hoạt động mở bài
Các hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau:
- Ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bài học mới;
- Tạo môi trường thuận lợi cho bài học mới;
- Gây hứng thú cho bài học mới;
- Giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
- Chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;

-9-


- Tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
- Tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động giao tiếp kế tiếp.
1.2. Các hình thức và thủ thuật vào bài
Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tượng học sinh cụ thể của mình, giáo viên có thể lựa chọn
những hoạt động hay thủ thuật vào bài cho phù hợp.
Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau:
1.2.1. Tạo môi trường thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:

(brainstorming).
b) Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằng các hình thức khác nhau như:
·

Hỏi các câu hỏi có liên quan;

·

Ra bài tập về các nội dung đã học có liên quan;

·

Sử dụng một trong những hoạt động gây hứng thú và ổn định lớp (kể trên), dùng vốn kiến thức và nội dung bài cũ;
c) Tạo ngữ cảnh, tình huống hoặc các cớ/lý do giao tiếp (Communicative needs) cho các hoạt động tiếp theo của bài. Có thể
dùng các hình thức như:
·

giáo cụ trực quan (đồ vật, tranh, bưu ảnh..)
·

các mẩu chuyện có thật hoặc tự tạo
·
·

các bài đọc ngắn

các bài tập hoặc câu hỏi, vv
Lưu ý:

- Trong thực tế, những hoạt động và thủ thuật dùng cho phần mở bài có thể cùng một lúc đáp ứng được nhiều mục đích khác


·

Cần chú ý thay đổi hình thức mở bài để gây hứng thú cho học sinh.
2. Giới thiệu ngữ liệu mới

Giới thiệu ngữ liệu mới là làm rõ nghĩa, cách phát âm, cấu trúc hình thái, và cách dùng của một mục dạy nào đó trong
một ngữ cảnh nhất định. Mục dạy có thể là các mẫu lời nói, từ vựng hay ngữ pháp, hoặc một nội dung chủ điểm nào đó, thường
được giới thiệu thông qua một bài hội thoại hay một bài khoá, hoặc những tình huống có sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan.
Với phương pháp dạy học mới, công việc giới thiệu ngữ liệu không còn thuần tuý chỉ là việc thày giải thích nghĩa của từ mới
(mà phần lớn giáo viên thường thực hiện bằng cách cho nghĩa tiếng Việt) và giải thích các quy tắc ngữ pháp và các mẫu câu. ở
phần này, người giáo viên còn cần phải đồng thời làm rõ cách sử dụng của các mẫu câu hoặc từ mới đó trong ngữ cảnh. Chỉ khi
được giới thiệu trong ngữ cảnh, nghĩa và cách sử dụng của các ngữ liệu cần dạy mới được làm sáng tỏ. Như vậy, nội dung cần
giới thiệu ở bước giới thiệu ngữ liệu là:
- Hình thái (Form: pronunciation; spelling; grammar)
- Ngữ nghĩa (Meaning)
- Cách sử dụng (Use)
Một đặc điểm nổi bật của phương pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là phương pháp mới rất chú trọng tới việc phải làm sao
cho học sinh tiếp thụ bài học không chỉ qua nghe thụ động mà còn được vận động trí óc, chủ động tham gia vào quá trình của họat động
này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau.
Có nhiều cách/ thủ thuật giới thiệu ngữ liệu. Sau đây là một số thủ thuật giới thiệu ngữ liệu mà các giáo viên có thể tham
khảo để ứng dụng cho bài dạy cụ thể của mình.
2.1. Các thủ thuật tạo dựng tình huống. (setting up situations/ contexts)
a). Dùng môi trường, đồ vật thật trong lớp, trong trường;
b). Sử dụng những tình huống thật trong lớp;
c). Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;
d). Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tượng thật trong thực tế;

-11-



Viết các cấu trúc/ từ mới lên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc, giải thích nếu cần.

4)

Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đưa thêm các tình huống hoặc các ví dụ khác.

5)

Lặp lại tương tự bước 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi ý.

6)

Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật kiểm tra hiểu như gợí ý ở mục 2.3.

Khi giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt được bước 6. thì có thể chuyển sang phần luyện tập sáng tạo hơn với các loại
bài tập mang tính giao tiếp hơn.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng không phải lúc nào việc giới thiệu ngữ liệu cũng phải tuân theo tuần tự tiến trình trên. Ví dụ, ngay
sau bước 2. nếu giáo viên cảm thấy học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài tập tái tạo thì có thể chuyển ngay sang bước 6.
Hoặc công việc của bước 3. cũng có thể để lui lại để thực hiện vào cuối bài ở bước củng cố bài, sau khi học sinh đã làm các bài
tập thực hành.
2.5. Giới thiệu từ vựng - Những điểm lưu ý thêm
Tiến trình giới thiệu ngữ liệu được trình bày ở trên có thể được coi là tiến trình chung cho việc giới thiệu ngữ liệu mới.
Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũng có những đặc thù riêng. Phần này sẽ trình bày một số điểm cần lưu ý khi giới thiệu từ
mới.

-12-


2.5.1. Chọn từ để dạy

Như đã đề cập, điểm nổi bật ở phương pháp mới là tạo cho học sinh được tham gia vào quá trình giới thiệu ngữ liệu mới.
Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, thông thường giáo viên đóng vai trò chính, vai trò truyền thụ, học sinh đóng vai
tiếp nhận, thụ động là chủ yếu. Tuy nhiên, nếu giáo viên tạo được điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình này, kết quả tiếp
thu bài của các em sẽ tốt hơn nhiều.
Để làm được điều đó, giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ thuật phát huy sự chủ động suy đoán, tự phát hiện
của học sinh. Ví dụ, phát hiện và nhận biết cấu trúc hay từ mới và tự rút ra mẫu cấu trúc của các mục ngữ pháp, hoặc đoán nghĩa
từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa từ bằng vốn từ có sẵn, cho từ đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa,v.v.
2.7. Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu ngữ liệu mới
Trong quá trình giới thiệu ngữ liệu, giáo viên nên phối hợp nhiều các kỹ năng với nhau để giới thiệu mục dạy, ví dụ giới
thiệu qua nói, sau đó học sinh nghe và nhắc lại; học sinh nhìn mẫu được viết trên bảng, hoc sinh tái tạo qua nói, nghe, viết , đọc;
học sinh xây dựng các bài hội thoại theo mẫu qua nói nghe trong nhóm sau đó viết lại hoặc ngược lại, chuẩn bị qua viết, sau đó
nói lại; học sinh viết các câu trả lời trên giấy trong/ bảng con, sau đó đưa ra trước lớp để được nhận xét, v.v.
3. Luyện tập ngữ pháp

-13-


Phần cuối cùng của mỗi đơn vị bài học là phần Language Focus, nhằm giúp hệ thống hoá, củng cố và luyện tập sử dụng
các chức năng ngôn ngữ, các điểm ngữ pháp và từ vựng đã xuất hiện trong các bài đã học. Tuỳ theo nội dung từng bài tập, giáo
viên có thể lựa chọn những loại bài để học sinh thực hiện trên lớp hay hướng dẫn cho các em về làm tại nhà. Tuy nhiên, phần hệ
thống hoá, củng cố và chữa bài là khâu quan trọng. Qua những bài tập này, giáo viên có thể rút ra được những mặt mạnh và mặt
yếu của học sinh và có kế hoạch củng cố, bồi dưỡng thêm cho các em.
Khi thực hiện các bài tập ở phần này, cần cho học sinh liên hệ lại những tình huống hay ngữ cảnh mà các mục ngữ pháp, hay
chức năng ngôn ngữ này đã được xuất hiện trong các mục trước của bài học để qua đó có thể làm rõ ý nghĩa các ngữ liệu đó và hệ
thống hoá được tốt hơn. Đây là lúc giáo viên có thể giải thích, tóm tắt hay chốt lại các điểm ngữ pháp đã xuất hiện trong bài một cách
kỹ lưỡng hơn.
3.1. Giới thiệu cấu trúc ngữ pháp
Đầu tiên GV giới thiệu bằng lời cấu trúc mới rồi ghi lên bảng. Cấu trúc ngữ pháp đó phải nằm trong ngữ cảnh. Cách đơn
giản nhất để trình bày một cấu trúc là chỉ ra một cách trực tiếp, sử dụng các vật thể mà HS có thể nhìn thấy trong và ngoài lớp,
tranh ảnh, hình vẽ minh hoạ, bản đồ, biểu bảng, bản thân GV và HS hoặc bằng hành động.


-14-


Các hoạt động thực hiện ở 3 bước: trước, trong khi và sau khi nghe cũng nhằm các mục đích giống tương tự như với kỹ năng
đọc, với một số điểm cụ thể cho các bài tập nghe.
a) Trước khi nghe (Pre-listening):
- Giới thiệu nội dung chủ điểm/tình huống;
- Các câu hỏi đoán về nội dung sắp nghe;
- Ra yêu cầu bài nghe.
Lưu ý: Giới thiệu một số từ mới hoặc cấu trúc ngữ pháp mới có liên quan đến việc hiểu nội dung bài nghe; tuy nhiên không nên
giới thiệu hết mọi từ mới không quan trọng.
b) Trong khi nghe (While-listening):
- Ra câu hỏi hướng dẫn, yêu cầu mục đích khi nghe;
- Chia quá trình nghe thành từng bước nếu cần. Ví dụ, nghe lần thứ nhất: nghe ý chính, trả lời các câu hỏi đại ý; nghe lần thứ
hai: nghe chi tiết nội dung; có thể cho HS nghe thêm lần thứ ba để tự tìm hết đáp án hay tự sửa lỗi trước khi giáo viên sửa lỗi và
cho đáp án.
Lưu ý: Nên cho nghe hết cả nội dung bài, không dừng từng câu một (trừ trường hợp câu khó muốn cho HS tìm thông tin chi tiết
chính xác)
c) Sau khi nghe (Post-listening):
- Các bài tập ứng dụng, chuyển hoá tương tự như các bài tập sau khi đọc.
- Cần phối hợp nhiều cách kiểm tra các đáp án như: để HS hỏi lẫn nhau, trao đổi đáp án và chữa chéo, hay một HS hỏi trước lớp
và chọn người trả lời trước khi GV cho đáp án cuối cùng.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU
1. Thực hiện 3 bước dạy các kỹ năng (nói chung)
Khi tiến hành một bài dạy kỹ năng, ví dụ như một bài đọc hoặc bài nghe… (trong chương trình lớp 8 và lớp 9) cần tiến
hành theo 3 bước: trước khi vào bài, trong khi thực hiện bài và sau khi thực hiện xong bài ( pre-task, while-task and post-task).
Những yêu cầu hoạt động được thiết kế theo các bước này sẽ giúp học sinh hiểu bài và thực hành được các kỹ năng lời nói một

- Đoán trước nội dung bài đọc;
- Nêu những điều muốn biết về nội dung sắp đọc;
- Giới thiệu trước từ vựng, ngữ pháp mới giúp cho học sinh hiểu được bài đọc;
- v.v…
b) Trong khi đọc (While-reading):
Các hoạt động luyện tập trong khi đọc nhằm giúp học sinh hiểu bài đọc. Tuỳ theo mục đích nội dung của từng bài đọc, sẽ có
những dạng câu hỏi và bài tập khác nhau. Những dạng bài tập phổ biến gồm:
- Check/tick the correct answers;
- True/ false
- Complete the sentences;

-16-


- Fill in the chart;
- Make a list of...
- Matching;
- Answer the questions on the text;
- What does...mean?
- What does ... stand for/ refer to?
- Find the word/ sentence that means ;
- etc.
c) Sau khi đọc (Post-reading):
Các hoạt động và bài tập sau khi đọc là những bài tập cần đến sự hiểu biết tổng quát của toàn bài đọc, liên hệ thực tế, chuyển
hoá nội dung thông tin và kiến thức có được từ bài đọc, qua đó thực hành luyện tập sử dụng ngôn ngữ đã học.
Các hình thức bài tập có thể là:
- Summarize the text;
- Arrange the events in order;
- Give the title of the reading text;
- Give comments, opinions on the characters in the text;


GV nêu yêu cầu bài viết (phần b) và có thể cho gợi ý.



HS thảo luận theo cặp hoặc nhóm, sau đó cá nhân HS tự viết.



HS cần bám sát bài viết mẫu, các gợi ý để viết theo yêu cầu.



GV gọi vài HS (đại diện nhóm) trình bày bài viết trước lớp (có thể dùng OHP).



GV sửa lỗi và đưa ra đáp án gợi ý.
c) Sau khi viết (Post-writing)




HS có thể trình bày lại bài viết (dưới dạng nói).
GV có thể yêu cầu HS viết một bài theo tình huống gợi ý tương tự (bài viết mới liên hệ thực tế, mang tính sáng
tạo và tự do hơn).
Nói tóm lại, các bài luyện viết thường bắt đầu bằng một bài mẫu ở mục a). Thông qua hoạt động đọc hiểu, học

sinh nắm bắt cách trình bày viết một bài viết theo mục đích hay yêu cầu nhất định. Phần b) sẽ là phần học sinh thực
hiện các bài tập viết theo yêu cầu đề ra, có hướng dẫn, hoặc có gợi ý; sau đó là bài viết mở rộng mang tính sáng tạo và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status