Đề xuất mô hình tổ chức và quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
----------------***---------------

BÙI XUÂN HÒA

Đề xuất mô hình tổ chức và quản lý
hoạt động khoa học và công nghệ của
lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.72
Khóa 2005 – 2008

Hà Nội, 2008


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
----------------***---------------

Đề xuất mô hình tổ chức và quản lý
hoạt động khoa học và công nghệ của
lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KH&CN. ................................................................................................................. 13
1.1. Cơ bản về tổ chức ........................................................................................... 13
1.1.1 Tổ chức cơ học ........................................................................................... 14
1.1.2 Tổ chức hữu cơ .......................................................................................... 15
1.2. Cơ bản về quản lý ........................................................................................... 17
1.3 Cơ bản về hệ thống .......................................................................................... 19
1.4 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN .................. 22
1.4.1 Tổ chức KH&CN ....................................................................................... 22
1.4.2 Một số vấn đề của NCKH ........................................................................... 22
1.4.3 Một số vấn đề về công nghệ ....................................................................... 26
1.4.4 Đặc điểm quản lý hoạt động KH&CN ........................................................ 28
1.4.5 Quy trình quản lý hoạt động KH&CN ....................................................... 30
Kết luận Chƣơng 1 ................................................................................................ 33
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG KH&CN CỦA LỰC LƢỢNG CS PCCC. ................................................. 34
2.1 Một số nét khái quát về lực lƣợng CS PCCC. ................................................ 34
2.2 Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của lực lƣợng CS PCCC
hiện nay .................................................................................................................. 37
2.2.1. Khảo sát thực trạng mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của
Trường Đại học PCCC. ...................................................................................... 39
2.2.2. Khảo sát thực trạng mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của
Cục CS PCCC ..................................................................................................... 48
2.2.2. Khảo sát thực trạng mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của
các đơn vị CS PCCC địa phương ........................................................................ 50
2.3 Khảo sát mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN PCCC của Trung
Quốc và Belarus ..................................................................................................... 52

1




DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.

BCH

Ban chấp hành

2.

CAND

Công an nhân dân

3.

CS

Cảnh sát

4.

CSND

Cảnh sát nhân dân

5.

KH&CN


Xã hội chủ nghĩa

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, KH&CN đã trở thành lực lượng sản xuất
hàng đầu, là cơ sở và động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển kinh
tế – xã hội của các quốc gia. Các Mác đã nhận định: ”Những thời đại kinh
tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng
sản xuất bằng cách nào, với tư liệu lao động nào”. Mức độ phát triển của
KH&CN là cơ sở tạo ra các phương tiện sản xuất và cách thức sản xuất của
loài người, do đó nó quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
quyết định sự phát triển của xã hội.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ vai trò then chốt của
KH&CN trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong
sự nghiệp phát triển Đất nước theo định hướng XHCN. Hội nghị lần thứ II
BCH TW Đảng khóa VIII đã có nghị quyết riêng về công tác KH&CN,
trong đó khẳng định: ”Trình độ dân trí và tiềm lực KH&CN đã trở thành
nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới”1.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, nêu rõ:”Tăng cường
tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để KH&CN thực sự trở thành động lực
phát triển đất nước”2.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế và khi nền kinh
tế trí thức đã hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ, hoạt động
KH&CN của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước. Nghị quyết TW 2, khóa VIII của
Đảng đã chỉ rõ: ”Nền KH&CN nước ta phát triển chậm, chưa tương xứng

tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ
KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN”5.
Để tạo điều kiện và thúc đẩy KH&CN phát triển, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới của nước ta hiện nay, phải
đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý KH&CN, tạo ra bước chuyển biến căn
bản trong quản lý KH&CN phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và xu thế hội nhập kinh tế Quốc tế.

3

Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCHTW khoá VIII, Sđd.
Tài liệu phục vụ nghiên cứu: ”Các kết luận Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng (khóa IX)” - NXB chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
5
Bộ KH&CN (2003), Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam đến năm 2010, Ban hành kèm theo Quyết
định số 272/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ
4

5


Trong lĩnh vực PCCC, một quy luật khách quan là khi kinh tế - xã
hội càng phát triển thì nguy cơ xảy ra cháy, nổ càng lớn và hoạt động
PCCC càng phức tạp. Theo thống kê của Cục CS PCCC - Bộ Công an, chỉ
tính trong 10 năm trở lại đây: bình quân mỗi năm cả nước xảy ra gần 1.500
vụ cháy, thiệt hại trực tiếp ước tính khoảng 200 tỷ đồng, làm chết và bị
thương hàng trăm người. Nếu tính thiệt hại gián tiếp thì số liệu này còn lớn
hơn rất nhiều lần. Đặc biệt gần đây những vụ cháy lớn đã xảy ra hầu khắp
các ngành kinh tế - xã hội, đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cho lực lượng Công
an nhân dân nói chung và cụ thể là lực lượng CS PCCC khi đóng vai trò là

- Từ năm 2002 trở về trước toàn bộ hoạt động KH&CN của lực
lượng CAND được giao cho Vụ quản lý KH&CN của Bộ Công an trực tiếp
quản lý và chỉ đạo.
- Từ 2003 đến 2005 toàn bộ hoạt động KH&CN của lực lượng
CAND được giao cho Viện chiến lược và khoa học Công an trực tiếp quản
lý và chỉ đạo.
- Từ 2006 đến nay việc quản lý các hoạt động KH&CN của lực
lượng CAND được phân chia thành hai lĩnh vực:
+ Hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực kỹ thuật do Tổng cục kỹ thuật Bộ Công an trực tiếp quản lý và chỉ đạo.
+ Hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn,
quản lý, pháp luật và nghiệp vụ Công an do Viện chiến lược và khoa học
Công an trực tiếp quản lý và điều hành.
Theo đó, hoạt động KH&CN của lực lượng CS PCCC cũng được tổ
chức và quản lý theo sự biến đổi của mô hình tổ chức trên. Tuy nhiên, hoạt
động KH&CN của lực lượng CS PCCC lại bao gồm cả hai lĩnh vực khoa
học kỹ thuật và khoa học xã hội và nhân văn, quản lý, pháp luật, nghiệp vụ
Công an.
Trong thực tế, từ khi vận hành theo mô hình quản lý này, hoạt động
KH&CN của lực lượng CS PCCC đã gặp không ít những khó khăn, trở
ngại.
Hiện nay mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của
lực lượng CS PCCC đã có những thay đổi. Theo đó, quy mô của lực lượng
cũng như lĩnh vực hoạt động của lực lượng này ngày càng được mở rộng.
Cụ thể:

7


- Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải
đã ký Quyết định số 719/QĐ-TTg về việc thí điểm thành lập Sở CS PCCC

8


2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu hoàn thiện các mô hình tổ chức và quản lý các
hoạt động KH&CN nói chung không phải là vấn đề mới, vấn đề này đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng. Tuy nhiên việc nghiên cứu
hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN trong lực lượng
CS PCCC trong bối cảnh hiện nay chưa được tác giả nào nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức và quản lý hoạt động
KH&CN của lực lượng CS PCCC.
Các mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế mô hình tổ chức và quản
lý hoạt động KH&CN.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng mô hình tổ chức và quản lý hoạt động
KH&CN của lực lượng CS PCCC Việt Nam, Trung Quốc và Belarus.
- Nghiên cứu thiết kế mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN
của CS PCCC Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu: Mô hình tổ chức và mô hình quản lý
hoạt động KH&CN của lực lượng CS PCCC.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức và
quản lý hoạt động KH&CN của lực lượng CS PCCC tại Bộ Công an. Đồng
thời tiến hành nghiên cứu hoạt động KH&CN của lực lượng CS PCCC trên
phạm vi cả nước giai đoạn từ năm 2000 đến nay. Tham khảo mô hình tổ
chức và quản lý hoạt động KH&CN PCCC của Trung Quốc và Belarus.
5. Mẫu khảo sát
 Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của lực lượng CS
PCCC tại các cơ quan quản lý KH&CN của Bộ Công an

hoạt động KH&CN trong ngành Công an; Các văn bản luật, văn bản dưới
luật quy định về hoạt động KH&CN cũng như quản lý các hoạt động
KH&CN.

10


 Phỏng vấn: Phỏng vấn một số chuyên gia trong và ngoài ngành
Công an về lĩnh vực quản lý các hoạt động KH&CN cũng như một số nhà
khoa học trong lực lượng CS PCCC.
 Điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát hoạt động KH&CN tại Trường
Đại học PCCC.
 Thảo luận nhóm: tổ chức 2 buổi thảo luận nhóm về mô hình và tổ
chức quản lý các hoạt động KH&CN trong lực lượng CS PCCC .
9. Dự kiến luận cứ
a. Luận cứ lý thuyết:
 Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của lực lượng CS
PCCC phải tuân theo nguyên tắc của lý thuyết hệ thống, lý thuyết khoa học
về tổ chức.
 Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động KH&CN của lực lượng CS
PCCC phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động KH&CN và
quản lý các hoạt động KH&CN
b. Luận cứ thực tế:
 Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN của lực lượng CS PCCC
giai đoạn 2000 - 2005 đã khẳng định mô hình tổ chức và quản lý hoạt động
KH&CN của lực lượng CS PCCC hiện nay còn nhiều bất cập.
 Những thay đổi về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của lực lượng CS
PCCC có ảnh hưởng tới hoạt động KH&CN.
 Những chính sách mới của Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến hoạt
động KH&CN của lực lượng CS PCCC.

Các yếu tố cơ bản của tổ chức là: Mục tiêu của tổ chức, cơ cấu của tổ
chức, các cá nhân trong tổ chức, phương tiện vật chất của tổ chức và môi
trường tồn tại tổ chức.
Các tổ chức được phân thành hai loại dựa trên: tính năng động, mềm
dẻo, linh hoạt hay cứng nhắc của cơ cấu, chính sách, thủ tục, phong cách
hoạt động, sự kiểm soát và thậm chí cả triết lý tồn tại và phát triển của tổ
chức.[28]
Tổ chức cơ học: Bao gồm những tổ chức thể hiện sự rõ ràng, chi tiết
các quyền lực với quan hệ đẳng cấp, những thủ tục làm việc với phương
pháp cứng nhắc xuyên suốt trong quá trình hoạt động và điều hành của tổ
chức.
Tổ chức hữu cơ: Bao gồm những tổ chức có tính thích ứng cao hơn
tổ chức cơ học về cơ cấu của chúng, về các thủ tục, phương pháp và chính
sách.
Hiện nay, những tổ chức được xây dựng trên các nguyên tắc truyền
thống đều rơi vào dạng tổ chức cơ học thì các tổ chức hiện đại thường được
hình thành theo lý thuyết tổ chức hữu cơ. Trong thời đại ngày nay, khi công
nghệ thông tin đã có bước phát triển vượt bậc và đã thâm nhập vào mọi mặt

13


đời sống xã hội thì sự ra đời của một loại hình tổ chức mới - tổ chức ảo
như một tất yếu.
1.1.1 Tổ chức cơ học
Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp thì sự hình
thành và phát triển lý thuyết tổ chức cơ học được đẩy mạnh. Bên cạnh đó
trong lĩnh vực quân sự lý thuyết tổ chức hữu cơ cũng được phát triển. MaxWeber – nhà xã hội học người Đức – đã có những đóng góp hết sức quan
trọng cho lý thuyết này khi thực hiện sự đối chiếu giữa cơ khí hoá và hình
thành máy móc của tổ chức. Tổ chức cơ học luôn coi trọng tính chính xác,

cứng nhắc là không tránh khỏi đồng thời khi môi trường biến động thì tổ
chức cơ học hầu như không thể thích nghi.
1.1.2 Tổ chức hữu cơ
Lý thuyết tổ chức hữu cơ dựa trên quan điểm xem xét tổ chức như
một cơ thể sống tồn tại trong môi trường, đòi hỏi phải thích nghi với môi
trường để tồn tại và phát triển – như vậy tổ chức hữu cơ là một hệ mở. “Tổ
chức hữu cơ bao gồm các phân hệ gắn liền với nhau, cá nhân, nhóm tổ
chức cũng như phân hệ gắn với nhau trong một tổ chức và đặt trong hệ
thống”7. Khi tổ chức hữu cơ được xem xét như một hệ thống thì vấn đề cốt
lõi là tương tác trong và tương tác ngoài của hệ thống cần được xem xét và
đánh giá chính xác. Điều này quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức
theo hướng thích nghi và không thích nghi với môi trường.
Ưu điểm:
- Mối liên hệ chặt chẽ giữa tổ chức và môi trường.
- Mục tiêu của tổ chức vừa là nguồn gốc tồn tại vừa là động lực phát
triển của tổ chức.
- Có nhiều sự lựa chọn mô hình của tổ chức phù hợp và thích nghi
với môi trường.
- Dễ thay đổi để đáp ứng nhu cầu đổi mới.
- Mối liên hệ giữa các tổ chức đa dạng và phong phú.
Hạn chế:
- Mối quan hệ tổ chức – môi trường có thể làm cho sự thiết kế tổ
chức lệ thuộc vào môi trường mà không đánh giá cao yếu tố nội lực của tổ
chức.
7

Phạm Huy Tiến, Sđd

15


16


tồn tại trong môi trường mới và thích nghi để tìm sự phát triển mới. Tuy
nhiên nếu chuyển sang cấu trúc dự án tất cả và huỷ bỏ cấu trúc chức năng
thì tổ chức mang tính tạm thời và khó thực hiện mục tiêu lâu dài của tổ
chức, mặc dù tính thích nghi với môi trường vẫn đảm bảo.
1.2. Cơ bản về quản lý
Trong quá trình hoạt động xã hội như thực tiễn sản xuất, NCKH, loài
người không thể không xem các đối tượng tác động của mình là một hệ
thống để tiến hành quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, kiểm tra và điều
phối. Trong hoạt động thực tiễn quản lý còn tổng kết, đúc rút thành nguyên
lý, quy luật từ đó chỉ đạo, thúc đẩy các hoạt động xã hội một cách có hiệu
quả. Thực hiện quản lý có hiệu quả là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Theo Karx Marx, bất kỳ một lao động nào hay cộng đồng nào được
tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý. Theo ông,
quản lý, trên phương diện khái quát nhất, là xác lập sự hài hòa giữa các
công việc riêng lẻ và thực hiện những chức năng chung nhất, xuất phát từ
sự vận động của toàn bộ cơ cấu tổ chức.
Trên phương diện mục đích quản lý, Taylor - Nhà kinh tế học nổi
tiếng người Mỹ (1856 – 1915) đã coi quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và sau đó khiến họ hoàn thành công việc tốt nhất
và rẻ nhất.
Trên phương diện nội dung quản lý, Foyal (người Pháp 1841 - 1925)
nói: ”Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”
và ”Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua
người khác”.
Từ những khái niệm trên cho thấy, quản lý là một hoạch định hết sức
quan trọng, và để quản lý thì:

kế hoạch, các kết quả đầu ra mà kịp thời phát hiện ra các sai khác, tìm ra
nguyên nhân, từ đó lập tức đưa ra các hành động, biện pháp điều chỉnh, sửa
chữa.

18


1.3 Cơ bản về hệ thống[26]
Bất kỳ một tổ chức nào cũng là một hệ thống. Muốn tổ chức vận
hành và hoạt động có kết quả nhằm đạt mục tiêu đề ra thì hệ thống đó phải
có cấu trúc và nguyên lý hoạt động tuân thủ theo các quy luật của hệ thống
hay nói một cách khác lý thuyết hệ thống là cơ sở luận cho việc thiết kế và
điều hành tổ chức.
Trong lịch sử nghiên cứu về hệ thống đã có nhiều học giả nổi tiếng
dành nhiều công sức và trí tuệ của mình xây dựng nên những lý luận,
những học thuyết nền tảng về hệ thống:
- Ludwig von Bertalanffy: Ông là một nhà sinh học người Áo (1901
- 1972). Ông đưa ra những tư tưởng của ”Lý thuyết hệ thố ng cơ thể ” vào
những năm 1930, chính thức viết về lý thuyết hệ thố ng vào năm

1949, sau

trở thành cố t lõi cho Lý thuyết hệ thố ng tổ ng quát . Năm 1968, ông xuấ t bản
tác phẩ m ”Lý thuyết hệ thố ng tổ ng quát ” (General System Theory ) và trở
thành cha đẻ của ngành Lý thuyết hệ thố ng .
- William Ross Ashby: Ashby là một nhà tâm lý học người Anh ,
sinh năm 1917, mấ t năm 1999. Năm 1956, ông viết ”Nhập môn Điề u khiể n
học” với những bước phát triể n quan trọng về lý thuyết từ trong những ý
tưởng của Bertalanffy và điề u khiể n học của Wiener


Việc phân loại hệ thống tuỳ theo tiêu chí phân loại để nhận dạng các
hệ thống khác nhau. Cụ thể:
- Theo đặc trưng vật chất hoặc tinh thần: có hệ thống kỹ thuật, hệ
thống sinh học, hệ thống xã hội và hệ thống tri thức, hệ tư tưởng, hệ thống
triết học.
- Theo đẳng cấp quan hệ: hệ thống mẹ, hệ thống con và hệ thống
trên, hệ thống dưới, hệ thống bên.
- Theo quy mô của hệ thống: hệ thống, hệ thống lớn, hệ thống rất
lớn.
- Theo tầm can thiệp vào hệ thống: hệ vĩ mô (macro), hệ trung mô
(mezo), hệ vi mô (micro).
- Theo tính phức tạp: hệ đơn giản (hệ cơ học), hệ phức tạp (hệ sinh
học), hệ rất phức tạp (hệ xã hội).
- Theo số lượng mục tiêu: hệ đơn mục tiêu, hệ đa mục tiêu.
- Theo tính điều khiển: hệ thống điều khiển được, hệ thống không
điều khiển được, hệ thống tự điều chỉnh.
“Trạng thái của hệ thống tại một thời điểm xác định là một tập hợp
các phần tử trong mối liên hệ qua lại với nhau và với môi trường”9. Tập
8
9

Vũ Cao Đàm, Bài giảng Lý thuyết hệ thống, Tài liệu giảng dạy cao học, Hà nội, 2003, tr9
Vũ Cao Đàm, Bài giảng Lý thuyết hệ thống, sđd tr13

20


hợp các phần tử đó biểu hiện những đặc điểm sau - những đặc điểm này có
thể gọi là những thông số trạng thái của hệ thống:
+ Có một thuộc tính bản chất xác định.

+ Tác động vào các môđun hoặc phân hệ của hệ thống.
+ Tác động vào cấu trúc của hệ thống.
Tác động gián tiếp: bằng cách tác động lên môi trường của hệ
thống.
1.4 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và quản lý hoạt động
KH&CN
1.4.1 Tổ chức KH&CN
Tổ chức KH&CN được hiểu là cơ sở, là môi trường để tiến hành các
hoạt động khoa học. Sự ra đời và phát triển của nó nằm trong sự phát triển
của KH&CN. Nó bắt đầu khởi nguồn từ sự nghiên cứu cá nhân chuyển
sang lao động tập thể mang tính xã hội hóa, làm cho nghiên cứu hiện đại
phát triển hiện đại phát triển thành việc xây dựng thể chế xã hội rộng lớn.
Ở Việt Nam, theo Luật KH&CN (năm 2000), tổ chức KH&CN bao
gồm 3 loại hình: Một là, tổ chức NCKH; hai là, các trường Đại học, Cao
đẳng, Học viện; ba là, tổ chức dịch vụ KH&CN.[18]
1.4.2 Một số vấn đề của NCKH
a) Khái niệm
“Là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát
hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là
sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự
vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người”10.
b) Các đặc điểm[27]
- Tính mới: NCKH là quá trình thâm nhập thế giới của những sự vật
mà con người chưa biết. Vì vậy, quá trình NCKH luôn là quá trình hướng
tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Trong NCKH không có sự lặp
lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo. Vì vậy, tính mới là thuộc tính
quan trọng số một của lao động khoa học. Tính mới cần được hiểu là, cho
10

Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận NCKH, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội, 2005, tr17.

- Tính rủi ro: Tính mới của NCKH đồng thời cũng quy định một
thuộc tính quan trọng khác của NCKH. Đó là tính rủi ro. Một nghiên cứu

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status