MỤC LỤC :
A. LỜI MỞ ĐẦU.
1
B. NỘI DUNG.
1
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC NUÔI CON NUÔI.
1
II. SỰ KHÁC NHAU VỀ ĐIỀU KIỆN VÀ HẬU QUẢ PHÁP
LÝ CỦA VIỆC NUÔI CON NUÔI TRONG CHƯƠNG NUÔI
CON NUÔI THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2000 VÀ LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010.
1.SỰ KHÁC NHAU VỀ ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆC NUÔI CON NUÔI:
2
2
2. SỰ KHÁC NHAU VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC NUÔI
CON NUÔI.
7
C. KẾT BÀI.
10
2
Tại Điều 2 Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định về mục đích nuôi con
nuôi như sau: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài,
bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con
nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”.
Việc nuôi con nuôi theo pháp luật hiện hành được thực hiện theo những
nguyên tắc được quy định tại Điều 4 Luật nuôi con nuôi năm 2010:
- Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống
trong môi trường gia đình gốc.
- Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được
nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân
biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
- Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình
thay thế ở trong nước.
Những nguyên tắc này là căn cứ của pháp luật hiện hành giúp các nhà làm
luật dựa vào để xây dựng nên những điều kiện và hậu quả pháp lý phù hợp trong
việc nuôi con nuôi.
II. SỰ KHÁC NHAU VỀ ĐIỀU KIỆN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC
NUÔI CON NUÔI TRONG CHƯƠNG NUÔI CON NUÔI THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 VÀ LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM
2010.
1. SỰ KHÁC NHAU VỀ ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆC NUÔI CON NUÔI:
Điều kiện nuôi con nuôi được quy định khá cụ thể trong Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 và đã được kế thừa tại Luật nuôi con nuôi năm 2010. Tuy
nhiên, giữa 2 bộ luật này vẫn có những điểm khác nhau (sự khác nhau này chủ yếu
4
trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm
con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không nhất
thiết phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên hay có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế,
chỗ ở. Các quy định này có ý nghĩa vô cùng lớn, giúp tạo điều kiện cho trẻ được
sống trong gia đình có mối quan hệ huyết thống hoặc gia đình có quan hệ họ hàng,
cho trẻ em một mái ấm đúng nghĩa trên cơ sở là tình yêu thương giữa các thành
viên trong gia đình. Quy định này còn phù hợp với nguyên tắc giải quyết việc nuôi
con nuôi được quy định trong khoản 1 Điều 4 Luật nuôi con nuôi năm 2010 là:
“Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống
trong môi trường gia đình gốc”.
Ở khoản 4 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định người
nhận nuôi con nuôi phải có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi nhưng lại chưa nêu rõ điều kiện thực tế ở đây là
những điều kiện gì, gây nên khó khăn, nhầm lẫn vì không có cơ sở, căn cứ để xác
định một người có đủ điều kiện hay không. Ở vấn đề này, Luật nuôi con nuôi năm
2010 đã nêu rõ ràng hơn trong điểm c Khoản 1 Điều 14 là người nhận nuôi con
nuôi phải có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con nuôi.
Về người nhận con nuôi, so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì
Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn quy định rõ cấm ông bà nhận cháu làm con nuôi,
hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi ( Khoản 6 Điều 13). Trường hợp này rất
dễ xảy ra trong thực tế, vì nếu bố mẹ đẻ của đứa trẻ vì một nguyên nhân gì đó
không thể nuôi con được thì với tình yêu thương vốn có của mình, ông bà hoặc anh,
chị, em sẽ là những người muốn cưu mang, chăm sóc đứa trẻ nhất và có thể dẩn
đến việc nhận đứa trẻ làm con nuôi. Như vậy thì giờ đây, quan hệ giữa những
5
6
2000. Sự tự nguyện trong việc nuôi con nuôi là rất cần thiết, đáp ứng được mục
đích cho nhận con nuôi, là yếu tố quyết định việc xác lập quan hệ cha mẹ và con
được tốt đẹp. Nếu không có sự tự nguyện thì mục đích nuôi con nuôi sẽ không đạt
được, tính nhân văn bị mất đi và lợi ích đứa trẻ sẽ bị xâm phạm.
Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn quy định: “Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý
cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày’’. Quy định nhằm
tránh các trường hợp cha mẹ đẻ và các cá nhân, tổ chức khác có sự thỏa thuận cho
trẻ làm con nuôi trước khi sinh; hoặc cha mẹ đẻ trong hoàn cảnh đặc biệt như hoàn
cảnh nghèo khổ, hay muốn có con trai đầu lòng. . . đã chấp nhận cho con vừa sinh
ra làm con nuôi mà không có sự suy nghĩ kĩ lưỡng. Mặt khác, đứa trẻ vừa mới sinh
ra thì còn đang non yếu, sức đề kháng đang còn kém, nó cần đến sự chăm sóc của
người mẹ một thời gian để đứa trẻ cứng cáp hơn. Do đó, 15 ngày sau khi sinh con
sẽ là thời gian để đứa trẻ ổn định về sức khỏe đồng thời cũng là thời gian để cha
mẹ đẻ suy nghĩ kĩ hơn về việc có nên cho con làm con nuôi của người khác
không.
Trong thực tế đời sống tồn tại khá nhiều các trường hợp nhận con nuôi
nhưng không đăng kí việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây
là những trường hợp xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội. Một trong
những trường hợp đó là nuôi con nuôi thực tế. Theo Điều 50 Luật nuôi con nuôi
năm 2010, việc nuôi con nuôi thực tế phải được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể
từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Các bên có đủ
điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan
hệ nuôi con nuôi; b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con
vẫn đang tồn taị và cả hai bên còn sống; c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan
hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con. Như vậy, so với Luật
hôn nhân và gia đình 2000 thì Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ ràng,
đẻ nhưng trong hệ thống pháp luật có một vài quy định về một số quyền mà
người con nuôi vẫn được hưởng từ gia đình như Đoạn 2 Điều 74 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 (hưởng quyền lợi của con liệt sĩ, con thương binh,
con của người có công với cách mạng), Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2005
(quyền về thừa kế). Nghĩa là ngoài các quyền đã được quy định này thì các
quyền khác giữa cha mẹ đẻ và con nuôi không được pháp luật thừa nhận.
8
Để làm rõ ràng hai quan điểm này, Khoản 4 Điều 24 Luật nuôi con nuôi năm
2010 quy định: “Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận
khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm
sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý,
định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi’’. Như vậy, quy định này đã
phủ định quan điểm thứ nhất ở trên, tránh được sự nhầm lẫn, đưa ra các cách hiểu
khác nhau về quy định của pháp luật. Sự chấm dứt các quyền và nghĩa vụ này của
cha mẹ đẻ với con nuôi là hoản toàn hợp lý, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người
con nuôi có được một sự giáo dục thống nhất, một chỗ ở ổn định và một tình yêu
thương trọn vẹn từ gia đình duy nhất của mình. Hơn nữa, nếu như pháp luật quy
định giữ nguyên các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ với con nuôi thì có thể sẽ
dẫn tới nhiều trường hợp không hay trên thực tế như : người con nuôi có tình cảm
thiên lệch về một bên gia đình; hai bên gia đình tranh giành quyền quản lý, định
đoạt tài sản riêng đối hoặc đùn đẩy nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đứa
con. . . Những trường hợp này đều gây ra những hậu quả bất lợi cho các bên liên
quan, nhất là với người con nuôi, trái với mục đích nuôi con nuôi là “vì lợi ích tốt
nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”. Nhìn thấy những điểm bất cập đó,
các nhà làm luật đã xây dựng lên quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp
cho các bên liên quan, nhất là lợi ích của người con nuôi.
nhân dân cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự
hòa nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng’’. Quy định này thể
hiện sự quan tâm sâu sắc của pháp luật đối với lợi ích người con nuôi, giúp giảm
phần nào tình trạng bạo hành, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hay các
hành vi trái pháp luật khác gây bất lợi đối với người con nuôi xảy ra trên thực tế.
Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định : ‘‘Con liệt sĩ, con
thương binh, con của người có công với cách mạng được người khác nhận làm con
nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của liệt sĩ, con thương binh, con của
người có công với cách mạng’’. Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã bác bỏ hoàn toàn
quy định này nhằm tạo sự phù hợp với Khoản 4 Điều 24 Luật này về sự chấm dứt
các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con nuôi với nhau. Sự bác bỏ này còn
tránh được tình trạng người nhận nuôi con nuôi lựa chọn thiên vị về con liệt sĩ, con
thương binh, con của người có công với cách mạng làm con nuôi để được hưởng
chính sách, mất đi tính nhân văn của việc nuôi con nuôi.
So với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000( Điều 78), Luật nuôi con nuôi
năm 2010 đã quy định rõ hơn về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi.
Thể hiện ở khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi: “ trường hợp con nuôi được giao
cho cha mẹ đẻ thì các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định
tại khoản 4 điều 24 của Luật này được khôi phục”. Như vậy, việc nuôi con nuôi
không làm chấm dứt hoàn toàn quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ với con đẻ. Quy
định này phù hợp với nguyên tắc ưu tiên cho trẻ em được sống trong môi trường
gia đình gốc, đưa trẻ em được trở về môi trường sống trước đây của mình, giúp cho
trẻ đỡ phải làm quen lại từ đầu ở một môi trường mới khác. Hơn nữa, được sống
trong gia đình có quan hệ huyết thống, máu mủ sẽ là cơ sở để trẻ có được sự yêu
thương và hạnh phúc. Có thể thấy rằng, việc chấm dứt nuôi con nuôi là một điều
10
bất lợi cho các bên, đặc biệt là đối với trẻ em, không phù hợp với mục đích nuôi