ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (FDI) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ 21, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 33

Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Nội dung
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể được coi là sự phản biện hung hồn
nhất đối với lý thuyết “vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói”- một lý thuyết khẳng định
rằng các nước nghèo sẽ không thể cải thiện được tình hình của mình do tiết kiệm và
đầu tư luôn ở mức thấp. Đầu nước trực tiếp ngoài chính là nguồn bổ sung cho mức đầu
tư thấp ở các nước nghèo, giúp các nước này đạt mức tăng trưởng tốt hơn, nhờ đó mà
dần cải thiện được tích lũy và đầu tư của mình.
Tuy nhiên, có một lượng vốn chỉ là điều kiện cần, mặc dù không thể thiếu cho
sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Lượng vốn này cần phải được sử dụng hiệu quả
và vấn đề này lại liên quan đến thể chế và mức độ bình đẳng trong việc đối xử với các
nhà đầu tư. Lượng vốn này cũng cần phải được kiểm soát để không phá vỡ các cân đối
vĩ mô, không gây ra những tác động xấu về mặt xã hội. Đây mới chính là điều kiện đủ
để đảm bảo cho việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững của dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Là một nước với nền kinh tế đang chuyển đổi, với mục tiêu công nghiệp hóa
thành công, tiến dần mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020, Việt Nam rất cần sự
hỗ trợ từ phía nguồn vốn FDI và cần hơn nữa là phải biết cách tận dụng nguồn vốn này
một cách hiệu quả nhất. Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu nắm vững những lý thuyết cơ
bản nhất về FDI, thực trạng FDI tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực
này trong những năm gần đây là vấn đề rất có ý nghĩa và bổ ích đối với mỗi học viên
chuyên ngành quan hệ quốc tế của Việt Nam hiện nay.
I. LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ FDI
1. Khái niệm
Với ý nghĩa cốt lõi nhất, FDI hay đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu
tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở
sản xuất, kinh doanh.
Theo IMF: FDI là hình thức đầu tư quốc tế phản ánh mục tiêu của một thực thể
cư trú tại một nền kinh tế nhằm có được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp cư trú
tại một nên kinh tế khác. Lợi ích lâu có nghĩa là tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa
nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu

nguồn lực và tài sản cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của nước chủ nhà. FDI
cũng liên quan đến quyền kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài đối với hoạt động sản
xuất tại nước chủ nhà.
2. Phân loại FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới hiện nay có các hình thức chủ yếu sau:
- Đầu tư vào thành lập tổ chức kinh tế: có thể là thành lập tổ chức 100% vốn
nước ngoài hoặc góp vốn thành lập và tham gia quản lý doanh nghiệp liên doanh.
Theo hình thức này nhà đầu tư sẽ thành lập một pháp nhân mới theo luật pháp nước
chủ nhà. Đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức được các
TNCs thường lựa chọn ở những nước có môi trường đầu tư rõ ràng, ổn định và thích
hợp với nhiều ngành nghề khác nhau. Hình thức doanh nghiệp liên doanh là hình thức
khá phát triển ở các nước đang phát triển. Hình thức này có sự gắn bó trách nhiệm và
quyền hạn chặt chẽ giữa các bên liên doanh, sử dụng được ưu thế của cả hai bên. Hình
thức liên doanh lại có nhiều nhược điểm về cơ chế quản trị, về sự đóng góp của từng
bên vào hoạt động liên doanh, về phân phối kết quả kinh doanh… Do đó, hình thức
này chỉ thích hợp trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút vốn FDI, thích hợp với
những lĩnh vực đầu tư bắt buộc cần phải có sự tham gia liên doanh của chủ nhà: đó các
dự án lớn ở các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng, các dự án nông – lâm
nghiệp, các dự án sử dụng nhiều tài nguyên.
- Đầu tư theo hợp đồng bao gồm: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp
đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao
– kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT).
+ Đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư theo đó bên
nước ngoài và bên chủ nhà cam kết thực hiện các nghĩa vụ và được hưởng các quyền
lợi tương xứng ghi trong một hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không thành lập pháp
nhân mới, hoạt động đầu tư được quản lý trực tiếp bởi một ban điều hành. Đây là hình
thức đơn giản, dễ thực hiện thích hợp với giai đoạn đầu mở cửa cho đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Bên nước ngoài thường đóng góp thiết bị, công nghệ, vật tư, tham gia
kiểm soát chất lượng, còn bên trong nước thường tổ chức sản xuất theo chỉ dẫn của
nước ngoài. Tuy nhiên, hình thức đầu tư này dễ gây tranh chấp do trách nhiệm thường

- Đối với nước chủ đầu tư :
Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở
các nước tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của
vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải
chăng. Mặt khác đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao
uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở
nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào
bảo hộ mậu dịch của các nước.
- Đối với nước nhận đầu tư:
FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội
như thất nghiệp và lạm phát… Qua FDI các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những
doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn
việc làm cho người lao động. FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức
các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, tạo
ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao
động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.
FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục được tình trạng thiếu vốn kéo dài.
Nhờ vậy mà mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm
được giải quyết, đặc biệt là trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá. Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát
triển tiếp cận với khoa học - kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp
tiết kiệm được chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển
trên thị trường quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được du nhập
vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức
quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc
công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi. FDI giúp
các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước ngoài và đi kèm với nó sẽ
là những hoạt động Marketing được mở rộng không ngừng.
3

71726 triệu USD, gấp 3,34 lần tổng vốn đăng kí năm 2007 (21347,8 triệu USD).
Trong năm 2009 và 2010, FDI vào Việt Nam đã giảm đi so với năm 2008 do tác động
của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mặc dù vậy, lượng vốn đăng kí vẫn ở mức cao.
Trong năm 2009, Việt Nam vẫn thu hút được 1.054 dự án với tổng vốn đăng kí là gần
21.500 triệu USD. Năm 2010 Việt Nam thu hút được 1155 dự án, tổng vốn đăng kí là
18595 triệu USD. [nguồn: theo số liệu từ Tổng cục thống kê và Trung tâm Nghiên cứu
Đầu tư nước ngoài].
Để thấy được bức tranh tổng quan về tình hình FDI vào Việt Nam trước và sau
năm 2000, ta có thể tham khảo biểu đồ dưới đây.

4


Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Biểu đồ FDI được cấp phép tại Việt Nam thời kỳ 1988 – 2010

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Tổng cục thống kê và Trung tâm Nghiên cứu Đầu tư nước
ngoài.
Theo biểu đồ trên, có thể thấy có một khoảng cách lớn và ngày càng tăng giữa
FDI công bố và FDI thực hiện. Mặc dù lượng vốn FDI đăng ký được công bố là lớn,
nhưng thực tế cho thấy sự chênh lệch giữa con số đăng ký và con số thực hiện ngày
càng gia tăng. Tỷ lệ giải ngân đạt mức cao nhất trong giai đoạn 1997 – 2004 (73,5%),
nhưng đã giảm mạnh xuống còn 30,4% trong giai đoạn 2006-2008. Một phần của
nguyên nhân của tình trạng này là do xu hướng đua nhau thu hút FDI và có tình trạng
khai quá lượng FDI thu hút được tại các địa phương. Phần khác là do việc thực hiện
các dự án FDI gặp khó khăn so với dự kiến ban đầu hoặc do tình trạng nhiều nhà đầu
tư đăng ký dự án chỉ để giữ chỗ hoặc lấy đất và sau đó bán lại dự án để thu lời.
2. Cơ cấu FDI tại Việt Nam
a. Theo lĩnh vực đầu tư

88579.5
3 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước
72
2231.4
4 Xây dựng
521
7964.4
Tổng số
8198
109755.7
Nguồn: Tổng cục thống kê.
- Lĩnh vực dịch vụ: Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành luật đầu tư nước ngoài. Nhờ
vậy, khu vực dịch vụ đã có những chuyển biến tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
sản xuât, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Một số
ngành dịch vụ khách sạn, nhà hàng; các hoạt động kinh doanh tài sản và dịch vụ, vận tải,
kho bãi, thông tin liên lạc, tài chính tính dụng tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động.
Cùng với việc thực hiện lộ trình thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy
mạnh thu hút FDI phát triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất xuất khẩu. Trong
khu vực dịch vụ, FDI tập trung chủ yếu vào các hoạt động liên quan đến tài sản và dịch vụ
tư vấn bao gồm xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng
KCN (54,42% tổng vốn FDI trong khu vực dịch vụ), nhà hàng, khách sạn (24,48); giao
thông vận tải-liên lạc (10,64%).
Biểu đồ FDI trong lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009
Đơn vị: Triệu USD
Số dự
STT
Chuyên ngành
Vốn đầu tư
án

HĐ phục vụ cá nhân và cộng đồng
118
658.3
Tổng số
3317
79252.9
Nguồn: Tổng cục thống kê.
- Lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp: Đến hết năm 2009, lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư
nghiệp có 738 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí là 4379, 1 triệu USD. Trong số
này, các dự án về nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn là 87,64% tổng vốn
đăng kí ngành. Các dự án thủy sản chỉ chiếm 12,36%.

6


Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Biểu đồ FDI vào Việt Nam trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp giai đoạn 1988-2009
Đơn vị: Triệu USD
STT
Chuyên ngành
Số dự án
Vốn đầu tư
1
Nông nghiệp và lâm nghiệp
575
3837.7
2
Thủy sản
163


Các quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam là các quốc gia trong khu vực
Châu Á, bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Nhật Bản,Thái Lan. Việt Nam vẫn
chưa nhận được nhiều FDI từ EU và nhiều quốc gia phát triển khác trên thế giới.
Cơ cấu FDI tại Việt Nam theo đối tác đầu tư năm 2009

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong giai đoạn 1988-2009, FDI đến từ 5 quốc gia Châu Á đầu tư nhiều nhất
vào Việt Nam đã chiếm đến 41,6% tổng vốn đăng kí. Điều này chứng tỏ là các doanh
nghiệp EU chưa tham gia một cách tích cực vào thị trường Việt Nam mặc dù hộ có
những lợi thế nhất định về qui mô. Tuy không phải là quốc gia có nhiều vốn đầu tư tại
Việt Nam nhất, nhưng Hoa Kỳ vẫn thể hiện xu thế là nhà đầu tư lớn tại Việt Nam
(năm 2009, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, với số vốn đăng ký 9,8 tỷ
USD). Nhiều tập đoàn tên tuối lớn của Hoa Kỳ như Chevron, General Elctric,
ConccoPhillips, AEC, AIG, Ceaterpillar, CitiGroup, ExxonMobil, Ford... đã có mặt tại
Việt Nam và dự báo trong tương lai, Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà đầu tư số 1 tại Việt
Nam.
Đáng lưu ý, trong những năm gần đây, dòng FDI từ Trung Quốc đổ vào Việt
Nam là khá lớn và trong năm 2010, Trung Quốc đã đứng hàng thứ 11, sau Top 10 có
vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, cho thấy xu các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang
chuyển sự chú ý đáng kể đến Việt Nam.
c.Cơ cấu FDI theo địa bàn
Trên thực tế, cho đến năm 2010, tất cả 64 tỉnh thành trong ở Việt Nam đã thu
hút được những lượng FDI nhất định. Tuy nhiên sự phân bổ của FDI theo tỉnh thành là
không đồng đều; FDI chủ yếu tập trung ở các khu vực trọng điểm kinh tế, đặc biệt là
tại các tỉnh có cơ sở hạ tầng phát triển nhất và có sẵn lao động có kĩ năng.

8



góp của FDI trong GDP của Việt Nam cũng rất lớn và ngày càng tăng từ 6.3% năm
1995 lên đến 19% năm 2009.
9


Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Bảng thống kê đóng góp của các khu vực kinh tế vào GDP (%)
Khu vực kinh tế
Tổng GDP
Khu vực nhà nước
Khu vực tư nhân
Khu vực FDI

2002
100
39
48
13

2003
100
39
46
15

2005
100
38
46

mang tính tự phát và thiếu đồng bộ. Công tác qui hoạch ngành nghề, lĩnh vực, sản
phẩm còn nhiều bất cập đặc biệt là trong bối cảnh phân cấp cấp phép và quản lý FDI
về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung.
Về hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến FDI: Các chính sách về thâm
nhập FDI còn duy trì nhiều hạn chế, các chính sách khuyến khích FDI còn dàn trải, và
không hiệu quả chưa hướng FDI vào các lĩnh vực và khu vực mong muốn. Các luật điều
chỉnh còn chưa bao trùm hết các khía cạnh của hoạt động FDI, đặc biệt là hoạt động
M&A và hoạt động cạnh tranh. Còn có sự thiếu đồng bộ, mâu thuẫn giữa luật chung và
luật chuyên ngành, hiệu lực pháp luật còn chưa cao.
Hoạt động xúc tiến đầu tư vẫn chưa được quan tâm đúng mức bằng nguồn ngân
sách hợp lý. Hoạt động này còn thiếu chuyên nghiệp, nội dung và hình thức chưa phong
phú, còn chồng chéo mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Thiếu một văn bản pháp luật cụ
thể qui định về xúc tiến đầu tư khiến cho cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành địa phương
còn chưa hiệu quả.
Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực phục vụ FDI chưa có định hướng chiến lược dài
hạn, chiến lược về nhân lực còn tách rời với chiến lược kinh tế, chưa đáp ứng được nhu
cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiêp FDI về lao động lành
nghề, công nhân kĩ thuật cao và cán bộ quản lý. Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu
hiệu quả. Việt Nam đã đầu tư rất nhiều vốn và kêu gọi nhiều hinh thức đầu tư vào cơ sở
hạ tầng nhưng năng lực cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn không theo kịp được sự phát
triển kinh tế nói chung cũng như nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng. Các khâu
10


Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

yếu nhất của cơ sơ hạ tầng bao gồm: hệ thống đường giao thông, cảng biển, điện vẫn chưa
được cải thiện.
Xét từ góc độ khả năng thu hút đầu tư, các tồn tại trong cơ sỏ hạ tầng, hệ thống
chính sách và pháp luật là những rào cản lớn nhất. Theo Jestro (2007), các hạn chế lớn

hút, quản lý và sử dụng FDI. Do đó, để nâng cao hiệu quả của công tác này, trước hết
cần hoàn thiện các chính sách cũng như nâng cao hiệu quả của các chính sách.
Trước hết, cần nhanh chóng xây dựng một qui hoạch cụ thể cho vốn FDI. Qui
hoạch mới về FDI của Việt Nam cần được hình thành trên cơ sở khảo sát và đánh giá
khách quan thực trạng tình hình thu hút FDI thời kỳ 2001 - 2010, định hướng, mục
tiêu của Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, xu thế phát triển của FDI
thế giới sau khủng hoảng kinh tế với sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nền
kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và các tập đoàn xuyên quốc gia
(TNCs). Qui hoạch này cần hình thành theo 4 định hướng lớn, gồm chất lượng và hiệu
quả cao; phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế ít các - bon; có cam kết về chuyển
giao công nghệ thích hợp với từng ngành, từng dự án và lao động có kỹ năng cao; Đưa
ra những yêu cầu cụ thể về hạ tầng và lao động để từ đó lập các chiến lược, kế hoạch
về lao động và hạ tầng phù hợp, thống nhất.
11


Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Trong qúa trình xây dựng qui hoạch, đổi mới chính sách FDI cần tăng cường sự
tham gia của các doanh nghiệp, các bộ ngành, để có thể biết được nhu cầu thực sự của
ngành đối với sự tham gia của vốn đầu tư nước ngoàivà khả năng thực hiện chính sách
của các cơ quan này. Xây dựng nhóm kĩ trị năng động, chịu trách nhiệm trực tiếp với
Thủ tướng, được tuyển chọn từ các chuyên viên, công chức trẻ, có trình độ, từ các Bộ
ngành để tham gia, lồng ghép ý tưởng. Nhóm này sẽ chịu trách nhiệm xây dựng chính
sách cho toàn Chính phủ, thường xuyên có tương tác hai chiều với Thủ tướng và các
Bộ, cơ quan thực thi chính sách. Sau nữa cần tạo cơ chế để các bộ ngành thường xuyên
trao đổi với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là những nhà đầu tư đang hoạt động
với qui mô lớn để tránh cho họ những rủi ro khi có thay đổi về chính sách và giải
quyết các vướng mắc trong hoạt động kinh doanh của họ. Tiếp tục phát huy hoạt đông
gặp gỡ hàng năm giữa Thủ tướng và các doanh nghiệp, phát triển hoạt động này thành

nhất theo một mục đích chung. Ngoài ra, cấp Trung ương và địa phương cũng cần phối
hợp với nhau để đảm bảo các chính sách FDI của nhà nước được thực thi đúng ở địa
phương và các thông tin về FDI ở địa phương được cập nhật kịp thời về Trung ương
cho mục đích phân tích dự báo. Do đó cần có biện pháp để tăng sự phối hợp đồng bộ,
nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý các bộ ngành, các cấp; đồng thời, phải tăng trách
12


Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

nhiệm giải trình của từng bộ ngành, cơ quan, từng vị trí cán bộ để những người làm
công tác quản lý có trách nhiệm hơn đối với các quyết định quản lý của mình.
Trên cơ sở rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình phân cấp trong quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch đầu tư cần lấy ý kiến của các bộ,
ngành và địa phương nghiên cứu và ban hành một văn bản quy định về quy chế phối
hợp giữa Trung ương và địa phương, và giữa các bộ ngành trong quản lý hoạt động
đầu tư nước ngoài. Cần tạo ra cơ chế giúp các Bộ, cơ quan có báo cáo nhanh, cập nhật
thông tin hàng tháng về tình hình tiếp nhận, cấp Giấy chứng nhận đầu tư và vốn thực
hiện của các dự án đầu tư nước ngoài thuộc phạm vi thẩm quyền của mình về Bộ Kế
hoạch và Đầu tư một cách cập nhật nhất.
d. Tăng trách nhiệm giải trình của các cơ quan và cá nhân tham gia quản lý
FDI
Việc này có thể được thực hiện bằng cách yêu cầu các bộ, ngành tham gia thẩm
tra dự án có trách nhiệm trả lời trong thời hạn quy định; đồng thời chịu trách nhiệm về
các nội dung thẩm tra thuộc chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan mình;
đặc biệt là các nội dung về quy hoạch, đất đai, môi trường, công nghệ…Qui định
quyền và trách nhiệm cụ thể đối với người đứng đầu các cơ quan quản lý cũng như
những chế tài đối với việc thực hiện không đúng chức năng, quyển hạn. Các cơ quan
quản lý cần công khai các chính sách về FDI, đặc biệt là nguồn ngân sách cho hoạt
động xúc tiến, đào tạo nhân lực và xây dựng hạ tầng cho FDI. Công khai danh tính của

Ket-noi.com diễn đàn công nghê, giáo dục

Thủ tục hành chính liên quan đến quá trình đầu tư cần được công bố cụ thể, công khai
và thực hiện một cách nhất quán.
Hướng tới phát triển hiệu quả hệ thống chính phủ điện tử nhằm giảm chi phí và
tăng tính minh bạch trong hoạt động kinh tế xã hội. Mạng thông tin điện tử nội bộ và
mạng thông tin điện tử chính phủ phải phát huy hơn nữa vai trò của mình trong công
tác quản lý nhà nước, nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu quản lý cũng nhu cầu tiếp cận
thông tin từ phía các nhà đầu tư.Nhân rộng mô hình quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001
trong các cơ quan làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp FDI để các cơ quan này
hoạt động hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn ,phục vụ các nhà đầu tư hiệu tốt hơn.
Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cán bộ quản lý,
tăng cường phối hợp và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý sẽ làm tăng tính
minh bạch trong môi trường quản lý, môi trường đầu tư; từ đó góp phần giảm bớt nạn
tham ô, tham nhũng để các hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước
về FDI nói riêng diễn ra hiệu quả hơn.
2. Nhóm các giải pháp riêng
a.Hoàn thiện bộ máy quản lý về FDI
Việc phân cấp quản lý có những mặt trái của nó và đã gây ra những hệ lụy
nghiêm trọng tới ngân sách nhà nước, gây mất cân bằng về thị trường và qui hoạch qui
hoạch. Tuy nhiên, từ những kết quả tích cực mà hoạt động phân cấp mag lại có thể
khẳng định rằng phân cấp là một chủ trương đúng đắn và cần phải tiếp tục được thực
hiện. Để hoạt động phân cấp đạt hiệu quả cao hơn trong bối cảnh năng lực, trình độ
của đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu kém, Việt Nam nên thay đổi một số qui định.
Ngoài ra, tuy hoạt động quản lý nhà nươc về FDI đã được phân cấp nhưng ở
mỗi cấp, các cán bộ quản lý phải kiêm rất nhiều nhiệm vụ từ việc đưa ra các chính
sách, qui hoạch đến việc quản lý các dự án trong quá trình hoạt động. Điều này khiến
cho hoạt động quản lý thiếu hiệu quả vì cơ quan quản lý phải ôm đồm quá nhiều
nhiệm vụ cùng một lúc, chưa kể đến thực tế là đội ngũ cán bộ quản lý FDI của Việt
Nam còn thiếu năng lực quản lý. Do đó, nhà nước cần xem xét việc tách riêng cơ quan

Trước hết, cần nhanh chóng đưa ra một chiến lược khoa học về xúc tiến đầu tư
trong đó các mục tiêu của chiến lược cân phải tương thích với các mục tiêu của chiến
lược FDI, từ đó đưa ra các phương hướng thực hiện hiệu quả. Nhà nước cần xem xét
việc tạo lập các qui định rõ ràng hơn cho hoạt động xúc tiến trong đó qui định rõ
quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể của hoạt động xúc tiến đầu tư, các yêu cầu
và tiêu chí đánh giá các cơ quan làm công tác xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu
tư cần phải định hướng được các nhà đầu tư vào các ngành mũi nhọn của chiến lược
FDI.
Đa dạng hóa các công cụ xúc tiến đầu tư. Tiếp tục đẩy mạnh tham gia các hội
thảo quốc tế, hội chợ thương mại, đón các phái đoàn đầu tư nươc ngoài, tổ chức các
cuộc họp và hội thảo cũng như cử các phái đoàn đầu tư sang thăm các quốc gia khác;
kết hợp sử dụng các biện pháp phi liên lạc cá nhân như các sách hướng dẫn, tài liệu
xúc tiến, viết thư trực tiếp, quảng bá trên các phương tiện truyền thông. Một công cụ
xúc tiến mà Việt Nam cần chú trọng phát triên và sử dụng chính là các website xúc
tiến, bởi đây là một công cụ giúp thực hiện việc xúc tiến ít tốn kém nhưng rất hiệu quả,
phù hợp với điều kiện ngân sách hạn hẹp cho xúc tiến của Việt Nam.
e. Đào tạo nhân lực phục vụ FDI
Có thể thấy nguyên nhân cơ bản gây ra những hạn chế trong chất lượng nguồn
nhân lực Việt Nam là việc thiếu tương thích giữa chiến lược đào tạo và chiến lược phát
triển kinh tế, chiến lược thu hút FDI. Do đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cho FDI, chiến lược lược đào tạo của Việt Nam cần được thay đổi theo hướng cụ thể
hóa những ngành mũi nhọn cần đào tạo nhân lực phù hợp với những ngành mũi nhọn
ưu tiên phát triển và thu hút FDI, từ đó đưa ra phương hướng đào tạo cụ thể.
Hoàn thiện chiến lược giáo dục là giải pháp lâu dài nhất cho bài toán nguồn
nhân lực cho FDI tại Việt Nam. Tuy nhiên, để kịp thời nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực phục vụ FDI, chính phủ cần kịp thời thực hiện một số giải pháp liên quan đến
các hệ thống đào tạo kĩ thuật và dạy nghề.
Một biện pháp nữa là tăng cường cộng tác giữa giáo dục đại học, cao đẳng kĩ
thuât và doanh nghiệp trong đó, sinh viên dành phần lớn thời gian cho hoạt động thực
hành với các mẫu là sản phẩm từ các doanh nghiệp FDI, dưới sự hướng dẫn của các

thông thoáng với hành lang pháp lý khá đầy đủ, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiến
hành đầu tư thuận lợi và hiệu quả. Quan trọng hơn, hoạt động này đã góp phần tích
cực vào cải thiện chất lượng phát triển, khai thác tốt tiềm năng về lao động và tài
nguyên của Việt Nam, nâng cao xuất khẩu, tăng thu nhập và cải thiện tích lũy cho Việt
Nam.
Tuy nhiên, do còn bị ảnh hưởng bởi cơ chế quản lý cũ cộng với sự non nớt,
thiếu kinh nghiệm của một nhà nước mới mở cửa nền kinh tế, hoạt động quản lý nhà
nước về FDI ở Việt Nam vẫn chưa giúp FDI tạo ra các ngoại ứng tích cực mãnh mẽ,
cũng như chưa loại bỏ được hết các ngoại ứng tiêu cực của dòng vốn này. Trong thời
gian tới, nhà nước Việt Nam cần phải triên khai những biện pháp kinh tê-xã hội đồng
bộ hơn nữa để dòng vốn FDI có thể thực sự hỗ trợ một cách hiệu quả cho mục tiêu
phát triển nhanh và bền vững của đất nước./.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status