SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP MỘT “GIỮ VỞ SẠCH RÈN CHỮ ĐẸP” - Pdf 33

Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học
ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN-KINH NGHIỆM

GIÚP HỌC SINH LỚP MỘT “GIỮ VỞ SẠCH RÈN CHỮ ĐẸP”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người thường ngồi với chiếc máy vi
tính của mình để soạn thảo một văn bản thay vì cầm bút viết trên giấy. Việc rèn chữ
viết của mọi người bị chìm vào quên lãng. Ở trong trường tiểu học cũng vậy, trong
những năm học gần đây, học sinh viết chữ xấu là một tình trạng đáng báo động. Hiện
nay học sinh lựa chọn đủ các loại bút để viết, đặc biệt là học sinh rất yêu thích với
chiếc bút bi của mình hơn là những loại bút chấm mực như ngày xưa. Mặt khác, chữ
viết của khá nhiều giáo viên chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc
rèn chữ viết của học sinh. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản
chiếu để học sinh soi rọi vào đó. Lứa tuổi của học sinh tiểu học là lứa tuổi hay “bắt
chước”, giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế đó; đặc biệt là ở lứa tuổi
học sinh lớp 1.
Trẻ em đến trường là để được học đọc, học viết. Nếu phân môn tập đọc – học
vần giúp trẻ biết đọc thông thì phân môn tập viết sẽ giúp trẻ viết thạo. Trẻ đọc thông,
viết thạo sẽ giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt hơn.
Chữ viết và dạy viết được cả xã hội quan tâm. Nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn
trở, góp công, góp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy học
chữ viết. Tuy vậy, nhiều học sinh vẫn viết sai, viết xấu, viết chậm. Điều đó ảnh hưởng
không nhỏ tới các môn học khác.
Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chúng ta
đã trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ
để các em vận dụng suốt đời.

-

Phương pháp dạy các môn học ở lớp 1

-

Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt 1-sách giáo viên.

-

Tiếng Việt 1- sách giáo khoa.

-

Một số tài liệu khác.

Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
-Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu ,sách giáo khoa và thực tiễn dạy học của
lớp 1C- khối I- Trường Tiểu Minh Diệu A
- Đánh giá quá trình dạy Tập viết từ những năm trước và những năm gần đây .
- Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh .
- Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu.
- Vận dụng các phương pháp dạy tập viết trong phân môn Tập viết và hướng dẫn tập
viết trong phân môn Học vần lớp 1.
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 2


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

luyện viết ở nhà.

Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 3


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

1.2. Chương trình và vở tập viết hiện hành:
Vở tập viết của Bộ giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao về
chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát huy vai trò của
phân môn tập viết. Chương trình tập viết lớp một gồm có:
Học kỳ I: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các em vừa
học và mỗi tuần có thêm 1 tiết tập viết.
Học kỳ II: Mỗi tuần có 1 tiết tập viết, mỗi tiết 35 phút và học sinh được làm
quen với chữ viết hoa.
2. Cơ sở tâm lý:
Tâm lý tình cảm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nhận thức. Nếu trẻ được viết
trong tư thế thoải mái, tâm trạng phấn khởi thì dễ có kết quả tốt. Ngược lại, nếu trẻ
buồn phiền thì chữ viết cũng bị ảnh hưởng.
2.1. Lý thuyết hoạt động:
Để viết được chữ thì học sinh phải hoạt động (phải tiêu hao năng lượng của
thần kinh và bắp thịt). Hoạt động viết của học sinh được thực hiện qua thao tác sau:
- Làm quen với đối tượng: Khi giáo viên hướng dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng mắt,
tai và tay sẽ làm theo.
- Nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay theo các đường nét của chữ
cái để nhấn mạnh cách viết đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó.

bày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để nhìn
cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị.
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng bàn tay chưa
ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ. Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đi nhắc lại
nhiều hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép đúng mẫu.
3. Cấu tạo chữ viết:
3.1. Xác định tọa độ và chiều hướng chữ:
Tọa độ chữ được xác định trên đường kẻ ngang của vở tập viết. Mỗi đơn vị
dòng kẻ trong vở gồm có 4 dòng kẻ ngang (1 dòng đầu đậm và 3 dòng còn lại được in
nhạt hơn). Ta ký hiệu đường kẻ trên là số 1 các đường khác là 2, 3, 4 kể từ dưới lên
trên.
Ví dụ:
Đường kẻ ngang

Đường kẻ dọc
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 5


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc, đường kẻ
ngang và các ô vuông làm định hướng. Đây là một trong những điều kiện để dạy chữ
viết thành một quy trình. Quy trình được thực hiện lần lượt bởi các thao tác mà hành
trình ngòi bút đi qua tọa độ các chữ.
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô vuông của
khung chữ mẫu để phân tích cách viết.

Ví dụ: - a nối với m

-> am

- x nối với inh -> xinh
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 6


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

am xinh
=> Các nét bút viết liền mạch khi viết không nhấc bút
3.1.5- Kỹ thuật lia bút:
Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với
nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) không
chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng). Thao tác đưa bút trên không gọi là lia bút.
Ví dụ: b nối với a

-> ba

ba
=> Từ b -> a không viết liền được ta viết chữ b sau đó lia bút sang điểm bắt đầu
của chữ a.
3.1.6- Kỹ thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với
nét chữ vừa viết. Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) chạy nhẹ
từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau.

liên kết giữa các nét trong từng chữ cái và giữa các chữ cái với nhau.
Việc cải tiến chữ cái (kiểu chữ CCGD) bằng cách lược bỏ những nét dư thừa đã
làm mờ sự khu biệt cần thiết giữa các chữ cái và gây trở ngại trong giao tiếp, mặt khác
cách làm này cho chữ viết tay không liền mạch, không đẹp và tốc độ viết chậm.Ví dụ:
anh
* Nét phối hợp:Trên cơ sở lấy nét chữ cơ bản làm nền, tính từ điểm xuất phát
kéo dài nét đó cho đến khi không thể và không cần thiết kéo dài được nữa (đến đây đã
đủ nét và nếu cứ tiếp tục kéo dài sẽ trùng với nét khác hoặc dư thừa nét) thì chấm dứt.
Loại nét này gọi là nét phối hợp. Nhờ cách quan niệm như vậy, các nét cấu tạo chữ cái
không bị cắt vụn. Chẳng hạn, với chữ cái “a” thông thường có thể phân thành 2 nét:
nét cong trái, nét móc dưới (C, ) nhưng khi viết, thông thường người viết kéo dài nét
thẳng đứng cho đến khi kết thúc nét, lúc đó ta được nét móc phải (là sự kết hợp giữa
nét thẳng đứng và nét cong). Vì vậy, ta chọn lối phân tích chữ “a” thành 2 nét: nét
cong kín (O) và nét móc phải ( ).
Với cách xác định chữ như trên, việc phân tích các chữ trở nên gọn và dễ hiểu.
Sau đây là danh sách các nét phối hợp cần được thống nhất để dạy viết nét và
viết chữ cái tiếng Việt:
1- Nét móc trên:
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

, nét móc dưới:
Trang 8


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

2- Nét móc 2 đầu:
3- Nét thắt đầu:

từ đó tạo điều kiện để các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ bản, cấu tạo chữ
cái cần viết trong bài học.
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 9


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

- Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các
nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết
liền mạch, viết nhanh.
- Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được quan sát như một loại
chữ mẫu, vì thế giáo viên cần ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.
Ngoài ra, để việc dạy chữ không đơn điệu, giáo viên cần coi trọng việc xử lý
quan hệ giữa âm và chữ, tức là giữa đọc và viết. Do đó trong tiến trình dạy tập viết,
nhất là những âm mà địa phương hay lẫn, giáo viên cần đọc mẫu. Việc viết đúng củng
cố việc đọc đúng và đọc đúng đóng góp vai trò quan trọng để đảm bảo viết đúng.
4.2) Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo viên
dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi
về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau
và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đã phân tích.
Ví dụ: Khi dạy chữ A, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ A gồm có bao nhiêu
nét? là những nét nào? chữ A cao mấy ô? độ rộng của chữ là bao nhiêu?…
Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng cách trả lời cho các em. Vai
trò của giáo viên ở đây là người tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ cái
chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết ở phần sau.

Muốn cho học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết, giáo viên cần hướng dẫn tỉ
mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng
cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét…) giúp các em viết đủ, viết
đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết.
Sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng ở tất cả các môn học là cần thiết.
Có như thế, việc luyện tập viết chữ mới được củng cố đồng bộ và thường xuyên. Việc
làm này yêu cầu người giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên môn còn cần có sự
kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề - mến trẻ.
4.4. Rèn nếp viết chữ rõ ràng sạch đẹp.
Chất lượng về chữ viết của học sinh không chỉ phụ thuộc vào điều kiện chủ
quan (năng lực cá nhân, sự luyện tập kiên trì, trình độ sư phạm của giáo viên…) mà
còn có sự tác động của những yếu tố khách quan (điều kiện, phương tiện phục vụ cho
việc dạy và học Tập viết). Do vậy, muốn rèn cho học sinh nếp viết rõ ràng, sạch đẹp,
giáo viên cần quan tâm hướng dẫn, nhắc nhở các em thường xuyên về các mặt chủ yếu
dưới đây:
4.4.1.Chuẩn bị và sử dụng đồ dùng học tập.
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được thực hành luyện viết thông
qua 2 hình thức: viết trên bảng (bảng cá nhân – bảng con, bảng lớp) bằng phấn và viết
trong vở tập viết (tài liệu học tập chính thức do Bộ GD&ĐT qui định đối với lớp 1)
bằng bút chì, bút mực. Do vậy, để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học sinh cần có
ý thức chuẩn bị và sử dụng có hiệu quả một số đồ dùng học tập thiết yếu sau:
4.4.1.1.Bảng con, phấn trắng (hoặc bút dạ), khăn lau.
Bảng con màu đen, bề mặt có độ nhám vừa phải, dòng kẻ ô rõ ràng, đều đặn
(thể hiện được 4 dòng) tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh viết phấn. Phấn trắng có
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 11


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

4.5. Thực hiện đúng qui định khi viết chữ:
* Tư thế ngồi viết: Tư thế lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt
cách vở 25 – 30cm; nên cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết
không bị xê dịch; hai chân để song song, thoải mái (tham khảo hình vẽ minh hoạ ở
trang 2, vở Tập viết 1 – tập 1)
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 12


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

* Cách cầm bút: Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và ngón
giữa) với độ chắc vừa phải (không cầm bút chặt quá hay lỏng quá): khi viết, dùng ba
ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang phải, cán bút nghiêng về bên phải, cổ
tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo, mềm mại, thoải mái.
* Cách để vở, xê dịch vở khi viết: Khi viết chữ đứng, học sinh cần để vở ngay
ngắn trước mặt. Nếu tập viết chữ nghiêng, tự chọn cần để vở hơi nghiêng sao cho mép
vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 độ. Khi viết độ nghiêng
của nét chữ cùng với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 90 độ. Như vậy, dù viết
theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ
khác nhau về cách để vở).
* Cách trình bày bài: Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập viết;
viết theo yêu cầu được giáo viên hướng dẫn tránh viết dở dang chữ ghi tiếng hoặc viết
chòi ra mép vở không có dòng kẻ li; khi viết sai chữ, không được tẩy xoá mà cần để
cách một khoảng ngắn rồi viết lại.
5/ Đổi mới phương pháp dạy học:
Muốn cải tiến quy trình dạy tập viết, điều không thể thiếu được là phải đổi mới

+ Viết mẫu trên khung chữ thật thong thả cho học sinh theo dõi (ghi nhớ thứ tự
các nét).
+ Viết mẫu trên dòng kẻ ở bảng lớp (hoặc trên bảng con) để học sinh nắm vững
quy trình viết chữ caí. Giáo viên viết mẫu sau đó dùng que chỉ lại để mô tả quy trình.
- Học sinh tập viết trên bảng con, giơ bảng để giáo viên kiểm tra uốn nắn, nhận
xét kết quả (chú ý về hình dáng, quy trình).
5.2.3- Hướng dẫn học sinh viết ứng dụng:
- Giáo viên giới thiệu nội dung viết ứng dụng và viết nội dung từ ứng dụng; sau
đó gợi ý học sinh hiểu ý nghĩa từ ứng dụng sẽ viết.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát và nhận xét về cách viết ứng dụng
(chú ý đến các điểm quan trọng: độ cao các chữ cái, quy trình viết liền mạch - nối chữ,
khoảng cách giữa các chữ cái, đặt dấu ghi thanh…).
- Giáo viên viết mẫu minh họa cách nối chữ (do giáo viên xác định trọng tâm ở
bài dạy), học sinh theo dõi.
- Học sinh tập viết theo trọng tâm nối chữ do giáo viên chọn (chữ ghi tiếng - từ
có thao tác nối). Giáo viên theo dõi, kiểm tra, uốn nắn và nhận xét.
5.2.4- Học sinh thực hành luyện viết trong giờ tập viết:
- Giáo viên nêu yêu cầu và nội dung luyện viết trong vở (viết chữ gì? viết mấy
dòng? cần lưu ý về điểm đặt bút ra sao? viết từ ứng dụng mấy dòng? cần lưu ý về cách
nối chữ và đặt dấu thanh, khoảng cách giữa các chữ ra sao?…)
- Học sinh luyện viết trong vở. Giáo viên theo dõi uốn nắn về cả cách viết và tư
thế ngồi viết (chú ý giúp đỡ học sinh yếu kém).
5.2.5- Chấm bài tập viết của học sinh:
- Giáo viên chấm bài cho học sinh đã viết xong ở lớp (số còn lại thu về nhà
chấm).

Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 14


khi dùng bút mực các em lại bôi mực ra, lạm dụng tẩy, tay cầm bút không đúng quy
định .
- Góc vở, mép vở quăn do các em thường lấy tay uốn góc vở để chơi. Thiếu
cẩn thận khi lấy vở hoặc cất vở vào cặp .
Chương 2: Các biện pháp thực hiện:
1. Đối với Giáo viên:

Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 15


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Ngày đầu tiên nhận lớp giáo viên thông báo cho học sinh sách vở và đồ dùng
học tập cần thiết đối với lớp Một, và hướng dẫn cho các em những yêu cầu cần thực
hiện trong việc giữ vở như sau:
- Vở phải bao bìa cẩn thận, có nhãn và đề tên.
- Vở phải sạch, không giây mực, không bôi bẩn, không tẩy xóa. không quăn góc,
quăn mép, không nhàu nát.
- Trình bày bài viết trong vở phải đẹp và đúng quy định.
Tiếp theo tôi giới thiệu cho học sinh một bộ vở đẹp (đã chuẩn bị sẵn), cho học
sinh biết đâu là bìa, nhãn, góc vở, mép vở và các nội dung trình bày bên trong quyển
vở.
2. Đối với Học sinh:
- Trước khi vào lớp tôi hướng dẫn các em lấy tất cả sách vở và đồ dùng học
tập trong cặp để trên bàn ngay ngắn, gọn gàng theo thứ tự. Khi học xong sắp xếp vào
cặp theo từng ngăn để sách vở khỏi bị rách.


B

C

Đầu năm

22,22%

44,44%

33,33%

Giữa học kỳ I

33,33%

50%

16,67%

Cuối học kỳ I

50%

38,89%

11,11%

Giữa học kỳ II

Trong đề tài này tôi đã đề cập đến một số biện pháp rèn vở sạch chữ đẹp cho học
sinh tiểu học về phân môn tập viết.
Người thực hiện: Tạ Thị Bích Liên

Trang 17


Tiểu luận nghiệp vụ sư phạm

Ngành Giáo dục Tiểu học

Đây là một hoạt động giáo dục quan trọng trong nhà trường. Để làm tốt công
việc này giáo viên phải rèn luyện các em những phẩm chất đạo đức như: Tính cẩn
thận, tinh thần kỷ luật, óc thẩm mỹ, tinh thần kỷ luật, lòng tự tin… Giúp các em học
tập tốt các môn học khác. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với HS,
tận tuỵ với nghề nghiệp, kiên trì, bền bỉ trong công việc…
4. Khả năng ứng dụng:
Trên đây là một vài biện pháp của bản thân để nâng cao chất lượng “Giữ vở
sạch- rèn chữ đẹp” cho học sinh lớp 1; và được vận dụng có hiệu quả ở nhà trường
trong thời gian qua.
5 . Đề nghị:
Trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý một số vấn đề như sau:
- Đến giờ học cần hướng dẫn cho các em tư thế ngồi học đúng, ngồi ngay
ngắn, thẳng cột sống, vai ngang bằng ngực cách mép bàn ít nhất 1cm, chân gập thành
góc vuông, vòng hai tay trên mặt bàn, mắt nhìn thẳng.
- Khi viết bài hướng dẫn tư thế đặt vở. Để vở hơi chếch về bên trái so với mép
bàn.
- Ngồi ngay ngắn, thẳng người, đúng vị trí, lưng thẳng, không tì ngực vào bàn
đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 20-25cm, tay phải cầm bút, tay trái giữ vở để vở
không bị xộc xệch, rách trang, rách bìa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status