LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình đổi mới đất nước, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
là một trong những mục tiêu quan trọng được Đảng và Nhà nước hết sức
quan tâm chỉ đạo thực hiện. Những thành quả đạt được về kinh tế trong
những năm đổi mới về kinh tế là những minh chứng thuyết phục về sự năng
động, sáng tạo của đảng ta trong quá trình lãnh đại đất nước. Nói đến đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế không thể không xác định mức độ đảm bảo việc
thưc hiện quyền tự do kinh doanh. Thực tế đã chứng mình muốn bảo đảm
quyền tự do kinh doanh thì hệ thông pháp luật là một trong những nhân tố
quyết định. Bài luận sau đây ít nhiều cũng cho ta thấy được “ pháp luật
hiện hành quy định như thế nào về quyền tự do thành lập doanh
nghiệp”.NỘI DUNG
I. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành
Quyền tự do thành lập doanh nghiệp và đăng kí kinh doanh là nội dung
cơ bản của quyền tự do kinh doanh, là tiền đề để thực hiện các quyền khác
thuộc nội dung của quyền tự do kinh doanh. Về nguyên tắc, hoạt động kinh
doanh chỉ có thể thực hiện với tính chất nghề nghiệp, khi mà các chủ thể
kinh doanh tiến hành. Để thực hiện quyền tự do kinh doanh, các nhà đầu tư
trước hết phải xác lập tư cách pháp lý cho chủ thể kinh doanh, và thông qua
tư cách đó để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Với quyền tự do
thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư có khả năng quyết định lựa chọn mô
hình kinh doanh và lĩnh vực, nghành nghề kinh doanh thích hợp để tiến hành
hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nhà nước ta chủ trương mở
rộng quyền tự do thành lập doanh nghiệp cho nhiều đối tượng có khả năng
đầu tư khác trong xã hội. Pháp luật về doanh nghiệp từng bước được cải
thiện theo hướng ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền tự do thành lập doanh
nghiệp.
+ Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế.
_ Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 1999, các vấn đề pháp lý về
thành lập doanh nghiệp ( thuộc khu vực dân doanh ) đã có những đổi mới
đáng kể. Luật doanh nghiệp đã thể hiện rõ tư tưởng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, coi việc thành lập doanh nghiệp là quyền tự do của
công dân và có cơ chế để đảm bảo quyền này một cách hợp lý.
Theo Điều 9 luật doanh nghiệp năm 1999 có quy định Quyền thành lập và
quản lý doanh nghiệp.
Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, trừ những
trường hợp sau đây:
1. Cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài
sản của Nhà nước và công quỹ để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi
riêng cho cơ quan, đơn vị mình.
2. Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
3. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng
trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân;
4. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhà nước, trừ
những người được cử làm đại diện để quản lý phần vốn góp của Nhà nước
tại doanh nghiệp khác;
5. Người chưa thành niên, người thành niên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực
hành vi dân sự;
6. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành
hình phạt tù hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu,
làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối
khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật;
7. Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh,
Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị,
Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không được
quyền thành lập doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp
Việc quy định rõ ngành nghề được phép kinh doanh theo phương pháp loại
trừ thể hiện tính minh bạch của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà đầu tư tiến hành thành lập doanh nghiệp.
3. Pháp luật hiện hành đã thiết kế nhiều mô hình tổ chức kinh doanh để
các nhà đầu tư tùy nghi lựa chọn.
Một trong những nội dung cơ bản của quyền tự do thành lập doanh
nghiệp là quyền lựa chọn mô hình doanh nghiệp. Về nguyên tắc, quyền lựa
chọn mô hình doanh nghiệp chỉ có thể được đảm bảo thực sự khi pháp luật
ghi nhận nhiều mô hình tổ chức kinh doanh với các tính chất pháp lý khác
nhau để các nhà đầu tư tự do lựa chọn. Theo pháp luật hiện hành, các hình
thức tổ chức kinh doanh được ghi nhận phong phú và đa dang hơn rất nhiều
so với các hình thức trong cơ chế kinh tế cũ. Theo đó các nhà đầu tư có thể
lựa chọn mô hình thích hợp với khả năng và điều kiện cụ thể cụ thể của
mình để tiến hành hoạt động kinh doanh. Các mô hình tổ chức kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, về cơ bản bao gôm:
Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty hợp doanh, công ty tránh
nhiệm hữu hạn, công ty tránh nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ
phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị_ chính
trị xã hội, doanh nghiệp liên doanh, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác…
4. Pháp luật hiện hành đã đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp
và đắng kí kinh doanh.
Đáp ứng yêu cầu của tự do kinh doanh, mà trực tiếp là quyền tự do thành
lập doanh nghiệp, pháp luật hiện hành đã quy định thủ tục thành lập doanh
nghiệp thoe hướng đơn giản hóa thủ tục và đề cao tránh nhiệm của nhà đầu
tư. Về cơ bản, việc thành lập doanh nghiệp do nhà đầu tư tự quyết định và
tiến hành; nhà nước chỉ can thiệp vào quá trình thành lập doanh nghiệp ở
giai đoạn đăng kí kinh doanh. Hồ sơ đăng kí kinh doanh chủ yếu là các giấy
tờ, tài liệu do nhà đầu tư xây dưng.
_ Theo luật hợp tác xã 1996 khi muốn thành lập hợp tác xã, các sáng lập
viên cùng nhau chuẩn bị điều kiện cần thiết để đăng kí kinh doanh công việc