LỜI MỞ ĐẦU
I. Quy định về cấm kết hôn giữa người cùng giới tính
1. Người đồng tính
Khi nói đến kết hôn giữa những người cùng giới tính, xét với đối tượng là một
cá nhân, ta đang nhắc đến người đồng tính. Đồng tính hay đồng tính luyến ái chỉ
việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu
đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong
hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Đồng tính cũng chỉ nhận thức của cá
nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung
điều này. Gay (từ tiếng Anh) chỉ người đồng tính nam, lesbian hay đọc ngắn
là les là chỉ người đồng tính nữ.
Trong nhiều nền văn hóa trước đây, quan hệ đồng tính rất phổ biến. Trong lịch
sử, đồng tính luyến ái, dưới góc độ cá nhân, từng được ca tụng hoặc lên án vì
mỗi xã hội có những chuẩn mực tình dục khác nhau. Ở những nơi đồng tính
được ủng hộ, những quan điểm đó được coi là một cách làm cho xã hội tiến
bộ. Ở những nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bị coi là tội lỗi hoặc
bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính bị luật pháp trừng trị. Từ giữa thế kỷ 20,
đồng tính dần dần không còn bị xem là một căn bệnh và phạm pháp ở hầu hết
các nước phát triển.
Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách
các chứng bệnh tâm thần vào năm 1973. Ảnh hưởng bởi quyết định này, Tổ
chức y khoa thế giới cũng làm việc tương tự vào năm 1990. Tuy nhiên, nhiều
nhà tâm lý học đã công kích quyết định của APA, họ cho rằng quyết định đó là
do áp lực chính trị dữ dội từ các tổ chức ủng hộ đồng tính chứ không phải vì các
1
bằng chứng khoa học vững chắc. Bằng chứng là quyết định của APA chỉ có sự
nhất trí của 32,7% thành viên (số còn lại không tham gia hoặc phản đối) chứ
không phải tất cả đều tán đồng. Trước đó, Liên minh đồng tính nam Hoa Kỳ
(NGTF) đã gửi 18.000 bức thư tới nhà riêng của các hội viên APA để tác động
Yếu tố gia đình: sự ít bảo bọc của người cha và sự quan tâm của người mẹ
là nhân tố chính hình thành đồng tính ở nam giới. Đối với nữ, việc có mẹ
2
qua đời ở tuổi vị thành niên, là con út hay con gái duy nhất trong gia đình
cũng làm tăng khả năng đồng tính. Những người có cha mẹ ly hôn hoặc mất
sớm sẽ có xu hướng đồng tính cao hơn những người có cha mẹ hạnh phúc.
•
Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là
một sản phẩm của xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính
thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn.
•
Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam) : Theo
nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính
lên 28%–48%. Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính
nam. Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người
nữ.
•
Hoócmôn trong giai đoạn bào thai : Các chuyên gia của Viện Toán và
Tổng hợp sinh học quốc gia (Mỹ) cho rằng đồng tính luyến ái có liên hệ
với “ngoại tố di truyền học”, gọi là epi-mark.
•
quốc tế
1. Thực trạng về việc kết hôn giữa người cùng giới tính
Theo một nghiên cứu của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là
khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số). Một nghiên cứu khác do tổ chức
phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn
người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Cũng theo một nghiên cứu
gần đây, ở Việt Nam trong độ tuổi từ 15-59 vào khoảng 1,65 triệu người (3%
dân số). Định kiến cho rằng chỉ có văn hóa nghệ thuật và giải trí mới có nhiều
người đồng tính là sai lầm. Thực tế người đồng tính làm việc trong tất cả các cơ
quan, ngành nghề công việc như một xã hội thu nhỏ.
Tỉ lệ người hoàn toàn đồng tính trong dân chúng (ở các nước phương Tây) là từ
1% đến 10% tùy theo các nghiên cứu khác nhau, đồng tính nam nhiều hơn đồng
tính nữ. Ở các nước phương Đông chưa có nghiên cứu cụ thể, nhưng các ước
tính tỷ lệ này có phần thấp hơn phương Tây (thường dưới 1% dân số). Các số
liệu thay đổi tùy quốc gia. Một nghiên cứu 1992 cho thấy 6.1% nam giới
4
ở Vương quốc Anh từng có hành vi tình dục đồng tính, trong khi ở Pháp là
4.1%. Theo một thống kê 2003, 12% người Na Uy từng quan hệ tình dục đồng
giới. Trong một cuộc thăm dò 2008, trong khi chỉ có 6% người Anh tự nhận là
đồng tính hoặc song tính, 13% người Anh đã từng quan hệ tình dục với người
cùng giới.
Theo kết quả điều tra về đồng tính nữ của Viện Nghiên cứu Xã hội, kinh tế và
môi trường (iSEE) năm 2012 ở Việt Nam thì 92% người đồng tính muốn pháp
luật cho phép kết hôn cùng giới. Trong điều tra tương tự năm 2012 do ICS
(Trung tâm bảo vệ quyền người đồng tính, song tính và chuyển giới) thực hiện
với hơn 2.000 đồng tính nam và đồng tính nữ tham gia thì 71% mong muốn
được pháp luật cho phép kết hôn đồng giới, 25% muốn được sống chung có
đăng kí và chỉ 4% muốn được sống chung không có đăng kí.
hình thức kết hợp dân sự hoặc chung sống có đăng ký cho mọi trường hợp cặp
đôi không phân biệt giới tính hoặc chỉ áp dụng cho các cặp cùng giới”. Đề xuất
được Văn phòng Chính phủ đưa ra sau một thời gian khảo sát về thực tiễn luật
Dân sự và luật Hôn nhân và Gia đình, (trong đó có vấn đề người đồng tính, song
tính và chuyển giới - LGBT), chuẩn bị cho kỳ họp thường niên vào tháng 4 và
tháng 6/2013.
Giả sử như việc kết hôn giữa người đồng giới ở nước ta được thông qua, điều
đầu tiên ta có thể thấy đó là quyền tự do cá nhân của họ được đảm bảo. Những
người cùng giới tính có thể tự do kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu thật sự và
sự tự nguyện.
6
Theo luật hôn nhân và gia đình, khi nam nữ kết hôn, giữa họ phát sinh quyền
và nghĩa vụ. Nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng bao gồm nghĩa vụ và quyền
về nhân thân và tài sản. Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng mang
yếu tố tình cảm, là lợi ích tinh thần giữa vợ và chồng, gắn liền với bản thân vợ
chồng trong suốt thời kì hôn nhân. Những nghĩa vụ và quyền này xuất phát từ
chuẩn mực đạo đức, cách ứng xử mang tính tự nhiên và truyền thống giữa vợ và
chồng. Điều 18 Bộ Luật HN & GĐ có quy định : “Vợ chồng chung thủy, thương
yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”. Bên cạnh đó, Điều 19 còn quy định
“Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt
trong gia đình”. Giữa vợ và chồng thực hiện các nghĩa vụ và quyền nhân thân
với nhau còn đa dạng và phong phú nhiều hơn thế.
Như vậy, khi mà được phép kết hôn đồng giới, giữa họ cũng sẽ phát sinh
quyền và nghĩa về nhân thân như trên. Trên thực tế, dù pháp luật có cấm thì họ
vẫn chung sống với nhau. Một mặt, người đồng tính luôn tìm người bạn đời của
mình để chung sống, dù họ có bị ép buộc kết hơn trên hình thức hợp pháp thì
người đồng tính vẫn có xu hướng quan hệ tình cảm đồng giới ngoài lề. Khi mà
dục của gia đình.
Trên đây là một số điểm tích cực về mặt pháp lý khi cho kết hôn giữa người
đồng giới. Tuy vậy, vẫn còn nhiều điểm nữa mà nhóm em chưa thể bao quát hết.
Nhìn nhận về tính xã hội, việc cho phép kết hôn giữa người đồng giới mang lại
rất nhiều điểm tích cực. Trước hết, nó xóa đi cái nhìn kì thị về người đồng tính.
Người đồng tính thì thường không dám thể hiện con người thật của mình, không
dám thể hiện tình cảm của mình với người bạn tình một cách công khai do sức
ép của dư luận xã hội, gia đình, bạn bè,... Việc cho họ kết hôn với nhau là cách
8
giúp công dân Việt Nam bị đồng tính trở nên hòa nhập hơn với môi trường sống
và cũng thay đổi suy nghĩ về người đồng tính trước đây của một số người cho
rằng đó là bệnh hoạn, ẻo lả,vv... Việc cho kết hôn đồng giới cũng là cách giảm
tỷ lệ bạo lực đối với người đồng tính. Ở Việt Nam, bạo lực đối với người đồng
tính xảy ra chủ yếu trong gia đình như bố mẹ đánh, hành hạ con,... Ở Mỹ,
theo FBI 15,6% vụ tấn công do thù ghét được trình báo với cảnh sát là do kỳ thị
thiên hướng tình dục. Trong đó 61% vụ tấn công là nhằm vào người đồng tính
nam. Hiện nay đồng tính có thể bị xử tội chết ở các nước Iran, Mauritania,
Nigeria, Pakistan, Saudi Arabia, Sudan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống
Nhất và Yemen. Có lẽ việc đối xử với người đồng tính như vậy do bối cảnh xã
hội và cơ chế kinh tế của mỗi quốc gia nhưng chính hành động như vậy đã đi
ngược lại quyền con người.
3. Mặt hạn chế của việc cho kết hôn giữa người cùng giới tính
Vấn đề cho người đồng giới kết hôn ở nước ta không sớm thì muộn cũng được
thông qua và cho phép. Nhưng cứ giả sử cho phép người đồng giới kết hôn trong
bối cảnh bây giờ thì có rất nhiều điểm bất cập xảy ra.
Đầu tiên về quy định trong luật. Hiện nay các nhà làm luật vẫn phân vân nên
bỏ quy định tại khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 hay quy định
kết hợp dân sự hay ra một bộ luật riêng cho kết hôn đồng tính. Người hưởng ứng
truyền thống dân tộc. Dân tộc Việt Nam có một truyền thống từ lâu đời về văn
hóa và văn hiến, kết tinh thành hệ giá trị chân – thiện – mỹ như một hệ giá trị
10
phổ quát của văn hóa, của mọi dân tộc trong quốc gia – dân tộc mình và trong
cộng đồng nhân loại. Song mỗi dân tộc, do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử
riêng của mình, từ những trải nghiệm trực tiếp trong thực tiễn lao động và đấu
tranh, trong môi trường tự nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển, lại có những
quan niệm và cách thức biểu hiện riêng của mình về chân – thiện – mỹ. Nó biểu
hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập quán và lối sống, tạo thành tính cách
của con người và cộng đồng dân tộc. Các giá trị văn hóa truyền thống đó kết tinh
lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo đức và cách thức ứng xử, phản
ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả một dân tộc, có trong các
sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa.
Vấn đề “đồng tính” thì mới được nhắc tới nhiều trong thời gian gần đây. Nó
không hề tồn tại trong nền văn hóa của nước ta. Nếu cho kết hôn đồng giới thì
cũng là cái mới nhưng cũng là cái chưa hợp với phong tục tập quán của con
người Việt Nam. Nếu chưa muốn cho họ kết hôn thì cũng có thể dùng biện pháp
“mềm”. Đây là phương hướng của nhóm :
“Quy định về việc kết hôn đồng giới không được công nhận thay vào việc quy
định là cấm”. Xét về hậu quả của việc chung sống giữa những người cùng giới
tính thì pháp luật đã quy định, đương sự phải có căn cứ chứng minh công sức
của mình để chia tài sản. Về con cái, chỉ nhận con nuôi một bên vì theo Luật
Con nuôi 2000 không cho hai người cùng giới tính được nhận con nuôi. Những
quy định này làm cho những người đồng tình không cảm thấy quyền lợi của họ
bị xâm phạm.
Kèm với phương hướng trên ta hãy đợi “Thời cơ chín muồi” : khi mà việc
công nhận kết hôn giữa người cùng giới không còn trở lên xa lạ trên hầu hết các
nước trên thế giới thì nước ta hãng cho phép. Như vậy, pháp luật nước ta không