TIỂU LUẬN: PHÂN TÍCH NHỮNG BẤT CẬP TRONG VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
I.
1)
Lý luận chung về ưu đãi xã hội
Khái niệm
- Ưu đãi xã hội là một trong những nhánh chính của Luật An sinh xã hội. Khi
nghiên cứu về vấn đề này, chắc chắn sẽ có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên
chúng ta có thể hiểu theo định nghĩa của Giáo trình Luật An sinh xã hội: “Ưu đãi xã
hội là sự đãi ngộ của nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất và
tinh thần đối với những người có công với cách mạng và gia đình của họ”. Cũng
theo cách hiểu này, những người có công phải là những người có thành tích đóng
góp hoặc cống hiến xuất sắc cho đất nước, cho lợi ích của dân tộc. Và chế độ ưu đãi
xã hội dành cho họ những ưu đãi, đãi ngộ đặc biệt là để tri ân, đền đáp phần nào
những cống hiến, đóng góp ấy.
- Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, cơ chế này nhằm đảm bảo cho các
đối tượng được hưởng ưu đãi như sau:
•
Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh;
•
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hung lao động, bà mẹ Việt Nam
anh hùng;
•
Người hoạt động cách mạng trước Cách Mạng tháng Tám năm 1945;
•
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày;
•
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế;
chứng nhận thương binh...
• Chế độ trợ cấp, phụ cấp: các hình thức ưu đãi bằng tiền nhằm đảm bảo đời
sống, góp phần nâng cao mức sống hằng ngày cho người có công và thân nhân của
họ.
• Chế độ ưu đãi về giáo dục, đào tạo đối với người có công và con em của họ
dưới nhiều hình thức khác nhau như: miễn học phí đối với học sinh, sinh viên đang
học tại các cơ sở giáo dục đào tạo công lập; hỗ trợ học phí trong trường hợp học tại
các cơ sở giáo dục đào tạo dân lập, tư thục; trợ cấp một lần tiền mua sách vở, đồ
dùng học tập; trợ cấp một lần cho học sinh, sinh viên sau khi thi tốt nghiệp...
• Chế độ chăm sóc sức khỏe: Cấp thẻ Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức
khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cùng các sản phẩm phụ...
• Chế độ việc làm và đảm bảo việc làm: chế độ chính sách ưu tiên cho những
người có công cùng với con em của họ nhằm tạo điều kiện cho họ bằng khả năng
của mình tìm kiếm việc làm và nâng cao thu nhập, đảm bảo đời sống.
• Chế độ hỗ trợ cải thiện nhà ở: tặng nhà tình nghĩa, hỗ trợ kinh phí để xây
dựng và sửa chữa nhà ở, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần tiền sử dụng đất.
• Chế độ chăm sóc về đời sống tinh thần: cấp báo Nhân dân hằng ngày, sinh
hoạt văn hóa tinh thần phù hợp, được chính quyền địa phương thăm nom, tặng quà...
• Ngoài ra còn các chế độ đặc biệt đối với các liệt sỹ, những người đã hy sinh
bản thân mình vì sự nghiệp lớn lao của toàn dân tộc: tìm kiếm, quy tập hài cốt; quản
lý, chăm sóc, giữ gìn phần mộ; ...1
- Chính sách về chế độ ưu đãi xã hội thực chất là chính sách của Đảng và Nhà
nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với nước
nhằm mục đích ghi nhận công lao đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ, đồng thời đền
đáp một phần công lao, bù đắp phần nào về đời sống vật chất và tinh thần đối với
người có công, giúp đỡ họ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà họ gặp
phải chính vì đã đóng góp và hy sinh rất nhiều cho đất nước.
2)
Ý nghĩa của chế độ Ưu đãi xã hội:
Thành tựu:
Thực hiện chính sách ưu đãi người có công trong thực tiễn đời sống xã hội, Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ ban hành, ban hành theo
thẩm quyền cũng như cùng với các bộ, ngành chức năng ban hành hàng loạt văn bản
hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh về quy trình, thủ tục giải quyết chính sách ưu đãi đối
với người có công, thường xuyên điều chỉnh mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi, chăm sóc
sức khỏe... đối với người có công, cùng các chính sách ưu đãi khác trong giáo dục
đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nhà ở, việc làm, vay vốn đầu tư phát
triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lao động...
Cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, để bảo đảm người
có công được hưởng các chính sách do Nhà nước ban hành một cách đầy đủ, kịp
thời, thời gian qua, việc tuyên truyền, vận động toàn xã hội chăm sóc người có công
đã trở thành phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” thường xuyên và mang tính xã hội hóa
cao với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng ngành, từng địa
phương, từng tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội và nhiều cá nhân, nhà doanh
nghiệp tham gia ủng hộ. ở cả hai phương diện huy động nguồn lực là nguồn lực đầu
tư cho ưu đãi xã hội và sự đầu tư của Nhà nước đều được tăng cường, mang lại hiệu
quả rất thiết thực. Bằng những chương trình cụ thể, như ủng hộ Quỹ đền ơn đáp
nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc
thương binh, bệnh binh, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, tặng học bổng cho con thương
binh, liệt sĩ vượt khó học giỏi, chăm sóc bố mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ
côi, thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách nhân dịp lễ, tết, ngày 27-7 hàng năm
ở địa phương, đơn vị sản xuất, cơ quan, hỗ trợ đối tượng và gia đình chính sách lúc
khó khăn, hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, vốn, giúp đối tượng chính sách cải tạo
vườn tạp thành vườn cây cho giá trị kinh tế cao, miễn giảm thuế hoặc ưu tiên cho
thuê, mua, mượn đất làm kinh tế đối với cá nhân, tập thể người có công... Nhiều xã,
phường duy trì phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” thường xuyên, thể hiện được tình
cảm, trách nhiệm của cả cộng đồng dân tộc với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Sự
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và được qui định khá hợp lý, cụ thể, phù
hợp với đặc điểm của từng diện đối tượng, được điều chỉnh cùng với sự tăng trưởng
của nền kinh tế. Điều thành công nhất là chế độ trợ cấp này đã góp phần ổn đinh,
từng bước nâng cao đời sống đối tượng chính sách, hợp với lòng dân, đảm bảo sự
công bằng trong việc thụ hưởng chế độ ưu đãi của người có công trong cộng đồng
dân cư, công bằng giữa những người có công. Cụ thể:
•
Trợ cấp hàng tháng cho người được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quí
Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, bằng 2,14 mức lương tối thiểu.
•
Trợ cấp nuôi dưỡng hành tháng cho diện đối tượng chính sách (thân nhân liệt
sĩ, người có công đối với cách mạng…), cô đơn không nơi nương tựa bằng 1,76 mức
lương tối thiểu.
•
2)
Mức trợ cấp hàng tháng đối với con liệt sĩ, con thương bệnh binh mất sức lao
động trên 61% trở lên đang học tại các trường cao đẳng, đại học công lập với mức là
140.000 đồng/ tháng và 115.000đồng/ tháng…”2
Đồng thời Nhà Nước đã chi trả chế độ trợ cấp một lần cho khoảng 3 triệu
người hoạt động kháng chiến được Nhà nước khen tặng Huân, Huy chương tổng kết
thành tích kháng chiến. Hoàn thành trả trợ cấp ưu đãi một lần cho khoảng 4 triệu
người và khoảng 1,5 triệu thương binh, thân nhân liệt sĩ, lão thành cách mạng, Bà
mẹ Việt Nam anh hùng… tiếp tục hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Theo số liệu
thống kê từ Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, từ năm 1996 – 2002 ngân sách Nhà
nước đã chi trả trợ cấp một lần và hàng tháng cho những người có công với cách
mạng, chi cho công tác qui tập mộ liệt sĩ, tu bổ nghĩa trang, nuôi dưỡng thương bệnh
NGUYỄN ĐÌNH LIÊU – Thứ trưởng Bộ Lao động TBXH
phí tối thiểu cho nhu cầu cá nhân bình quân trong cả nước vào khoảng 355.000
đồng/tháng (năm 2001). Trong khi đó mức trợ cấp cho thương bệnh binh nặng năm
2001 mới chỉ dừng lại ở mức:
· Thương binh mất sức lao động 61%, mức trợ cấp là 266.000 đồng/tháng
· Thương binh mất sức lao động 81%, mức trợ cấp 354.000 đồng/tháng
· Bệnh binh mất sức lao động 61%- 70%, mức trợ cấp 227.000 đồng/tháng
· Bệnh binh mất sức lao động 71%- 89%, mức trợ cấp 314.000 đồng/tháng
Mức trợ cấp kể trên rõ ràng chưa thể coi đã là ưu đãi bởi chưa đảm bảo nhu
cầu tối thiểu nhất cho bản thân, chưa kể thực tế họ còn phải gánh vác việc nuôi con,
phụ giúp gia đình.
- Hơn nữa, mức trợ cấp còn phụ thuộc vào chính sách tiền lương, điều chỉnh
theo mức lương tối thiểu là không hợp lý, vì chính sách tiền lương tạo động lực thúc
dẩy năng suất lao động , chất lượng và hiệu quả công việc, chuyển việc phân phối
bằng hiện vật là chủ yếu sang phân phối theo giá trị thông qua tiền lương, trong khi
chính sách ưu đãi thông qua trợ cấp phải phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, được
đảm bảo bằng ngân sách nhà nước và tính chất xã hội hóa ngày càng cao.
- Một trong những hạn chế lớn của chế độ ưu đãi xã hội là khó khăn trong việc
giải quyết chế độ cho người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất
độc da cam.
Tình trạng tồn đọng hồ sơ chưa được giải quyết vì theo Thông tư 1609 của Bộ
Lao động thương binh và xã hội về việc hướng dẫn xử lý vướng mắc khi tiếp nhận
hồ sơ giải quyết chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học,
“trước mắt chỉ tiếp nhận và giải quyết đối với trường hợp bị bệnh hiểm nghèo, bệnh
ung thư và người có bệnh án trước ngày 7-4-2009” (thời điểm Thông tư
08/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi đối
với người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được ban hành). Đồng
thời, chỉ tiếp nhận hồ sơ và chuyển đến Hội đồng Giám định Y khoa những bệnh tật
quy định tại Thông tư 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15.11.2007 nên không được
giải quyết đã gây bức xúc trong nhân dân, đồng thời là nguyên nhân kéo dài thời
gian, gây tồn đọng nhiều hồ sơ đến nay vẫn chưa giải quyết được. Quy định về
thủ tục giám định trong một số trường hợp bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hoá
học nhưng lại không quy định việc xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, do
đó không có căn cứ để xác định mức trợ cấp.
Chẳng hạn, theo Báo Hòa Bình, “toàn tỉnh hiện có 2.233 người đã được
hưởng chế độ của nạn nhân chất độc da cam/điôxin, trong đó có 1.640 người là đối
tượng trực tiếp và 593 người gián tiếp. Hiện nay, tỉnh còn khoảng 5.000 đối tượng
nghi phơi nhiễm chất độc hóa học chưa được xét nghiệm và hưởng chế độ” 4. ông
Nguyễn Xuân Khoát, Hội Nạn nhân da cam/điôxin tỉnh cho biết: Nguyên nhân nhiều
nạn nhân chất độc hóa học hiện chưa được hưởng trợ cấp xã hội là do trong quá
trình lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã không còn
giữ đủ một số giấy tờ theo quy định bắt buộc căn cứ vào Nghị định số 54/2006/NĐCP ngày 26/5/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp
lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ LĐ-TB&XH sửa đổi, bổ sung mục
VII, Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH ngày 26/7/2006 hướng dẫn về hồ sơ, lập
hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm 14 loại giấy tờ
liên quan chứng minh địa bàn hoạt động ở chiến trường, sức khỏe hiện tại của người
tham gia kháng chiến, tình trạng dị dạng, dị tật của con, chứng từ điều trị của bệnh
viện, biên bản họp của địa phương, danh sách niêm yết những người hoạt động
kháng chiến nhiễm chất độc hóa học của UBND cấp xã... Trong khi đó, phần đông
người dân, nhất là bà con dân tộc thiểu số không còn lưu giữ được hồ sơ, lý lịch,
giấy tờ liên quan đến người tham gia kháng chiến, lại thiếu người hướng dẫn, kê
khai dẫn đến sai sót nhiều lần, quá trình giám định phải chờ đợi kéo dài nên nản chí
và bỏ cuộc.
Tình trạng thực hiện sai sót đối tượng trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ
3
4
Theo Báo Dân Trí – Số ra ngày Thứ Bẩy, 24/07/2010
chiến đấu trong vùng bị quân Mỹ rải chất độc da cam. Về quê, sinh con bị chết, dị
tật. Năm 2000, ông được hưởng chế độ cho người tham gia kháng chiến bị nhiễm
chất độc hoá học. Năm 2006, ông khai lại hồ sơ để tiếp tục hưởng, nhưng sau đó đã
bị cắt bởi vì trong hồ sơ bổ sung năm 2006, ông khai sinh năm 1938, trong khi tại hồ
sơ năm 2000 lại ghi năm sinh 1933. Nguyên nhân vì ông trí nhớ giảm sút, hồ sơ nhờ
người khác khai nên không chính xác.
Sau ông khiếu nại, xã, huyện đã tổ chức kiểm tra, xác định năm sinh của ông
trong hồ sơ gốc là 1933, đề nghị Sở Lao động- thương binh và xã hội Hà Tĩnh tiếp
tục cho hưởng chế độ. Nhưng đến nay đã hơn 5 năm, Sở Lao động- thương binh và
xã hội Hà Tĩnh vẫn “án binh bất động”, tiếp tục dừng chế độ của ông mà không hề
có quyết định, văn bản chính thức. Trường hợp của ông được đề nghị nhiều lần
trong các cuộc họp, các cuộc tiếp xúc cử tri Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng vẫn
vô hiệu.”5
Ngoài những hạn chế chủ yếu trên, chính sách Ưu đãi xã hội của nước ta còn
những vướng mắc sau cần giải quyết:
5
Xin đừng để người có công phải ngậm ngùi!- Bài viết của Trần Quang Đại Giáo viên
trường THPT Trần Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Báo Dân Trí
Những việc làm tình nghĩa và phong trào chăm sóc người có công chưa
được thực hiện thường xuyên, chưa phát triển đồng đều ở các địa phương, nhất là
những nơi kinh tế chậm phát triển. Còn nhiều nơi phong trào mới chỉ tập trung trong
dịp 27 tháng 7 hàng năm.
Việc thực hiện chính sách đối với một số đối tượng còn chậm (cựu
thanh niên xung phong, các chiến sỹ du kích tham gia kháng chiến bị hy sinh…).
Công tác đền ơn đáp nghĩa ở một số nơi chưa gắn với việc giáo dục
truyền thống, tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của phong trào, tôn vinh người tốt,
việc tốt; một số nơi còn nặng về hoạt động quyên góp, giúp đỡ vật chất.
3)
Giải pháp
Với mục tiêu chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người
có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có mức sống
bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết
hợp ba nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và bản thân đối tượng tự vươn lên, công tác
chăm sóc người có công, bảo đảm an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách trong
phát triển bền vững đòi hỏi cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, triển khai đồng bộ, thống
nhất và kịp thời tất cả chính sách ưu đãi. Khi Việt Nam đang trong quá trình xây
dựng nền Kinh tế thị trường và trong quá trình hội nhập với thế giới, nguy cơ phân
hóa giàu – nghèo, một bộ phận dân cư bị suy giảm thu nhập và mức sống, thì việc
nghiên cứu và ban hành Luật ưu đãi người có công là điều cần thiết để bảo đảm việc
thực hiện chính sách được thống nhất trên phạm vi cả nước, cũng như bảo đảm cho
mọi đối tượng được tiếp cận với các dịch vụ một cách công bằng và có chất lượng.
Đồng thời, cần tăng cường đổi mới chính sách đãi ngộ theo hướng nâng cao mức trợ
cấp để thực sự có sự tác động mạnh đến chất lượng cuộc sống của đối tượng được
hưởng. Mặt khác, không chỉ dừng lại ở việc trợ cấp, mà cần đẩy mạnh việc nghiên
cứu và phát triển một số lĩnh vực cho các đối tượng chính sách như: hệ thống giáo
dục, đào tạo nghề mang tính chuyên nghiệp; có hệ thống thang bảng lương riêng; có
chương trình đào tạo ở bậc đại học và sau đại học; có hiệp hội công tác xã hội ở cấp
quốc gia... để tạo bước đột phá mới về tạo việc làm, tăng thu nhập và tiếp cận dịch
vụ xã hội cơ bản thuận lợi hơn, chất lượng hơn. Có như vậy, mới cải thiện và nâng
cao mức sống của những người có công phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội một cách bền vững.
Bộ Lao động thương binh và xã hội cần tiếp tục phối hợp các ngành, địa
phương có biện pháp cụ thể và khả thi để hỗ trợ các gia đình chính sách còn khó
đảm đủ phẩm chất, năng lực công tác, chuyên môn, đủ khả năng tham mưu cho cấp
ủy đảng, chính quyền thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, đồng thời thúc đẩy giải quyết tồn đọng đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để người có công tích cực tham gia
các hoạt động xã hội, phát triển kinh tế sản xuất, kinh doanh góp phần ổn định và
nâng cao đời sống gia đình, xứng đáng người công dân kiểu mẫu.
- Bảo đảm cho đối tượng là người có công có mức sống hoặc thu nhập ngang
bằng mức sống trung bình dân cư. Vì trên thực tế, rất nhiều đối tượng hưởng chế độ,
nhưng lại sống với con, cháu, trong các gia đình đông người, đa thế hệ, nếu gia đình
này thu nhập thấp thì khó có thể bảo đảm cho họ có mức sống ngang bằng với mức
sống trung bình của dân cư.
- Thiết kế lại hệ thống chế độ trợ cấp ưu đãi theo hướng gọn nhẹ hơn, đơn giản
hơn, đỡ tốn chi phí quản lý khi có sự thay đổi chế độ trợ cấp. Trước mắt, có thể áp
dụng 2 hệ thống: một là, chế độ trợ cấp cho thương binh và người chính sách như
thương binh giống như hiện nay; hai là, chế độ trợ cấp cho các đối tượng có công
khác, dựa trên mức chuẩn trợ cấp ưu đãi xã hội nhân với một hệ số tương ứng.
Khoảng cách giữa các mức trợ cấp không nên quá gần có thể từ 0,2 - 0,5 chỉ nên sử
dụng chế độ trợ cấp, không nên sử dụng cả chế độ trợ cấp và phụ cấp cho một đối
tượng. Điều này phức tạp và thiếu tính khoa học.
- Điều chỉnh lại khái niệm người có công trước lúc xây dựng Luật Người có
công, trên cơ sở đó rà soát lại đối tượng ưu đãi xã hội và chuyển bộ phận không
thuộc nhóm người có công (ưu đãi xã hội), chuyển sang hưởng chính sách Trợ giúp
xã hội để bảo đảm tính công bằng và cũng phù hợp với xu hướng hội nhập và thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Cần xác định rõ mối quan hệ giữa trợ cấp ưu đãi xã hội với tình hình kinh tế
xã hội của đất nước, với khả năng đảm bảo của nguồn tài chính quốc gia. Thập kỷ
đầu của thiên niên kỷ thứ ba này đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Kinh tế xã hội tiếp tục phát triển, thu nhập bình quân tính theo đầu người sẽ
dần được nâng cao, văn hóa xã hội sẽ có những bước phát triển tiến bộ mới…
Chúng ta cần phải xác định một nguyên tắc là ưu đãi xã hội đối với người có công
hội như hiện nay, để người có công và gia đình họ vẫn được bảo đảm ổn định đời
sống.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân
dân, đặc biệt là trong thế hệ trẻ, nhằm nâng cao nhận thức về công tác chăm sóc
người có công với cách mạng. Luôn coi việc chăm sóc người có công vừa là tình
cảm, vừa là trách nhiệm cao quý, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao hy
sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ và người có công với cách mạng đã xả thân vì
độc lập, tự do của Tổ quốc
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công, từng
bước nâng cao đời sống cho các đối tượng chính sách phải vượt qua nhiều rào cản
và thách thức. Chúng ta phải coi đây vừa là động lực, vừa là mục tiêu phấn đấu của
toàn Đảng, toàn dân vì sự phát triển một xã hội lành mạnh, an sinh xã hội bền vững.
Làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng cũng là góp
phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh,
thực hiện công bằng xã hội.
III.
Tổng kết
Như vậy, chế độ ưu đãi xã hội trong Chính sách An sinh xã hội của Đảng và
Nhà nước là một chế độ hết sức tốt đẹp, mang ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận lẫn thực
tiễn. Chế độ ưu đãi xã hội với mục đích ghi nhận và đền đáp những công ơn to lớn,
những sự đóng góp, hy sinh vô giá của những người có công đối với đất nước, dân
tộc đã thể hiện bản chất ưu việt của con đường mà Đảng và dân tộc đã chọn. Trong
thực tế, ngoài những thành tựu tốt đẹp chúng ta đã đạt được trong việc thực hiện chế
độ cho người có công, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập rất lớn. Trong đó nổi
lên các mặt chính như sau: mức trợ cấp còn thấp và chưa đáp ứng nhu cầu thiết yếu
về đời sống của người có công, mức trợ cấp phụ thuộc vào chính sách tiền lương,
điều chỉnh theo mức lương tối thiểu là không hợp lý, khó khăn trong việc giải quyết
Những tồn tại trong giải quyết chế độ cho nạn nhân chất độc da
cam/điôxin. Hồng Nhung (Báo Hoà Bình).
6)
Xin đừng để người có công phải ngậm ngùi!- Bài viết của Trần
Quang Đại Giáo viên trường THPT Trần Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Báo
Dân Trí.
7)
Ths. Lê Thị Hoài Thu – Khoa Luật – D9HQG Hà Nội (Tạp chí Bảo
Hiểm xã hội số 6/2004)
8)
Tạp chí Đảng Cộng sản: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Vietnam-tren-duong-doi-moi/2011/13406/Tiep-tuc-thuc-hien-tot-cac-chinh-sach-uu-dainguoi-co.aspx