MỞ ĐẦU
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là một trong những yêu
cầu quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam. Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là yếu tố tạo
ra lực đẩy hỗ trợ cho quá trình đổi mới hình thức chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, để làm được điều đó trước hết các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương
cần thực hiện đúng, đấy đủ, có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo
quy định của hiến pháp, pháp luật.
Mặt khác, các cơ quan quyền lực nhà nước phải bết nắm rõ tình hình thực tế, nắm bắt
thời cơ đưa ra những chính sách phù hợp có lợi cho nhân dân, đất nước. HĐND được thành
lập ở cấp tỉnh, huyện, xã. HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ nhân dân. HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng ở địa phương.
Vì vậy, hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung đến nay vẫn chưa thực sự đáp ứng
yêu cầu thực tế. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
và nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đòi
hỏi phải đổi mới nâng cao hiệu hoạt động của HĐND các cấp. Vì vây, em xin chọn đề bài "
Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật hiện hànhThực trạng và giải pháp".
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA.
I.1. Khái quát về tổ chức và hoạt động của HĐND trong lịch sử lập pháp Việt
Nam.
Sau khi cách mạng tháng 8-1945 thắng lợi, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức
của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà ra đời. Cũng từ đây, bộ máy nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được
thiết lập, nhân dân đã lần đầu tiên thực hiện quyền bầu cử để bầu ra chính quyền các cấp,
trong đó có chính quyền địa phương (gồm:Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các
cấp).
Kể từ đó đến nay, đã 65 năm qua, mặc dù có những sự thay đổi cho phù hợp với hoàn
cảnh, điều kiện của đất nước nhưng dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào (thời chiến hay thời
hoà), chính quyền các cấp nói chung và chính quyền địa phương (trong đó có Hội đồng
nhân dân) đã làm tròn vai trò là cơ quan quyền lực của nhân dân. Nhờ vậy, quyền làm chủ
hiến pháp 1959 nữa.
I.2.1.Vị trí, tính chất pháp lý của HĐND.
Hệ thống chính quyền địa phương ở nước ta bao gồm hai phân hệ cơ quan chính song
song tồn tại là: HĐND và UBND. Trong đó, với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, là cánh tay nối dài của Quốc hội, HĐND giữ vai trò quan trọng trong việc đề ra
chủ trương, chính sách, phối hợp với UBND, TAND, VKSND tạo nên một bộ máy chính
quyền địa phương hoàn chỉnh.
Vị trí, tính chất, quyền hạn và hoạt động của HĐND hiện nay được quy định rất cụ thể
trong các văn bản pháp luật như: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam(1992, sửa đổi và bổ sung năm 2001), Luật tổ chức HĐND và UBND do Quốc hội
khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/01/2003. Quy chế hoạt động của HĐND được
ban hành kèm theo nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH ngày 02/04/2005 của UBTVQH
khóa IX và trong các văn bản dưới luật khác.
Điều 119 Hiến pháp 1992 quy định vị trí, tính chất pháp lý của HĐND các cấp và được
cụ thể hóa trong Điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 như sau: " HĐND là cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chụi trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên".
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương: Điều này thể hiện rõ ở chỗ
HĐND được nhân dân giao quyền thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước, có quyền
quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, biến ý chí của nhân dân địa phương
thành quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc đối với dân cư trên lãnh thổ địa phương, bầu
ra UBND, Thường trực HĐND, hội thẩm TAND cùng cấp, giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước ở địa phương, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương và việc
tuân theo pháp luật ở địa phương. HĐND thực hiện quyền làm chủ của nhân dân địa
phương trên địa bàn lãnh thổ, đồng thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên giao.
HĐND sử dụng quyền lực nhà nước trong phạm vi địa phương của mình. Điều này có tính
chất quyết định tới phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND.
Cùng với tính quyền lực, HĐND còn là cơ quan đại biểu của nhân dân, do nhân dân địa
phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín. Theo pháp
của HĐND và thông qua các đại biểu HĐND. Chức năng của HĐND có thể thực hiện
được hay không cũng là nhờ cơ cấu thống nhất này quyết định.
- Thông qua các kỳ họp HĐND:
Các kỳ họp là hoạt động chính, giữ vị trí quan trọng nhất trong các hình thức hoạt
động của HĐND các cấp. HĐND hoạt động taaoj trung và có hiệu quả nhất trong các kỳ
họp của mình. Tại đây các vấn đề quan trọng, cơ bản thuộc phạm vi quyền hạn của mình
được HĐND đưa ra xem xét, thảo luận và quyết định theo đa số. Nếu như trước đây theo
quy định của pháp luật thì cứ 3 tháng HĐND họp thường lệ 1 lần nhưng hiện nay theo
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, thường lệ của HĐND giảm xuống còn 2 kỳ họp
trên một năm, thường diễn ra vào giữa và cuối năm. Ngoài ra, HĐND có thể họp thường
theo chuyên đề hoặc họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND
cùng cấp hoặc khi yêu cầu của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu HĐND.
Tại kỳ họp HĐND có thể ban hành các nghị quyết, kỳ họp của HĐND được tiến hành
khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu HĐND tham gia- quyết định bắt buộc để bảo đảm tính
thống nhất, dân chủ, tinh thần tập thể trong hoạt động của HĐND nhằm nâng cao tinh
thần trách nhiệm của các đại biểu HĐND. Kỳ họp thứ nhất mỗi khóa HĐND được coi là
kỳ họp quan trọng nhất. Tại vì kì họp này sẽ tiến hành một loạt các công việc quan trọng
như: Thẩm tra tư cách đại biểu HĐND, bầu ra Thường trực HĐND, các Ban của HĐND,
UBND cùng cấp.
- Thông qua hoạt động của Thường trực HĐND.
Thường trực HĐND có vai trò rất lớn trong hoạt động của HĐND, vì HĐND chỉ họp
thường lệ mỗi năm 2 lần, mỗi kì họp chỉ diễn ra trong mật vài ngày mà khối lượng công
việc cần giải quyết quá nhiều. Vì vậy, khi HĐND không họp thì cần có cơ quan để giải
quyết các vấn đề phát triển giữa hai kì họp. Nhiệm vụ đó được Thường vụ Quốc hội đảm
nhiệm. Thường trực HĐND được thành lập ở 3 cấp: tỉnh, huyện, xã, tuy nhiên ở cấp xã
khác so với cấp tỉnh và cấp huyện là không có Uỷ viên Thường trực. Để bảo đảm cho hoạt
động giám sát của HĐND đượct hực hiện khách quan và hiệu quả, Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 quyết định thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là
thành viên của UBND cùng cấp.
Điều 53 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định rất rõ về
quàn chúng, những người trực tiếp tham gia lao động sản xuất, các tành phần tôn giáo,
dân tộc...trên địa bàn.
Số lượng các đại biểu HĐND ở từng cấp có sự khác nhau:ở cấp xã từ 25 đến 35 đại
biểu, cấp huyện từ 30 đến 40 đại biểu, cấp tỉnh 50 đến 58. Riêng thủ đô Hà Nội và các
thành phố trực thuộc trung ương khác có trên 3 triệu dân bầu không quá 95 đại biểu( Điều
9 Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003).
Về nhiệm vụ, đại biểu HĐND có trách nhiệm phải tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên
họp HĐND phải tham gia đóng góp ý kiến và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND. Đại biểu HĐND phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc
chủ động liên hệ với quần chúng, đi sau đi sát để kịp thời phản ánh những tâm tư nguyện
vọng của quần chúng. Bên cạnh những nhiệm vụ được pháp luật quy định thì HĐND cũng
có những quyền hạn nhất định: HĐND có quyền tham gia các kỳ họp, phiên tòa của
HĐND, tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề đưa ra tại phiên họp đó, quyền tham
gia bầu cử và có thể được bầu cử vào Thường trực hoặc Ban của HĐND, có quyền chất
vấn chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND chất vấn người đứng
đầu: VKSND, TAND, Thứ trưởng cơ quan chuyên môn của UBND.
Qua tìm hiểu ta thấy, HDDND theo quy định của pháp luật hiện hành, cho chúng ta
thấy HĐND có vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền địa phương ở nước ta. HĐND
được coi là tổ chức đại diện chính thức cho toàn bộ dân cư trên địa bàn. Tính đại diện
chính thức thể hiện ở việc HĐND là cơ quan nhà nước do nhân dân địa phương trực tiếp
bầu ra thay mặt nhân dân, trên cơ sở yêu cầu của nhân dân và quy định của pháp luật
quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương. Vì vậy, Đảng
và nhà nước ta đã và đang từng bước đổi mới về tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp
cho phù hợp với điều kiện trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể nhằm phát triển và không
ngừng nâng cao vị trí, vai trò và hiệu quả hoạt động của HĐND.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Trong thời gian vừa qua hoạt động của HĐND có nhiều chuyển biến đáng kể và
những thành tựu mà cơ quan này mang lại là không thể phủ nhận. Dần dần trở thành cánh
tay đắc lực trong bộ máy quản lý nhà nước, cơ cấu tổ chức của HĐND đã được kiện toàn
UBND. Tại các kỳ họp gần như chỉ làm nhiệm vụ xem xét, đánh giá các báo cáo dựa trên
tư duy chủ quan của chính các đại biểu HĐND. Việc đi sâu, đi sát, tìm hiểu thực tế vấn đề
gần như không được thực hiện. Chính những điều này ảnh hưởng không nhỏ tới các quyết
định, chủ trương của HĐND.
Đối với đại biểu HĐND, tại các kỳ họp hoạt động của các đại biểu chưa thực sự hiệu
quả. Phần lớn các đại biểu thường giữ các chức vụ kiêm nhiệm thêm vào đó là thời gian
chuẩn bị cho các kỳ họp không nhiều, do vậy mà việc nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu thực tế
vấn đề ít được các đại biểu quan tâm. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến
những nghị quyết của HĐND khi đưa ra áp dụng trên thực tế thường ít mang tính khả thi.
Theo quy định của pháp luật, việc bầu cử các đại biểu HĐND phải đảm bảo được tính
đại diện trong đó. Do đó, khi chọn lựa các đại biểu, yếu tố được xem mang ra xem xét đầu
tiên không phải là năng lực, trình độ của các đại biểu mà là thành phần cơ cấu, tôn
giáo,của đại biểu đó. Chính điều này đã không phát huy được năng lực, khả năng của các
đại biểu được lựa chọn khi tam gia hoạt đọng trong cơ quan quyền lực nhà nước này. Luật
bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 cũng quy định số lượng đại biểu HĐND dựa trên số dân
cư cư trú trên địa bàn đó. Thực trạng này, đã dẫn tới tình trạng có nững địa phương dân cư
tập trung thưa thớt, trong khi đó diện tích lại lớn, vì thế sẽ có những thôn bản người dân
không có đại biểu HĐND nào đại diện cho mìn.
Đối với việc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn tại các đơn vị hành chính lãnh thổ khác
nhau theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì nhiệm vụ quyền hạn
của HĐND ở cấp tỉnh, huyện, xã về cơ bản đều được quy định trên các lĩnh vực giống
nhau, chỉ có sự điều chỉnh về phạm vi quyền hạn. Quy định này đã dẫn đến tình trạng
chồng chéo quyền lực của các cấp trong từng lĩnh vực. Xem xét nhiệm vụ, quyền hạn của
HĐND cấp huyện có thể thấy hoạt động mang nặng tính hình thức, hầu như chỉ được coi
6
là một cấp trung gian trong việc phổ biến thực hiện các Nghị quyết của HĐND cấp trên.
Các vấn đề lớn chủ yếu được quyết định ở cấp huyện, còn các vấn đề cụ thể lại được
- Cần đổi mới nhận thức về tính chất và vai trò của HĐND. HĐND là cơ quan tự quản
ở địa phương do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan
Nhà nước cấp trên. Nếu tính chất tự quản được xác định thì cần có những quy định pháp
luật về phạm vi, phương thức, điều kiện pháp lý, tổ chức, vật chất; quyền giám sát, quyền
bỏ phiếu tín nhiệm những người giữ chức vụ do HĐND bầu ra hoặc phê chuẩn, quyết
định ngân sách địa phương. Số người dự ứng cử bầu làm đại biểu HĐND nên nhiều hơn
số lượng được bầu tối thiểu là 30% để cử tri dân chủ lựa chọn.
- Cần nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND. Tiếp xúc cử tri là điều
kiện để người đại biểu thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trước sự tín nhiệm của nhân
dân. Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã nói "cử tri kiến nghị cũng
là hiến kế với Nhà nước". Trên cơ sở đó, đại biểu, HĐND tiếp thu, nghiên cứu, đề xuất
với cấp trên để có chủ trương, chính sách, giải pháp phù hợp; giải quyết kịp thời những
bức xúc, chấn chỉnh những sai lệch, yếu kém trong quản lý Nhà nước.
Để hoạt động tiếp xúc cử tri của Đại biểu HĐND phát huy đầy đủ, đáp ứng những yêu
cầu nêu trên thì những cơ chế, giải pháp cần tập trung làm tốt là:
7
Tiếp tục nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri trước và
sau kỳ họp HĐND dưới nhiều hình thức: tiếp xúc cử tri ở đơn vị bầu cử, ở nơi công tác, ở
nơi cư trú; tiếp xúc cử tri thông qua cuộc sống sinh hoạt cộng đồng; tiếp xúc cử tri theo
giới, ngành, lĩnh vực; không nên hạn chế thành phần, số lượng cử tri tham gia tiếp xúc,
tránh chỉ tiếp xúc với “đại cử tri” như hiện nay.
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền để nhân dân hiểu đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của
cử tri trong việc tham gia xây dựng chính quyền. Sớm ban hành những quy định pháp lý
về khen thưởng, về bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với đại biểu HĐND.
- Cần nâng cao năng lực, hiệu lực giám sát của HĐND. Giám sát của HĐND phải góp
phần tích cực vào việc giải quyết trả lời các kiến nghị của cử tri; các đơn thư, khiếu nại, tố
cáo của công dân; các vụ việc tiêu cực; các vi phạm về quản lý kinh tế, tài chính và các
8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- />- />option=com_content&view=article&id=1261:hoi-dong&catid=1:tin-tuc-su-kiennoi-bat&Itemid=11
- />option=com_content&view=article&id=277:hi-ng-nhan-dan-cn-ch-tai-gii-quytkin-ngh-sau-giam-sat&catid=180:nghien-cu-trao-i&Itemid=219
- />- />- />- Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946,1959, 1980,1992( sửa
đổi và bổ sung năm 2001)
- Giáo trình môn luật hiến pháp, trường đại học Luật Hà Nội.
- Khóa luận tốt nghiệp: Không tổ chức HĐND một số cấp, phương hướng đổi
mới và hoàn thiện tổ chức hoạt động chín quyền địa phương của nước ta trong giai
đoạn hiện nay ( Bùi Thị Bích Thủy).
- Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
- Luật bầu cử đại biểu HĐND năm 2003
9
10
DANH SÁCH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI :
- Hội đồng nhân dân: HĐND
- Viện kiểm sát nhân dân: VKSND
- Uỷ ban nhân dân: UBND
- Bộ máy nhà nước: BMNN
- Tòa án nhân dân: TAND
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội: UBTVQ
- Cộng hòa xã hội chủ nghĩa : CHXHCN