MỤC LỤC
Trang
I. Phân tích khái niệm và đặc điểm của tội mua bán người
theo quy định của pháp luật thế giới và pháp luật Việt
Nam:
1
1.Thực trạng buôn bán người trên thế giới và Việt Nam:
1
2. Khái niệm và đặc điểm của tội mua bán người theo quy
định của pháp luật quốc tế.
2
2.1.Tổng quan về các văn kiện quốc tế về phòng, chống
buôn bán người
2
2.2.Khái niệm “ buôn bán người” và đặc điểm của tội mua
bán người theo quy định của pháp luật quốc tế.
2
3. Khái niệm và đặc điểm của tội mua bán người theo quy
định của pháp luật quốc gia.
I. Phân tích khái niệm và đặc điểm của tội mua bán người theo quy định
của pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam:
1.Thực trạng buôn bán người trên thế giới và Việt Nam:
Tội phạm buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em đang
là một vấn nạn nhức nhối, diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng ở quy
mô toàn cầu. Cùng với ma túy và vũ khí, nạn nhân bị buôn bán đã trở thành
một loại hàng hóa đem lại lợi nhuận cao trong thị trường của bon tội phạm.
Theo ước tính vủa Văn phòng Liên Hợp Quốc về ma túy và tội phạm
(UNODC), buôn bán người hiện là một thị trường có giá trị 30-40 tỷ USD/
năm. Chính lợi nhuận này đã khiến các đường dây buôn bán người mở rộng
mạng lưới ra khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới để khai thác
thị trường mới.ở Châu Âu, nạn buôn người là một trong những hoạt động tội
phạm hàng đầu. Các nhóm tội phạm có tổ chức kiếm được 3 tỷ USD mỗi
năm nhờ hoạt động khai thác tình dục và cưỡng bức khoảng 140.000 lao
động1. Hiện nay, chưa có con số thống kê chính xác về số nạn nhân trực tiếp
bị ảnh hưởng bởi các đường dây mua bán người, nhưng theo ước tính của
nhiều chuyên gia, hiện nay trên thế giới có khoảng 2,5 triệu người trên thế
giới là nạn nhân của nạn buôn người.
Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động tội pham mua bán
người nói chung, mua bán phụ nữ, trẻ em ở nước ta tiếp tục diễn biến phức
tạp; tính chất, quy mô và thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, xảo
quyệt, có tổ chức chặt chẽ và xuyên quốc gia. Theo thống kê của Bộ Công
An, trong 5 năm thực hiện Chương trình 130/CP (từ năm 2005-2009), cá
nước xảy ra 1.586 vụ, 2.888 đối tượng, lừa bán 4.008 nạn nhân, trong đó có
1.218 vụ mua bán phụ nữ với 2.310 đối tượng, 3.019 nạn nhân; 191 vụ mua
bán trẻ em với 268 đối tượng và 491 nạn nhân và 177 vụ mua bán cả phụ nữ
và trẻ em với 310 đối tượng, 491 nạn nhân. So với 05 năm trước thì giai
đoạn này đã tăng 1.090 vụ, 2.117 đối tượng và 2.935 nạn nhân. Tội phạm
mua bán người ở Việt Nam đang diễn biến phức tạp do nhiều nguyên nhân
khác nhau. Về địa lý, Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp 3
pháp lý cho sự hợp tác hữu hiệu giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nói chung và tội phạm buôn bán
người nói riêng.
2.2.Khái niệm “ buôn bán người” và đặc điểm của tội mua bán
người theo quy định của pháp luật quốc tế.
Khái niệm “ buôn bán người” trong Nghị định thư về chống buôn bán
người. Theo Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm về
buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em bổ sung cho Công ước về chống
tội phạm xuyên quốc gia của Liên Hợp Quốc (sau đây gọi tắt là Nghị định
thư về chống buôn bán người) quy định tại Điều 3 thì “buôn bán người”
được hiểu như sau:
a)Buôn bán người được hiểu là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển
giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe dọa
dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng
quyền lực hoặc bị thế dễ bịt thương tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền
2
Bộ Tư pháp, vụ pháp luật hình sự-hành chính, Cẩm nang pháp luật quốc tế và quốc gia về phòng và chống
buôn bán người, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2010, tr9-14
3
hay lợi nhuận để đẹt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với những
người khác vì mục đích bóc lột.
Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bao gồm bóc lột vì mục đích mại dâm
hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay những
hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể.
b) Việc một nạn nhân của việc buôn bán người chấp nhận sự bóc lột
có chủ ý được nêu tại Khoản a trên đây không được tính nếu bất kì một cách
người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em là mục đích bóc lột, mục đích của buôn
bán trẻ em quy định tại nghị định thư bổ sung cho Công ước quyền trẻ em là
để lấy tiền hay đồ vật gì khác.
4
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy tội buôn bán người thể hiện dưới
các đặc điểm:
Trước tiên, ta khẳng định rằng tội buôn bán người theo quy định của
pháp luật quốc tế là tội phạm thường có tính tổ chức, hành vi buôn bán
người thường được thực hiện bởi nhóm tội phạm với vai trò khác nhau.
Chúng móc nối, câu kết với nhau dưới nhiều hình thức. Có nhiều trường hợp
chủ thể phạm tội mang quốc tịch khác nhau, chung chuyển nạn nhân tới
nhiều nơi trên thế giới.
Tính chất của tội phạm buôn bán người là tội phạm tính chất xuyên
quốc gia, đặc biệt trong những năm gần đây với xu hướng toàn cầu hóa, tội
phạm này hoạt động tinh vi hơn, thường xuyên trốn tránh từ nước này sang
nước khác. Do vậy, để công tác phòng và chống tội phạm có hiệu quả thì cần
có sự tham gia không chỉ của quốc gia có tội phạm được thực hiện mà còn
của các quốc gia khác như nơi chủ thể tội phạm mang quốc tịch, quốc gia là
nơi chung chuyển tội phạm
Buôn bán người là hoạt động mang lại lợi nhuận rất cao, các đối
tượng phạm tội hưởng thụ những món lợi bất chính từ các hoạt động này.
Ngay từ khi có nạn nhân của tội phạm, qua từng đợt chung chuyển, chủ thể
tội phạm đã thu được lợi nhuận. Hình thức bóc lột nạn nhân rất nhiều, qua
mại dâm hay hình thức lao động...chúng thỏa sức thu lợi nhuận trái pháp từ
nguồn “đầu tư” không đáng kể là mua bán một con người.
Hành vi buôn bán người nhằm mục đích bóc lột bạn nhân, có thể là
bóc lột tình dục hoặc mục đích mại dâm hay các hình thức lao động, dịch vụ
cưỡng bức, nên nạn nhân bị buôn bán thường bị xúc pham, hạ nhục. Chính
luật không quy định động cơ cũng như mục đích phạm tội. Như vậy, hành vi
mua bán phụ nữa vì động cơ gì cũng như nhằm mục đích gì đều phạm tội
này.
Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ( Điều 120 BLHS)
Dấu hiệu pháp lý:
Tội này bao gồm 3 loại hành vi phạm tội khác nhau: Hành vi mua bán
trẻ em; Hành vi đánh tráo trẻ em; Hành vi chiếm đoạt trẻ em.
Đối tượng của ba loại hành vi phạm tội trên đều là trẻ em, người chưa đủ 16
tuổi.
Hành vi mua bán trẻ em là hành vi dùng tiền hoặc phương tiện thanh
toán khác như vàng, ngoại tệ...trao đổi, mua bán trẻ em như một thứ hàng
hóa.
Hành vi đánh tráo trẻ em là hành vi tráo đứa trẻ này với đứa trẻ khác
mà bố mẹ của một hoặc cả hai đứa trẻ không biết.
Hành vi chiếm đoạt trẻ em là hành vi tách chuyển trái phép đứa trẻ
khỏi sự quản lý của gia đình hoặc người quản lý hợp pháp và thiết lập sự
quản lý đó của mình hoặc người khác bằng những thủ đoạn khác nhau như
lén lút, lừa dối, dùng vũ lực...
Lỗi của người phạm tội là cố ý.
Như vậy, thông qua các quy định này, chúng ta nhận thấy tội phạm về
mua bán người theo quy định của pháp luật Việt Nam là tội phạm có tính
nguy hiểm cho xã hội: điều đó thể hiện trước hết ở nạn nhân của tội phạm là
phụ nữ và trẻ em. Hành vi này rất nguy hiểm, ảnh hưởng tới sức khỏe, tính
mạng thậm chí là danh dự của bản thân. Thêm nữa, đối tượng phạm tội là trẻ
em-đối tượng rất đặc biết, cần sự quan tâm của toàn xã hội bởi nhận thức và
ngay cả thể chất của trẻ em cũng chưa hoàn thiện, dễ chịu tác động sâu sắc
từ hành vi phạm tội.
6
của hành vi đó;
ii) Che giấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự nguồn gốc, địa điểm,
chuyển nhượng, chuyển quyển sở hữu tài sản mà biết rõ tài sản đó thu được
từ hoạt động phạm tội đã được quy định tại điểm (a) được quy định tại điểm
này;
c) i) Việc có được sở hữu, hoặc sử dụng tài sản mà vào thời điểm đó
biết rõ đấy là tài sản do phạm tội quy định tại điểm (a) khoản này hoặc do
tham gia vào những hoạt động phạm tội đó mà có”.
7
Mặt khác, tại Điều 6 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia có quy định về việc các quốc gia thành viên phải
hình sự hóa những hành vi được coi là rửa tiền, Cụ thể:
“1. Trên cơ sở phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc
gia, mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành pháp luật và các biện pháp cần
thiết khác để quy định thành tội phạm hình sự những hành vi sau đây nếu
những hành vi này được thực hiện một cách cố ý:
a) i) Chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản mặc dù biết rằng tài sản đó
là do phạm tội mà có nhằm mục đích che đậy hoặc che dấu tính chất bất
hợp pháp đích thực của tài sản hoặc nhằm tiếp tay cho người có liên quan
đến việc thực hiện tội phạm chính lẩn tránh những hệ qủa pháp lý của hành
vi phạm tội ; ii) Che đậy hoặc làm thay đổi bản chất đích thực, nguồn gốc,
nơi cất giữ, việc định đoạt, vận chuyển của tài sản hoặc quyền sở hữu hay
những quyền khác có liên quan đến tài sản mặc dù biết rằng tài sản đó là do
phạm tội mà có;
b) Không trái với những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật
quốc gia, mỗi quốc gia thành viên có thể quy định thành tội phạm hình sự
các hành vi sau : i) Mua, cất giữ hoặc sử dụng tài sản mặc dù vào thời điểm
nhiên, sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia đôi khi gặp những trở ngại rất
lớn liên quan đến an ninh và chủ quyền quốc gia. Mỗi quốc gia, khu vực lại
có những quan điểm và quy định khác nhau về chế tài và hình phạt của tội
phạm rửa tiền. Cụ thể, ví dụ như: Đạo luật chống rửa tiền 1998 của Mỹ đưa
ra mức chế tài phạt tù tối đa 20 năm, phạt tiền tới 500.000 USD hoặc gấp đôi
số tiền được rửa – tịch thu khoản tiền đó; Các quốc gia ở Trung Mỹ và Châu
Mỹ La tinh hầu hết đã thông qua các chính sách, các đạo luật chống tẩy rửa
tiền. Trong luật chống rửa tiền của mình thậm chí các quốc gia còn quy định
cả về trách nhiệm pháp lý của các nhân viên chuyên trách điều tra về rửa
tiền nếu họ do vô tình hoặc cố ý tiết lộ bí mật đang điều tra về các vụ rửa
tiền…
Theo như Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính chống rửa
tiền FATF (Finance Action Task Force), các quy định về chế tài và hình phạt
đối với tội phạm rửa tiền được khuyến nghị như sau:
“1. Các quốc gia cần hình sự hóa tội rửa tiền trên cơ sở Công ước
Liên HợpQuốc 1988 chống lại việc buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp các
chất ma tuý và chất hướng thần (Công ước Viên) và Công ước Liên Hợp
Quốc năm 2000 về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo)
… …Đối với những quốc gia có ngưỡng tối thiểu đối với các tội danh trong
hệ thống pháp lý của mình, tội phạm nguồn cần phải bao gồm tất cả các tội
danh có thể bị trừng phạt bởi mức phạt tù tối thiểu là hơn 6 tháng.Cho dù
áp dụng cách tiếp cận nào, mỗi quốc gia ít nhất cần đưa vào danh mục các
loại tội danh chỉ định…
Đối với chế tài và hình phạt, Lực lượng đặc nhiệm khuyến nghị như
sau:
...b) Trách nhiệm hình sự và khi điều này không áp dụng được thì trách
nhiệm dân sự hoặc hành chính, sẽ áp dụng với các pháp nhân. Quy định này
không loại trừ các thủ tục tố tụng hình sự, dân sự hoặc hành chính đang
diễn ra song song liên quan tới pháp nhân đó tại quốc gia khác mà tại đó
9
chưa hình sự hóa hết các dạng hành vi rửa tiền ví dụ như hành vi được quy
định tại Điều 250 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có
cũng thuộc phạm vi cần phải hình sự hóa theo khuyến nghị của FATF; chưa
có quy định về danh mục tội phạm nguồn của tội rửa tiền. Theo khuyến nghị
1 của FATF thì : “Khi các quốc gia áp dụng cách tiếp cận theo ngưỡng, các
tội phạm nguồn ít nhất cần phải bao gồm tất cả các tội phạm thuộc danh
mục các tội phạm nghiêm trọng theo luật của các quốc gia đó hoặc cần phải
10
gồm các tội danh mà có thể bị phạt hình phạt tù tối đa là hơn một năm. Đối
với những quốc gia có ngưỡng tối thiểu đối với các tội danh trong hệ thống
pháp lý của mình, tội phạm nguồn cần phải bao gồm tất cả các tội danh có
thể bị trừng phạt bởi mức phạt tù tối thiểu là hơn 6 tháng”thì pháp luật hình
sự Việt Nam chưa tuân thủ nội dung này. Bởi một số tội phạm nguồn có quy
định hình phạt tối thiểu thì mức hình phạt của Việt Nam lại nhẹ hơn yêu cầu
của khuyến nghị 40+9 của FATF. Ví dụ như tội buôn lậu là tội phạm khá
phổ biến của tội rửa tiền được quy định trong Điều 153 BLHS nhưng lại có
mức phạt tối thiểu là phạt tiền 10 triệu đồng trong khi yêu cầu của FATF thì
mức phạt tối thiểu là 6 tháng tù…Điều này đã khiến cho việc xử lý tội rửa
tiền trên thực tế gặp một số khó khăn nhất định.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
11
1.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2010.