BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ ÁNH HỒNG
TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ: VAI TRÒ CỦA FDI, HÌNH THÀNH VỐN
VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI - BẰNG CHỨNG TỪ MỘT
SỐ NƯỚC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ ÁNH HỒNG
TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ: VAI TRÒ CỦA FDI, HÌNH THÀNH VỐN
VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI - BẰNG CHỨNG TỪ MỘT
SỐ NƯỚC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
1.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 6
1.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 7
1.5. Bố cục luận văn .................................................................................. 9
2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm ................................................ 10
2.1. Các nghiên cứu phần 1 ................................................................... 11
2.2. Các nghiên cứu phần 2 ................................................................... 13
2.3. Các nghiên cứu phần 3 ................................................................... 15
2.4. Các nghiên cứu phần 4 ................................................................... 17
3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu .................................................... 20
3.1. Mô hình và dữ liệu nghiên cứu ........................................................... 20
3.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 23
4. Kết quả nghiên cứu ................................................................................. 31
4.1. Phân tích thống kê mô tả .................................................................... 32
4.2. Kiểm định tương quan chéo (Crosssection independence) và kiểm định
tính dừng dữ liệu bảng .............................................................................. 35
4.2.1. Kiểm định tương quan chéo (Crosssection dependence) ............ 35
4.2.2. Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (Choi, 2001)................ 35
4.3. Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến ........................................ 37
4.3.1. Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến ................ 37
4.3.2. Kiểm định đa cộng tuyến ............................................................ 38
4.4. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư – Greene (2000) . 39
4.5. Kiểm định hiện tương tự tương quan phần dư – Wooldridge (2002) và
Drukker (2003) ................................................................................. 40
4.6. Kiểm định đồng liên kết trên dữ liệu bảng .......................................... 40
4.7. Phân tích kết quả hồi quy ................................................................... 42
4.8. Hồi quy đối chiếu (Robustness check) và mở rộng ............................ 46
4.9. Phân tích mối quan hệ VECM Granger các biến ............................... 51
5. Kết luận ................................................................................................... 60
1
TÓM TẮT
Chủ đề của bài nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí
gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài,
sự hình thành vốn và độ mở thương mại ở một số nước Châu Á Thái Bình Dương
trong giai đoạn từ năm 1991 – 2014. Kiểm định nghiệm đơn vị được sử dụng để
nghiên cứu thuộc tính dừng của dữ liệu. Trong bài nghiên cứu này, tác giả cũng sử
dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng để nghiên cứu sự tác động của các biến độc
lập: Tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ mở
thương mại lên biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, bài nghiên cứu sẽ ứng
dụng kết hợp kiểm định đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến
trong dài hạn, ứng dụng mô hình VECM Granger để tìm hiểu quan hệ nhân quả
giữa các biến. Kết quả cho thấy tiêu thụ khí gas tự nhiên có mối quan hệ nhân quả
một chiều đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhưng không có mối quan hệ
nhân quả trong dài hạn. Chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ
mở thương mại có quan hệ nhân quả hai chiều với tăng trưởng kinh tế ở các nước
trong mẫu nghiên cứu trong ngắn hạn. Mô hình kết quả hồi quy tìm thấy bằng
chứng về mối quan hệ nhân quả dài hạn giữa hình thành vốn và độ mở thương mại
với tăng trưởng kinh tế.
2
1. Giới thiệu
1.1. Lý do chọn đề tài
Năng lượng, tức là nguồn năng lượng tái tạo và nguồn năng lượng không tái
tạo, đóng vai trò tác động đến việc kích thích quá trình sản xuất trong nền kinh tế.
3
hợp đồng trị giá 400 tỷ USD với Nga để nhập khẩu nguồn khí gas tự nhiên trong ba
thập kỷ tiếp theo.
Nhờ trữ lượng đá phiến dầu và khí đốt dồi dào, năm 2014 Mỹ đã trở thành nhà
sản xuất dầu mỏ và khí đốt lỏng lớn nhất toàn cầu. Họ cũng đứng thứ nhất về sản
lượng sản xuất khí đốt tự nhiên khô. Ở Việt Nam, theo số liệu từ TCTK2, tháng
12/2014, sản lượng khí gas tự nhiên dạng khí đạt 930 triệu m3, tăng 2.2% so với
tháng 12/2013, nâng lượng khí gas tự nhiên dạng khí năm 2014 lên 10190.9 triệu
m3, tăng 4.8% so với năm 2013. Khí hóa lỏng (LPG) tháng 12 đạt 55 nghìn tấn,
giảm 16.1% so với tháng 12/2013, tính chung năm 2014, sản lượng LPG là 650.1
nghìn tấn, giảm 9.3% so với năm 2013.
Trung Quốc – nhà tiêu thụ lớn thứ hai trên thế giới về dầu mỏ và khí đốt. Năm
2014, sản lượng khí gas tự nhiên tại thị trường nội địa tăng 10.7% từ mức tăng
trưởng 9.1% năm 2013, do sản lượng khí đá phiến đầu tiên tại quốc gia này được bổ
sung. Tổng lượng khí gas sử dụng năm 2014 của Trung Quốc đạt 132.9 tỷ m3, với
sản lượng khí thông thường đạt 128 tỉ m3, tăng 9.8% so với cùng kỳ năm 2013. Đối
với Việt Nam, tổng nhu cầu sử dụng khí hóa lỏng trong nước tháng 12/2014 ước
khoảng 115 nghìn tấn, ổn định so với tháng 11/2014. Trong đó, nguồn cung LPG từ
sản xuất trong nước của Nhà máy Dinh Cố và Dung Quất ổn định ở mức 56 nghìn
tấn (bằng 48.7% nhu cầu); nguồn nhập khẩu ước khoảng 59 nghìn tấn (bằng 51.3%
nhu cầu). Tính chung năm 2014, tổng nhu cầu sử dụng LPG trong nước ước khoảng
1,340 nghìn tấn, tăng 3.07% so với năm 2013. Trong đó, nguồn cung LPG từ sản
xuất trong nước của Nhà máy Dinh Cố và Dung Quất ước khoảng 612 nghìn tấn
(bằng 45.67% nhu cầu); nguồn nhập khẩu khoảng 728 nghìn tấn (bằng 54.33% nhu
cầu).3
Khí gas tự nhiên sạch hơn than đá và dầu, bởi vì nó tạo ra sự phát thải khí
CO2 ra môi trường ít hơn 20% so với dầu và ít hơn 50% so với than đá, hiệu quả
hơn và đáng tin cậy hơn so với năng lượng tái tạo, khí gas tự nhiên là câu trả lời dài
hạn thiết yếu đối với năng lượng và sự biến đổi khí hậu của thế giới.4 Các nhà máy
Vì vậy, bất kỳ nỗ lực nào làm hạn chế sự tiêu thụ năng lượng có thể làm cản trở quá
trình tăng trưởng kinh tế và việc nỗ lực khuyến khích sử dụng năng lượng sẽ thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc không tồn tại quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí
gas tự nhiên và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một dấu hiệu cho thấy rằng bất kỳ
sáng kiến nào trong lĩnh vực năng lượng sẽ không có tác động đến sản lượng đầu ra,
phù hợp với mô hình tân cổ điển.
Ở nhiều khía cạnh, khí gas tự nhiên không chỉ khác với điện mà còn là hình
thức khác của năng lượng. Nó không phải là vấn đề gây tranh cãi như năng lượng
hạt nhân mà nó thân thiện với môi trường hơn nhiều khi so sánh với than đá hoặc
dầu; và có thể lưu trữ chứ không phải giống như điện là không lưu trữ được
(Percebois, 2008). Vì vậy, bỏ qua các đặc tính khác nhau của các thành phần năng
lượng không chỉ giấu đi các tác động khác nhau liên quan tới các hình thức của tiêu
5
Advocacy messages for the natural gas sector, International Gas Union; 2010.
<http://www.malaysiangas.com/portal/document/publication/ 1309564614_Advocacy%20f.pdf>. [Ngày truy
cập: 20 tháng 8 năm 2015]
5
thụ năng lượng, mà còn dẫn đến ứng dụng sai chính sách đối với mỗi thành phần
năng lượng, đặc biệt đối với khí gas, đó là những đặc trưng khác biệt với các thành
phần của năng lượng (Payne, 2010).
Hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ
điện, rất ít các tác giả nghiên cứu về tiêu thụ khí gas tự nhiên. Một số các nghiên
cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh
tế đưa ra những kết quả trái ngược nhau. Với mong muốn làm rõ thêm vấn đề này,
trong bối cảnh kinh tế ở một số nước giai đoạn 1991 – 2014, tác giả chọn đề tài:
“TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: VAI
Luận văn tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và
tăng trưởng kinh tế ở một số nước Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 1991 –
2014, dữ liệu được lấy cho 14 nước ở Châu Á Thái Bình Dương, tổng cộng bao
gồm 336 quan sát.
Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế thế giới biến đổi bởi sự toàn cầu hóa
giao dịch thương mại quốc tế và tài chính, cuộc cách mạng thông tin, sự phát triển
của một thị trường dầu mỏ xuyên lục địa, và một sự chuyển dịch của cân bằng
quyền lực kinh tế và chính trị từ phương Tây sang phương Đông. Châu Á Thái Bình
Dương đã có mặt tại cốt lõi của những phát triển địa chấn. Nó đã được cung cấp lên
sự gia tăng đáng chú ý của những con hổ Châu Á, sự nổi trội của cả Trung Quốc và
Ấn Độ thành những thế lực toàn cầu, và sự ra đời của một mạng lưới ngày càng
phức tạp và năng động của mối quan hệ thương mại trải dài toàn khu vực. Tốc độ
tăng trưởng trung bình hàng năm của Châu Á trong 10 năm qua đã liên tục vượt quá
mức trung bình của toàn cầu.
Theo dự báo triển vọng kinh tế khu vực của IMF công bố ngày 7/5/2015, các
nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương sẽ dẫn đầu tăng trưởng toàn cầu trong năm
2015, với mức 5.6%, nhờ sự phục hồi kinh tế ở Ấn Độ và Nhật Bản giúp bù đắp
việc kinh tế Trung Quốc giảm sút. Tỷ lệ lạm phát cũng được dự báo sẽ tiếp tục giảm
và duy trì ở mức thấp, nguyên nhân chủ yếu do giá dầu trên thế giới thấp điều này
đã dẫn đến việc cắt giảm lãi suất trong nhiều nền kinh tế của khu vực.
Châu Á Thái Bình Dương sản xuất khoảng 30% GDP thế giới và chiếm
khoảng 40% nhu cầu năng lượng toàn cầu. Trong 20 năm tới nhu cầu của khu vực
về năng lượng sẽ tăng đáng kể, khoảng 50%, dầu 40%. Trong các nền kinh tế kém
phát triển của Châu Á Thái Bình Dương, các nhu cầu sẽ vẫn còn lớn hơn: nhu cầu
dầu mỏ sẽ tăng gấp đôi và nhập khẩu dầu sẽ tăng gấp ba. Nhu cầu năng lượng của
7
6
Theo Puma Energy [Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015]
8
tăng trưởng tiềm năng trong tương lai cho đất nước thông qua việc ứng dụng
phương pháp sản xuất công nghệ cao. Ở một số nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài
nắm giữ giai đoạn trung tâm trong quá trình nâng cao ngành khí gas. Đối với một số
nước Châu Á Thái Bình Dương, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế và không ngạc nhiên là có nhiều động cơ để thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào nhiều lĩnh vực bao gồm cả ngành dầu khí và gas. Đất nước sẽ
cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài một phạm vi rộng về các cơ hội kinh doanh
đầu tư và những ưu đãi hấp dẫn để giúp họ nhận được nhiều nhất từ nền kinh tế
năng động của các nước. Chính quyền sử dụng các biện pháp ưu đãi như miễn thuế
xuất nhập khẩu với những điều kiện nhất định để khếch đại ngành dầu khí và gas.
Các nước đã thu hút nhiều công ty nước ngoài đến từ nhiều nước để thiết lập hoạt
động của họ trong nhiều loại hình kinh doanh khác nhau bao gồm cả kinh doanh
dầu khí và gas.
Sau khi kiểm định các giả định, các khuyết tật của mô hình như tự tương quan,
đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, hiện tượng nội sinh, vấn đề tương quan chéo
trong dữ liệu bảng,… luận văn đã lựa chọn được mô hình phù hợp nhất và khắc
phục được các khuyết tật trên. Mô hình CCEMG của Pesaran (2006) và AMG của
Eberhardt và Teal (2010), Eberhardt và Teal (2011) là mô hình phù hợp và được nêu
rõ trong phần 3 của luận văn.
Thứ ba, luận văn sử dụng sự phân loại của phương pháp kinh tế lượng bao
gồm các phương pháp đồng liên kết của Kao (1999) có thể phát hiện ra các mối
quan hệ mà nếu không sử dụng sẽ có thể bị sai sót nếu sử dụng các phương pháp
Bởi vì càng giảm bớt tiêu dùng khí gas/năng lượng sẽ kéo theo GDP giảm do bởi
nền kinh tế phụ thuộc vào khí gas/năng lượng. Giả thuyết bảo tồn cho rằng tồn tại
mối quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến sử dụng khí gas/năng
lượng. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế có thể sẽ không tác động nhiều bởi chính sách
làm giảm việc tiêu thụ khí gas/năng lượng. Giả thuyết phản hồi thừa nhận rằng tồn
tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tiêu thụ khí gas/năng lượng và tăng trưởng
kinh tế. Giả thuyết trung lập cho rằng càng giảm tiêu thụ khí gas/năng lượng sẽ
không tác động đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại (Belke và cộng sự, 2011).
Trong phần 2, luận văn sẽ trình bày tổng quan một số các nghiên cứu thực
nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa các biến được sử dụng trong mô hình: Tăng
trưởng kinh tế, tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn
và độ mở thương mại. Có rất ít các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan
hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, hầu hết các tác giả trước chỉ
nghiên cứu về tiêu thụ điện hoặc tiêu thụ năng lượng nói chung trong mối quan hệ
với tăng trưởng kinh tế, rất ít tìm thấy những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan
hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên luận văn sẽ tổng
hợp các nghiên cứu trước đây và phân thành 4 phần các nghiên cứu chính về mối
quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, được trình bày ngay
sau đây.
Mặc dù các bài nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ khí gas tự
nhiên và tăng trưởng kinh tế là hạn chế, nhưng có thể chia các bài nghiên cứu đó
thành 4 phần. Phần đầu tiên liên quan đến các bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đồng
liên kết để suy luận về mối quan hệ nhân quả. Phần thứ hai là các bài nghiên cứu 2
biến đã sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả để nghiên cứu về mối quan hệ giữa các
11
biến, phần thứ 3 bao gồm các bài nghiên cứu 3 biến đã làm theo kiểm định quan hệ
nhân quả nhưng chỉ trong phạm vi tiếp cận 3 biến. Phát sinh từ các khuyết điểm của
12
Khan và Ahmad (2008) đã phát triển kiểm định Johansen (1988) và Johansen
và Juselius (1990) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên theo
đầu người, giá gas và GDP thực bình quân ở Pakistan với dữ liệu hằng năm trong
giai đoạn từ 1972 – 2007. Kết quả cho thấy rằng thu nhập thực bình quân ở Pakistan
có tác động tích cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên trong ngắn hạn và giá cả trong
nước có tác động tiêu cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên. Tuy nhiên kết quả trong dài
hạn thì thu nhập thực cũng có tác động tích cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên, trong
khi giá cả trong nước lại không ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ khí gas trong dài
hạn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu mô hình trong ngắn hạn cho thấy rằng độ co giãn
trung bình của giá cả và thu nhập thực tế của tiêu thụ khí gas tự nhiên (trong điều
kiện tuyệt đối) đều lớn hơn so với mức tiêu thụ điện và than. Hai tác giả cho rằng
những nhà làm chính sách ở Đài Loan và những người đầu tư cá nhân sẽ được lợi
ích từ bài nghiên cứu của họ vì nó cung cấp những thông tin rất hữu ích về thị
trường nhu cầu tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng như nhu cầu tiêu thụ năng lượng nói
chung.
Isik (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự
nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thời kỳ từ 1977 – 2008. Bằng cách
sử dụng mô hình ARDL để nghiên cứu vai trò của sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong
tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả cho rằng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên
cũng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng trong dài
hạn chúng có mối quan hệ tiêu cực. Isik cho rằng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên vẫn
còn ở mức rất thấp, trong khi chi phí cho nguồn năng lượng lại rất cao ở Thổ Nhĩ
Kỳ. Điều này sẽ tác động đến nền kinh tế một cách tích cực trong ngắn hạn và tiêu
cực trong dài hạn.
Mặc dù có nhiều sự đóng góp của các bài nghiên cứu trước, nhưng các bài
nghiên cứu này đều có chung nhược điểm chính là đã không sử dụng phương pháp
tiếp cận Granger để xác định mối quan hệ nhân quả Granger, mà thay vào đó các tác
rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều từ GDP thực đến sự tiêu thụ khí gas tự
nhiên ở nước này.
Payne (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và
sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong giai đoạn từ 1949 – 2006 ở Mỹ. Kết quả nghiên
cứu của tác giả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ tích cực một chiều từ sản lượng đầu
ra đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên. Nghĩa là tăng trưởng kinh tế càng cao thì nhu
cầu tiêu thụ về khí gas tự nhiên ở Mỹ sẽ càng tăng cao.
14
Trong bài nghiên cứu 2 biến khác, Zahid (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ
nhân quả giữa GDP và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên ở 5 quốc gia – Bangladesh,
Pakistan, Srilanka, Nêpal và Ấn Độ trong giai đoạn từ 1971 – 2003 bằng cách sử
dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và phương pháp tiếp cận của Toda và
Yamamoto (1995). Kết quả kiểm định đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ nhân
quả một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP ở Bangladesh và thiếu mối
quan hệ nhân quả cho trường hợp của các quốc gia còn lại là Pakistan, Srilanka,
Nêpal và Ấn Độ.
Theo kết quả nghiên cứu của Lim và Yoo (2012), các tác giả đã khảo sát mối
quan hệ nhân quả trong ngắn hạn và dài hạn giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và
tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc với dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ 1991 –
2008. Các kết quả cung cấp bằng chứng cho thấy tồn tại mối tương quan nhân quả
Granger hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Hàn
Quốc.
Das và cộng sự (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ
khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh trong giai đoạn từ 1980 –
2010. Các tác giả có thể thiết lập mối quan hệ dài hạn và quan hệ nhân quả một
chiều từ GDP thực đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên bằng cách sử dụng kiểm định
nhân quả Granger: Các hoạt động kinh tế ảnh hưởng đến GDP ở Bangladest sẽ có
đến sai lệch kết quả bài nghiên cứu. Do đó trong phần 3 của lý thuyết đã chọn
khuôn khổ 3 biến để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và
tăng trưởng kinh tế.
Aqueel và Butt (2001) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sản lượng quốc
gia và các thành phần của năng lượng bao gồm cả sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được
sử dụng như là một biến kiểm soát ở quốc gia Pakistan, dữ liệu được lấy trong giai
đoạn từ 1955 – 1956 đến 1995 – 1996. Các tác giả đã ứng dụng kiểm định đồng liên
kết của Engle và Granger (1987) và ứng dụng kiểm định nhân quả Hsiao (1981), kết
quả nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng là không tồn tại mối quan hệ nhân quả trong
dài hạn giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan trong giai
đoạn nghiên cứu, trong khi tăng trưởng kinh tế ở nước này sẽ dẫn đến tăng trưởng
trong sự tiêu thụ xăng dầu.
Bài nghiên cứu của Lotfalipour và cộng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ
nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và sự phát thải
khí cacbon ở Iran trong suốt thời kỳ 40 năm từ 1967 – 2007 bằng cách ứng dụng
phương pháp kỹ thuật của Toda Yamamoto. Sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, sự tiêu
thụ các sản phẩm xăng dầu và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên là ba chỉ tiêu cho sự tiêu
16
thụ năng lượng. Các tác giả đã sử dụng biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong mô
hình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả
Granger một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP trong dài hạn. Nghĩa là
gia tăng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên các
tác giả đã không tìm thấy sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, sự phát thải khí cacbon
dẫn đến tăng trưởng kinh tế.
Kum và cộng sự (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas
tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở các nước G7 – bao gồm các nước Canada, Pháp,
Đức, Ý, Nhật Bản, Vương Quốc Anh, Mỹ trong suốt giai đoạn từ 1970 –2008. Vấn
Cách tiếp cận bài nghiên cứu theo khuôn khổ 3 biến đã làm giảm các vấn đề
thiếu biến liên quan, nhưng việc bao gồm một biến thêm vào mô hình (mà trong
nhiều trường hợp là do hạn chế dữ liệu hoặc thiếu dữ liệu) thì ít giải quyết vấn đề
thực sự. Hầu hết các bài nghiên cứu gần đây đã có sự thay đổi trong việc sử dụng
khuôn khổ đa biến.
Chẳng hạn, theo bài nghiên cứu của Apergis và Payne (2010) đã nghiên cứu
mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế cho dữ liệu
bảng gồm 67 quốc gia trong giai đoạn từ 1992 – 2005 trong khuôn khổ sử dụng mô
hình đa biến. Ứng dụng kiểm định đồng liên kết cho dữ liệu bảng không đồng nhất,
bài nghiên cứu đã thêm biến lực lượng lao động và sự hình thành vốn vào mô hình,
với ước lượng mô hình cho kết quả có tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa
các biến trong mô hình và kết quả của quan hệ nhân quả Granger cho thấy mối quan
hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong ngắn hạn
và dài hạn.
Ighodaro (2010) nghiên cứu liên kết giữa việc sử dụng khí gas tự nhiên và
tăng trưởng kinh tế ở Nigeria từ 1970 – 2005. Việc thêm biến chi phí y tế và tiền tệ
nghĩa rộng vào hệ thống, kết quả nghiên cứu đã cho thấy tồn tại sự liên kết trong dài
hạn với dữ liệu chuỗi và mối quan hệ nhân quả một chiều từ việc sử dụng khí gas tự
nhiên đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, Ighodaro cho rằng chính sách bảo tồn năng
lượng liên quan đến sự tiêu dùng khí gas tự nhiên sẽ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế
ở Nigeria.
Shahbaz và cộng sự (2013) đã xem xét mối quan hệ nhân quả ở Pakistan trong
giai đoạn từ 1972 – 2010. Các biến bao gồm vốn, lao động và xuất khẩu trong
khuôn khổ mô hình đa biến. Các tác giả ứng dụng phân tích phương sai để chỉ ra
rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả dài hạn một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự
nhiên đến tăng trưởng kinh tế. Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên có tác động tích cực đến
18
các tác giả như sau:
19
Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế là mối
quan hệ hai chiều trong cả ngắn hạn và dài hạn. Các quan hệ nhân quả hai chiều
trong cũng được tìm thấy giữa sự hình thành vốn và tăng trưởng kinh tế và suy luận
tương tự giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và sự hình thành vốn trong dài hạn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với sự tiêu thụ khí
gas tự nhiên và do đó, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên có quan hệ nhân quả Granger với
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự hình
thành vốn và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Độ mở thương mại có quan hệ nhân quả Granger với các yếu tố tăng trưởng
kinh tế, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự hình thành
vốn.
Trong ngắn hạn, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và đầu tư trực tiếp nước ngoài
có quan hệ nhân quả Granger với tăng trưởng kinh tế. Tồn tại mối quan hệ nhân quả
hai chiều giữa sự hình thành vốn và độ mở thương mại. Ngoài ra, đầu tư trực tiếp
nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với sự hình thành vốn.