Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn TCTD Việt Nam - Pdf 33

1

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Với xu hớng toàn cầu hoá hiện nay, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh
tế đã không còn là vấn đề riêng của bất kỳ một quốc gia nào. Việt Nam đang
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện địa hoá đất nớc, tích cực chủ động hội
nhập kinh tế khu vực và thế giới nên nhu cầu về vốn lại càng trở nên cấp thiết.
Với t cách là các trung gian tài chính, các Tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam
có vai trò hết sức quan trọng đối với việc huy động mọi nguồn vốn trong dân c
để cung ứng cho nền kinh tế với nhứng điều kiện nhất định. Vốn để các TCTD
tiến hành và phát triển các hoạt động kinh doanh của mình không chỉ riêng
nguồn vốn tự có mà chủ yếu là nguồn vốn huy động đợc. Do đó có thể nói hoạt
động huy động vốn có tác động rất lớn đến các tổ chức tín dụng cũng nh toàn bộ
nền kinh tế. Với tầm quan trọng đó của hoạt động huy động vốn, Nhà nớc cần
phải xây dựng một hành lang pháp lý an toàn và thông thoáng, tạo điều kiện cho
các TCTD thực hiện hoạt động này một cách dễ dàng và hiệu quả. Vậy pháp luật
Việt Nam đã quy định nh thế nào về hoạt động huy động vốn của các TCTD? Đi
tìm câu trả lời cho câu hỏi này cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài pháp luật
về huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của
mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam trên cơ sở
hệ thống lý luận cơ bản và thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng các quy
định của pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định đó của các TCTD để chỉ ra
những thành tựu đạt đợc cũng nh những tồn tại hạn chế cần phải khắc phục trong
quá trình huy động vốn và nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó đa ra một số
định hớng nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của các TCTD ở Việt
Nam.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu và đánh giá khái quát các quy định của pháp

trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình
thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và
đợc dùng làm vốn để kinh doanh.
Huy động vốn là hoạt động thờng xuyên và luôn gắn liền với kế hoạch kinh
doanh của TCTD, bởi lẽ vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu để các TCTD tiến
hành các hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì vậy, khi tiến hành các hoạt
động huy động vốn, TCTD phải tính toán sao cho việc sử dụng đồng vốn huy
động đợc hiệu quả nhất. Mặt khác, huy động vốn xét về bản chất chính là việc
TCTD đi vay tiền từ các chủ sở hữu số tiền đó và có trách nhiệm hoàn trả đúng
hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Theo quy định của pháp luật hiện nay, các TCTD đợc huy động vốn thông
qua bốn hình thức:
- Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
- Huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá
- Huy động vốn bằng việc vay vốn của các TCTD khác
- Huy động vốn thông qua vay vốn của Ngân hàng Nhà nớc.
* Vai trò của hoạt động huy động vốn
- Đối với các TCTD :


4
Huy động vốn đem lại nguồn vốn lớn, chủ yếu cho các TCTD tiến hành
các hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này là cơ sở để các TCTD tổ chức mọi
hoạt động kinh doanh; quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động
khác của TCTD; quyết định năng lực thanh toán và bảo đảm uy tín của TCTD
trên thơng trờng; quyết định năng lực cạnh tranh của TCTD... Không những thế,
huy động vốn còn tạo tiền đề để TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh khác
nh: làm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ... góp phần làm tăng thêm lợi nhuận cho
các TCTD.
- Đối với nền kinh tế:

+ Mục tiêu của chính sách tiền tệ: Mục tiêu của chính sách tiền tệ bao
gồm: kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền, tăng trởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Tuỳ thuộc vào việc thực hiện mục tiêu của
chính sách tiền tệ mà sự ảnh hởng của nó đến hoạt động huy động vốn là khác
nhau. Chẳng hạn, khi lạm phát tăng, Nhà nớc có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng
cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì các TCTD huy động
vốn dễ dàng hơn. Hoặc khi Nhà nớc có chính sách khuyến khích đầu t, mở rộng
sản xuất thì TCTD khó huy động vốn hơn vì ngời có tiền nhàn rỗi sẽ bỏ tiền vào
sản xuất vì làm nh vậy có lợi hơn gửi ngân hàng...
+ Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ: Trong quá trình vận hành
các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nớc, mỗi một
công cụ đều tác động đến hoạt động huy động vốn của các TCTD. Cụ thể là:
Lãi suất chiết khấu: Ngân hàng nhà nớc thực hiện tái cấp vốn để cung
ứng tiền ra lu thông bằng biện pháp tái chiết khấu. Nếu chính sách tiền tệ nhằm
chống lạm phát thì lúc đó Ngân hàng Nhà nớc cung ứng tiền ra lu thông với lãi
suất tái chiết khấu cao. Và nh vậy sẽ hạn chế việc các TCTD vay Ngân hàng
Nhà nớc.
Dự trữ bắt buộc: Khi tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là Ngân
hàng Nhà nớc cho hoặc không cho các TCTD sử dụng khối lợng tiền Trung ơng
bị coi là thiếu hay d thừa, tức là thắt chặt hay nới lỏng khả năng tạo tiền của
TCTD.
- Chính sách đầu t của Nhà nớc
Chính sách đầu t của Nhà nớc có hợp lý hay không đều ảnh hởng trực tiếp
đến môi trờng kinh doanh không chỉ của khách hàng mà ngay cả đối với các


6
TCTD. Bởi vì, khi chính sách đầu t hợp lý sẽ tạo điều kiện cho sản xuất phát
triển dẫn đến các TCTD có môi trờng đầu t thuận lợi và đòi hỏi các TCTD phải
tìm mọi cách để mở rộng hoạt động huy động vốn của mình.
- Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nớc

phù hợp. Ví dụ: nhu cầu sử dụng nguồn vốn dài hạn lớn thì phải tìm cách huy
động vốn dài hạn chứ không đợc vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn.
- Công nghệ thanh toán và tin học
Trớc đây công nghệ thanh toán còn lạc hậu, khách hàng chủ yếu thanh
toán bằng tiền mặt. Nhng ngày nay do công nghệ thanh toán hiện đại, thanh toán
không dùng tiền mặt ngày càng chiếm u thế, thay vì thanh toán bằng tiền mặt
khách hàng chuyển sang thanh toán bằng séc, thẻ... Để thực hiện thanh toán
không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng nên ngân
hàng thực hiện đợc việc huy động vốn trên tài khoản của khách hàng.
- Năng lực và trình độ quản lý của cán bộ ngân hàng
Nếu quản lý tốt trong quá trình hoạt động, ngân hàng sẽ đảm bảo đợc an
toàn vốn, nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh từ đó thu hút đợc khách hàng
đến gửi tiền. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, công tác huy
động vốn đợc thực hiện càng nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.
- Mạng lới phục vụ cho huy động vốn
Mạng lới huy động vốn càng rộng rãi càng có thể khai thác tối đa nguồn
tiền nhàn rỗi trong dân c. Do đó, không chỉ cần mở rộng mạng lới ở vùng đông
dân c mà còn cần đợc mở ra ở những nơi cách xa trung tâm thành phố nh nông
thôn, vùng xâu, vùng xa... Ngợc lại, mạng lới hẹp sẽ gây khó khăn cho khách
hàng muốn gửi tiền do chi phí giao dịch lớn, mất thời gian.
- Lãi suất huy động
Đối với ngời gửi tiền là doanh nghiệp, gửi tiền vào các TCTD với mục
đích thanh toán thì lãi suất không phải là cái đích mà họ hớng tới. Điều họ quan
tâm lớn nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ TCTD. Tuy nhiên bên cạnh bộ phận
gửi tiền với mục đích này thì vốn huy động của các TCTD còn bao gồm cả tiền
gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm của dân c với mục đích
hởng lãi là chính, vì vậy lãi suất là điều họ rất quan tâm và bộ phận này rất nhạy
cảm với lãi suất. Mặt khác, khi huy động vốn dới hình thức vay vốn từ các TCTD
khác hoặc vay vốn của Ngân hàng Nhà nớc... để tạo đợc nhiều nguồn vốn đáp


việc huy động vốn của các TCTD.


9
Thứ hai, hoạt động huy động vốn của các TCTD là hoạt động chứa đựng
nguy cơ rủi ro cao, sự tác dộng tích cực hoặc tiêu cực của nó thờng mang tính
phản ứng dây chuyền do đó ảnh hởng đến cả hệ thống TCTD và tác động đến
toàn bộ nền kinh tế. Chẳng hạn, hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi mà
không đợc Nhà nớc quản lý chặt chẽ thì có thể dẫn đến việc các TCTD lợi dụng
đặc quyền đợc huy động vốn bằng nhận các loại tiền gửi để lừa đảo dân chúng
trên phạm vi rộng, với số lợng lớn. Mặt khác, các TCTD huy động vốn mà không
sử dụng vốn đó một cách có hiệu quả, để thất thoát vốn sẽ dẫn đến tình trạng mất
khả năng chi trả, thanh toán cho ngời gửi tiền, từ đó gây tâm lý hoang mang cho
những ngời gửi tiền khác khiến họ đồng loạt tới các TCTD rút tiền, đẩy các
TCTD khác vào tình trạng thiếu khả năng chi trả. Điều đó dẫn đến sự đổ vỡ toàn
bộ hệ thống TCTD, gây ra khủng hoảng về tài chính- tiền tệ, gây mất ổn định
kinh tế. Dân chúng mất lòng tin vào các TCTD, nguồn vốn nhàn rỗi không đợc
tập trung cho đầu t phát triển, nền kinh tế khó mà phát triển đợc. Bởi vậy, hoạt
động huy động vốn cần phải đợc Nhà nớc quản lý chặt chẽ.
Thứ ba, để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khác trong hoạt động huy
động vốn, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho các TCTD trong
quá trình huy động vốn cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Mặt khác,
thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của
các TCTD, Nhà nớc có thể kiểm soát đợc tình hình hoạt động kinh doanh của
các TCTD, từ đó kịp thời có biện pháp xử lý, giúp TCTD thoát khỏi tình trạng
khó khăn về tài chính.
1.2. Kết cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của
các Tổ chức tín dụng

Hiện nay, theo quy định của Luật các TCTD năm 1997 (đợc sửa đổi, bổ

- Có sự chuyển giao một lợng tiền nhất định từ ngời gửi tiền sang tổ chức
nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng. Sau đó, tổ chức nhận tiền
gửi có nghĩa vụ phải hoàn trả cho ngời gửi tiền cả gốc và lãi (nếu có) khi
đến hạn hoặc khi ngời gửi tiền có yêu cầu.
- Quan hệ gửi tiền phát sinh trên cơ sở có sự tín nhiệm giữa các bên.
Tuy quan hệ gửi tiền là quan hệ vay nợ nhng nó có những đặc điểm riêng


11
giúp ta phân biệt với các quan hệ vay nợ thông thờng khác. Đó là:
Thứ nhất, về chủ thể: Quan hệ gửi tiền bao gồm hai loại chủ thể là ngời
gửi tiền và tổ chức tín dụng.
Ngời gửi tiền là tổ chức, cá nhân trong xã hội có nhu cầu gửi tiền và có
tiền để gửi. Họ đóng vai trò là ngời cho vay trong quan hệ này.
Tổ chức nhận tiền gửi là các TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân
hàng, đợc Ngân hàng Nhà nớc cho phép thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi của
công chúng (sự cho phép của Ngân hàng Nhà nớc đợc thể hiện bằng việc ghi
nhận nghiệp vụ này trong giấy phép hoạt động). Trong quan hệ gửi tiền, tổ chức
nhận tiền gửi đóng vai trò là bên đi vay. Tuy nhiên, đây là hoạt động đi vay
mang tính kinh doanh chuyên nghiệp đợc chủ thể này thực hiện thờng xuyên.
Thứ hai, về hình thức của quan hệ: Hình thức của quan hệ gửi tiền đợc xác
lập theo một cách thức riêng (giấy đề nghị gửi tiền) mang tính nghiệp vụ chuyên
biệt, đợc lập theo mẫu in có sẵn của TCTD nhận tiền gửi nhằm bảo đảm tính tiện
lợi, nhanh chóng, đơn giản mà vẫn chứa đựng đầy đủ những nội dung cần thiết
của một hợp đồng vay nợ.
Thứ ba, về mục đích: Trong quan hệ gửi tiền mỗi bên đều hớng tới những
mục đích riêng, thậm chí trong mỗi loại tiền gửi khác nhau ngời gửi tiền lại hớng
đến các mục đích khác nhau.
* Đối với tổ chức nhận tiền gửi: Mục đích của việc nhận tiền gửi là nhằm
huy động vốn để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc cấp

chỉ đợc thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện nhất định và đợc tiến hành một
cách không thờng xuyên nh huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có
giá hoặc vay vốn từ Ngân hàng Nhà nớc.
Thứ ba, thủ tục của việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi giữa TCTD và
khách hàng đợc thực hiện nhanh chóng, đơn giản, không nhất thiết phải thông
qua quá trình thơng lợng hay kiểm tra, thẩm định, đánh giá. Bất kỳ ai có nhu cầu
đều có thể tới TCTD mà mình lựa chọn để gửi tiền, lựa chọn hình thức gửi tiền
phù hợp với mục đích của mình.
Thứ t, huy động vốn bằng nhận tiền gửi là cơ sở để các TCTD cung ứng
các dịch vụ khác cho khách hàng nh dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ
ngân quỹ... Đây cũng là một yếu tố thu hút thêm nhiều khách hàng, làm tăng
nguồn vốn huy động cho các TCTD.


13
Thứ năm, việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD đợc thực
hiện dựa trên cơ sở là uy tín, khả năng tài chính của TCTD, có sự quản lý, giám
sát của Nhà nớc mà không cần thực hiện các biện pháp bảo đảm nh cầm cố, thế
chấp hay bảo lãnh bằng tài sản... nh trong các quan hệ vay nợ khác. Ngời gửi
tiền sẽ lựa chọn TCTD mà mình tin tởng nhất để gửi tiền dới bất kỳ hình thức
nào.
b. Các loại tiền gửi
Khi tham gia quan hệ gửi tiền, ngời gửi tiền luôn hớng tời một mục đích
nhất định. Nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng đó của khách hàng , các TCTD
đa ra nhiều loại tiền gửi khác nhau để ngời gửi tiền lựa chọn hình thức gửi thích
hợp nhất tuỳ thuộc vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn vốn của họ. Dựa
theo từng tiêu chí cụ thể ngời ta có thể phân chia thành nhiều loại tiền gửi khác
nhau. Cụ thể là:
- Căn cứ theo nghiệp vụ quản lý kinh doanh ngân hàng, tiền gửi đợc chia
thành:

Tiền gửi tiết kiệm có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà ngời gửi tiền có
thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần thông báo trớc vào bất kỳ một
ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh
toán) ở chỗ: Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không đợc sử dụng để phát hành
séc và thực hiện giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toán không
dùng tiền mặt để chi trả cho ngời khác, trừ trờng hợp tài khoản tiền gửi tiết
kiệm bằng đồng Việt Nam của ngời c trú đợc sử dụng để chuyển khoản
thanh toán tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm đó, hoặc chuyển sang tài khoản khác do chính chủ
sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài
khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà ngời gửi tiền chỉ có
thể rút tiền mặt sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thoả thuận với tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tơng tự nh tiền
(

Khoản1, Điểu 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/09/2004.


15
gửi có kỳ hạn chỉ khác ở chỗ tiền gửi tiết kiệm có kỳ kỳ hạn thì ngời gửi
tiền chỉ là cá nhân.
- Căn cứ vào ngời gửi tiền, có các loại tiền gửi sau:
+ Tiền gửi của tổ chức
+ Tiền gửi của cá nhân.
- Ngoài ra dựa vào dấu hiệu quốc tịch hoặc nơi c trú, ngời ta phân chia tiền
gửi thành :

cao hơn....
- Đối với nhà nớc
Do tính chất của từng loại tiền gửi khác nhau, mức độ rủi ro về bảo đảm
khả năng thanh toán là khác nhau, đòi hỏi Nhà nớc phải có cơ chế quản lý một
cách thích hợp nhằm kiểm soát có hiệu quả hoạt động ngân hàng, hạn chế đợc
các rủi ro trong hoạt động ngân hàng; bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan
hệ tiền gửi cũng nh sự an toàn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng; bảo đảm sự ổn
định tiền tệ quốc gia và ổn định phát triển kinh tế. Do đó, việc phân chia thành
các loại tiền gửi khác nhau giúp cho Nhà nớc có chính sách quản lý thích hợp
đối với hoạt động huy động vốn vủa các TCTD.
1.2.2 Huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định,
điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và ngời mua.(1)
Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn dới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi,
trong đó TCTD cam kết trả gốc, lãi cho ngời mua sau một thời gian nhất định.
* Các loại giấy tờ có giá do TCTD phát hành:
- Căn cứ vào thời hạn phát hành gồm có:
+ Giấy tờ có giá ngắn hạn: Là giấy tờ có giá có thời hạn dới 12 tháng, bao gồm
kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.(2)
+ Giấy tờ có giá dài hạn: là giấy tờ có giá có thời hạn từ 12 tháng trở lên, bao
gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác.(2)
Khoản 1, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
Khoản 2, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
(2)
Khoản 3, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
(1)

(2)

tiếp nhận những dự án vay vốn lớn, với thời hạn giải ngân cụ thể của khách hàng.
(3)
(4)

Khoản 4, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
Khoản 5, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005


18
Tuy nhiên khi huy động vốn dới hình thức phát hành giấy tờ có giá, các TCTD
thờng phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động. Do đó nghiệp vụ
này đợc tiến hành khi TCTD thiếu vốn. Khi tiến hành, TCTD phải căn cứ vào
khả năng đầu ra để quyết định khối lợng vốn huy động, lãi suất, thời hạn và phơng pháp huy động vốn.
1.2.3 Huy động vốn bằng việc vay vốn giữa các Tổ chức tín dụng
Ngoài việc huy động vốn của dân c và của các tổ chức kinh tế- xã hội,
pháp luật còn cho phép TCTD đợc vay vốn của các TCTD khác ở trong nớc và
các TCTD nớc ngoài. Việc vay và cho vay vốn giữa các tổ chức tín dụng sẽ giúp
cho các TCTD điều hoà, phân phối vốn để tăng cờng khả năng thanh toán, đảm
bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động của từng TCTD. Quan hệ vay vốn này đợc
thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng.
Vay vốn giữa các TCTD là việc cấp tín dụng dới hình thức cho vay của
TCTD (bên cho vay) cho một TCTD khác (bên vay) theo quy định tại điều 49
Luật các tổ chức tín dụng.(1)
Về nguyên tắc, khi thực hiện việc cho vay, đi vay giữa các bên phải đảm
bảo nguyên tắc: Bên vay phải hoàn trả nợ gốc, lãi tiền vay và các loại phí (nếu
có) đúng hạn cho bên vay. Việc cho vay, đi vay giữa các bên phải đảm bảo an
toàn, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Về thời hạn cho vay, các bên có thể thoả thuận vay ngắn hạn (tối đa đến
12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến 60 tháng) hoặc dài hạn (trên 60 tháng) tuỳ
thuộc nhu cầu sử dụng vốn vay của TCTD đi vay, tính chất và khả năng nguồn

1.2.4 Huy động vốn thông qua vay vốn của Ngân hàng Nhà nớc
Ngoài các hình thức huy động vốn đã nêu, các TCTD có thể vay vốn từ
Ngân hàng Nhà nớc. Hoạt động này vừa là một hình thức huy động vốn của
TCTD vừa là một công cụ để Ngân hàng Nhà nớc thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia: Công cụ tái cấp vốn.
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nớc nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phơng tiện thanh toán cho các ngân hàng(1),
Tổ chức tín dụng là ngân hàng đợc vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nớc
dới hình thức tái cấp vốn theo quy định ở điều 30 Luật Ngân hàng Nhà nớc(2)
Nh vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, đối tợng đợc vay vốn của
Ngân hàng Nhà nớc là các TCTD là ngân hàng đợc vay vốn ngắn hạn của Ngân
hàng Nhà nớc thông qua các hình thức: Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết
(1)
(2)

Khoản 9, Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam 1997
Điều 48 Luật các Tổ chức tín dụng 1997


20
khấu, tái chiết khấu thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay có
bảo đảm bằng cầm cố thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngăn hạn khác.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nớc còn cho Ngân hàng Thơng mại vay bổ sung
vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. Trong trờng hợp đặc biệt khi TCTD mất
khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD có thể đ ợc
Ngân hàng nhà nớc cho vay khi Thủ tớng Chính Phủ chấp thuận.
Ngoài các hình thức huy động vốn cơ bản nêu trên, các TCTD có thể sử
dụng để thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi khác thông qua việc làm trung gian
thanh toán và cung cấp dịch vụ đầu t, dịch vụ đại lý... Các nguồn vốn này không
phải do các TCTD huy động nhng tạo cơ hội cho các TCTD sử dụng tạm thời do
đó làm tăng thêm vốn cho các TCTD trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân

thông qua quản lý hoạt động huy động vốn, Nhà nớc có thể kiểm soát đợc tổng
số vốn cũng nh việc sử dụng vốn đó của các TCTD nhằm bảo toàn và phát triển
vốn, đảm bảo an toàn cho hệ thống TCTD.
* Nội dung quản lý Nhà nớc đối với hoạt động huy động vốn của các
TCTD
Pháp luật về quản lý nhà nớc đối với hoạt động ngân hàng nói chung và
hoạt động huy động vốn của các TCTD nói riêng đợc quy định khá chi tiết, đầy
đủ trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau nh: Luật các tổ chức tín dụng 1997;
Luật Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Các văn bản này đã xác định rõ chức năng và nhiệm vụ của từng cơ quan. Theo
đó, việc quản lý các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn
của các TCTD nói riêng đợc trao cho Chính phủ là cơ quan quản lý chung, thống


22
đốc Ngân hàng Nhà nớc, các Bộ , cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp
thực hiện quản lý đối với các TCTD hoạt động trên địa bàn.(1)
Nhà nớc thực hiện việc quản lý của mình thông qua những quy định về:
điều kiện để một tổ chức đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng;
các quy định về thanh tra, kiểm tra hoạt động của tổ chức tín dụng; tổ chức thu
thập, xử lý, cung cấp thông tin và dự báo tình hình thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn.
Ngoài ra, Nhà nớc còn quản lý thông qua việc ký kết hoặc tham gia điều ớc quốc
tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt
Nam vơn ra thị trờng nớc ngoài cũng nh mở cửa cho các ngân hàng nớc ngoài
vào Việt Nam.
Các quy định của pháp luật có liên quan tới quản lý nhà nớc đối với hoạt
động huy động vốn của các tổ chức tín dụng đợc thể hiện cụ thể trong các quy
định về quyền đợc nhận các loại tiền gửi đối với từng loại hình TCTD, các hạn
chế pháp định nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của các TCTD
nh: quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trách nhiệm tham gia bảo hiểm tiền gửi, quy

17/03/1999 về tổ chức, hoạt động của TCTD nớc ngoài, văn phòng đại
diện của tổ chức tín dụng nớc ngoài tại Việt Nam; Nghị định số
89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 về bảo hiểm tiền gửi; Nghị định số
109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 về bảo hiểm tiền gửi...
- Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/09/2004 của thống đốc Ngân
hàng Nhà nớc về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm; Quyết định
1232/2004/QĐ-NHNN ngày24/09/2004 của thống đốc Ngân hàng Nhà nớc về việc bãi bỏ các quy định về nhận tiền gửi và cho vay áp dụng đối với
hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong giai đoạn thí điểm...
- Thông t số 03/2001/TT-NHNN ngày 06/09/2001 của Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam hớng dẫn thực hiện Nghị định số 16/2001/NĐ-CP của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính; Thông t số
09/2001/TT-NHNN ngày 08/10/2001 của Ngân hàng Nhà nớc hớng dẫn
thực hiện Nghị định số 48/2001/NĐ- CP ngày 13/08/2001 về tổ
chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân...
Nhìn chung các văn bản pháp luật do Nhà nớc ban hành quy định về hoạt
động huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD là tơng đối đầy đủ và chặt
chẽ, cụ thể hoá đợc các nội dung nh: Các loại tiền gửi mà TCTD đợc phép huy
động; giới hạn quyền đợc nhận các loại tiền gửi đối với từng loại hình TCTD;


24
quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tiền gửi; quy định trách
nhiệm của TCTD khi huy động vốn bằng nhận tiền gửi; quy định về quản lý Nhà
nớc đối với hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi; cùng các nội dung có
liên quan khác...Về cơ bản Nhà nớc đã thiết lập đợc một hành lang pháp lý tơng
đối đầy đủ và thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD tiến hành các hoạt
động kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật, tạo ra môi trờng cạnh tranh
lành mạnh cho các TCTD trong tiến trình hội nhập. Đồng thời pháp luật cũng hớng tới quyền lợi của mọi ngời dân, đáp ứng tốt hơn nhu cầu gửi tiền và sử dụng
các dịch vụ ngân hàng, lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp với mục đích và yêu

Rõ ràng cùng về một vấn đề nhng ngay cùng một văn bản luật đã không có sự
nhất quán.
Một chứng minh tơng tự: Tại điểm a, mục 1, điều 16 Nghị định số
16/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của
công ty cho thuê tài chính quy định Công ty cho thuê tài chính đợc nhận tiền
gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo các quy định của
Ngân hàng Nhà nớc; tại Điều 32 Nghị định số 13/1999/NĐ-CP ngày
17/03/1999 về tổ chức, hoạt động của TCTD nớc ngoài, văn phòng đại diện của
tổ chức tín dụng nớc ngoài tại Việt Nam quy định Công ty cho thuê tài chính
liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nớc ngoài có thể đợc nhận tiền
gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên, không đợc phép nhận tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi tiết kiệm. Nh vậy, ở đây đã có sự hạn chế quyền huy động vốn bằng
nhận tiền gửi của TCTD phi ngân hàng, ngăn cản sự cạnh tranh lành mạnh, gây
khó khăn cho các TCTD.
Thứ ba, pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi không đảm bảo sự
công bằng, cha phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Điều này thể hiện ở
chỗ còn có những quy định khác biệt về quyền nhận các loại tiền gửi giữa TCTD
có vốn đầu t trong nớc với các TCTD nớc ngoài hoạt động tại Việt Nam, các
TCTD có vốn đầu t nớc ngoài. Chẳng hạn: khoản 1, điều 30 Nghị định số
13/1999 ngày 17/3/1999 về tổ chức, hoạt động của TCTD nớc ngoài, văn phòng
đại diện của TCTD nớc ngoài tại Việt Nam quy định Chi nhánh Ngân hàng nớc
ngoài có thể đợc nhận tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn theo quy định của
Ngân hàng Nhà nớc, không đợc nhận tiền gửi tiết kiệm dới bất kỳ hình thức
nào. Hoặc Công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status