BÀI LÀM
Nhằm đảm bảo lợi ích cho vợ, chồng, tôn trọng quyền sở hữu tài sản riêng
của công dân, cũng như tạo điều kiện cho họ có những điều kiện tốt nhất để sản
xuất kinh doanh thì Luật HNGĐ 2000 đã công nhận quyền có tài sản riêng của
vợ chồng. Tài sản riêng của vợ chồng có thể được hình thành từ nhiều nguồn.
Trong đó thì việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là 1 căn
cứ đặc biệt hình thành tài sản riêng của vợ chồng. Luật HNGĐ đã có những quy
định khá cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên thì vẫn còn 1 số những vướng mắc khi
áp dụng trong thực tế cũng như khi xác định hậu quả pháp lý khi chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Nhằm làm rõ hơn về vấn đề này em
xin được đi sâu vào phân tích vấn đề: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản
chung trong thời kì hôn.
1. Cơ sở của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân.
Tài sản chung của vợ chồng được hình thành khi quan hệ hôn được xác
lập, tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất. Hình
thức sở hữu này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Do tính chất đặc
biệt của gia đình đòi hỏi giữa vợ và chồng phải có 1 lượng tài sản chung nhất
định để đảm bảo các nhu cầu của gia đình cũng như xây dựng 1 gia đình hạnh
phúc. Trên cơ sở đó và kế thừa điều 14 luật HNGĐ 1986, Điều 27 Luật HNGĐ
2000 quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp
pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa
kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả
thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được
thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”. Vợ chồng có
quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu sử dụng định đoạt tài sản chung. Tuy
nhiên, theo quy định của luật HNGĐ 2000 thì tài sản chung của vợ chồng cũng
có thể được chia trong các trường hợp sau đây:
đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ
chồng khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích của vợ,
chồng hoặc người thứ ba. Vì vậy, lý do chính đáng khác để chia tài sản chung
của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại lại tùy vào từng trường hợp có khác nhau.
Tuy nhiên bên cạnh đó thì Luật hôn nhân và gia đình đã dự liệu trước đến
trường hợp vợ, chồng có thể lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản
chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp
luật bảo vệ. Vì vậy, khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định:
“ Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài
sản không được pháp luật công nhận”.
Sự quy định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình về vấn đề chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân là 1 cơ sở pháp lý quan trọng trong việc phân định
tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Đáp ứng những yêu cầu của
thực tiễn đặt ra và phụ hợp với hệ thống pháp luật. Quy định của Điều 29 Luật
hôn nhân gia đình là phù hợp với điều 32 Luật hôn nhân và gia đình quy định về
quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng. Phù hợp với nguyên tắc tự
định đoạt về tài sản của công dân. Cần lưu ý rằng: Việc Luật hôn nhân gia đình
quy định việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn đang tồn tại không phải là
gián tiếp quy định chế định ly thân . Luật hôn nhân gia đình hiện nay không quy
định chế định ly thân.
2. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân.
1. Về quan hệ nhân thân.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt các
quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Mặc dù có sự phân chia tài sản giữa vợ và
chồng nhưng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại, vì vậy thì các quyền và nghĩa vụ
nhân thân giữa vợ và chồng không hề hay đổi, vợ chồng tiếp tục phải thực hiện
những quyền và nghĩa vụ đó. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ chồng yêu cầu chia
tài sản chung trong thời kì hôn nhân nhằm mục đích tiến hành các hoạt động sản
xất kinh doanh riêng vì không muốn ảnh hưởng đến lợi ích gia đình, mặt khác là
quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Vợ
chồng tự quản lý tài sản riêng của mình, nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người
được thanh toán bằng tài sản riêng (Khoản 1 Điều 33 Luật HNGD 2000). Như
vậy có thể coi việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chính là căn cứ xác
lập quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng. Như vậy thì việc quy định
“Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi
người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”. Là hợp lý và có cơ sở, phù
hợp với các quy định của luật dân sự về các căn cứ xác lập quyền sở hữu. Ví dụ