A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tập trung kinh tế là hiện tượng thuộc về quyền tự do của các doanh
nghiệp, theo các nguyên lý của kinh tế thị trường mà ở đó quyền tự do khế
ước, tự do lập hội... được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện. Điều
này, ở nước ta được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự và trong Luật Doanh
nghiệp. Tuy nhiên, tự do suy cho cùng cũng chỉ là “nhận thức được quy
luật”, hay nói khác đi, tự do nào cũng cần có giới hạn. Tiếng gọi của lợi
nhuận nhiều khi đã làm cho các doanh nghiệp vô tình hay cố ý vượt qua biên
giới của quyền tự do đó. Và vào điểm giới hạn đó, pháp luật cạnh tranh xuất
hiện và như thế, tính chất và mục đích của pháp luật cạnh tranh là khác hẳn
với pháp luật dân sự, thương mại, doanh nghiệp - những pháp luật tạo tiền
đề của tự do để tăng cường, gia tăng năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp còn pháp luật cạnh tranh thì không. Pháp luật cạnh tranh chỉ đảm bảo
cho các doanh nghiệp sử dụng đến tận cùng những khả năng sẵn có của
mình bằng những phương thức chân chính. Với những quy định như thế thì
tập trung kinh tế để lại những hậu quả pháp lý nhất định. Vậy hậu quả pháp
lý đó là gì? Em xin chọn để tài “Hậu quả pháp lý của việc thực hiện tập
trung kinh tế theo Luật cạnh tranh 2004” để làm bài tập lớn học kì. Do thời
gian có hạn và kiến thức chưa sâu sắc nên bài làm của em còn nhiều thiếu
sót. Em rất miong được các thầy cô trong tổ bộ môn chỉ dạy them để em
hoàn thiện bài làm của mình.
Em xin cảm ơn!
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Một số vấn đề lý luận chung về tập trung kinh tế.
1. Khái niệm tập trung kinh tế.
Pháp luật cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm mang tính
khái quát để định nghĩa hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hình thức
tập trung kinh tế. Theo điều 16, điều 17 Luật cạnh tranh 2004 thì tập trung
kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp hợp
nhất doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiêp
và các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn mạnh, thay đổi cấu trúc thị trường và
tương quan cạnh tranh trên thị trường.
2
Các doanh nghiệp tham gia hoạt động tập trung kinh tế đã tích tụ
nguồn lực tài chính, kỹ thuật, lao động, năng lực tổ chức quản lý kinh doanh
của các doanh nghiệp riêng lẻ để hình thành, tập đoàn kinh tế lớn mạnh hơn.
Đặc điểm này sẽ phân biệt tập trung kinh tế dưới góc độ pháp lý khác với
việc tích tụ tư bản trong kinh tế học.
II. Hậu quả pháp lý của tập trung kinh tế.
1. Các trường hợp tập trung kinh tế phải thông báo với cơ quan quản lý
cạnh tranh trước khi thực hiện.
Các nước khác nhau có cách thức kiểm soát tập trung kinh tế khác
nhau, một số nước đã thiết lập một hệ thống thong báo trước khi thực hiện
các vụ sáp nhập như Pháp, Braxin, Canada…Một số nước thiết lập thông
báo sau khi thực hiện tập trung kinh tế như Achentinna, Nhật Bản, Tây Ban
Nha…Một số nước báo cáo việc kiểm so át sáp nhập chỉ đối với các trường
hợp tình nguyện thông báo như Na Uy, Vương quốc Anh…Nhưng hầu hết
các nước quy định nghĩa vụ phải thông báo khi các doanh nghiệp liên quan
hoặc dường như có một mức độ tập trung kinh tế nhất định biểu hiện qua tỷ
lệ phần trăm (%) thị phần hay một định lượng doanh thu cụ thể.
Việt Nam áp dụng kiểm soát tập trung kinh tế theo hình thức tiền
kiểm và yêu cầu trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh
tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì phải
thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi thực hiện hành vi tập
trung kinh tế. Trường hợp này bị áp dụng thủ tục kiểm soát bởi vì khi một
doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên qua sẽ bị coi là
có vị trí thống lĩnh và cần được kiểm soát.
Như vậy, nếu tập trung kinh tế thuộc diện phải thông báo thì thủ tục
xem xét các vụ tập trung kinh tế bao gồm các bước:
- Bước 1: Thông báo tập trung kinh tế.
trong đó có những hàng hóa và dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều
kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.
+ Xác định các doanh nghiệp tham gia vào thị trường liên quan và
“ngưỡng” nhất định để kiểm soát tập trung kinh tế.
Việt Nam xác định ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế theo tiêu chí
thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh
nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế.
Muốn xác định được chính xác thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham
4
gia tập trung kinh tế cần có sự phối hợp giữa cơ quan đăng kí kinh doanh,
các cơ quan cạnh tranh trong việc quản lý thống kê công khai về số liệu các
doanh nghiệp, điều tra về tập trung kinh tế.
Nghị định số 120/2005/NĐ - CP của Chính phủ ngày 30/09/2005 về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh
- Bước 2: Thụ lý hồ sơ thông báo tập trung kinh tế.
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông
báo việc tập trung kinh tế, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông
báo bằng văn bản cho doanh nghiệp nộp hồ sơ về tính hợp lệ, đầy đủ của hồ
sơ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách
nhiệm chỉ rõ những nội dung cần bổ sung.
- Bước 3: Trả lời thông báo về hồ sơ tập trung kinh tế.
Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ
sơ thông báo tập trung kinh tế, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm trả
lời bằng văn bản cho doanh nghiệp nộp hồ sơ. Văn bản trả lời của cơ quan
quản lý cạnh tranh phải xác định tập trung kinh tế thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
+ Tập trung kinh tế không thuộc trường hợp bị cấm;
+ Tập trung kinh tế bị cấm theo quy định tại điều 18 Luật cạnh tranh;
lý do cần phải được nêu rõ trong văn bản trả lời.
Trường hợp tập trung kinh tế có nhiều tình tiết phức tạp, thời hạn trả