MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người, là môi trường quan
trọng giáo dục nếp sống và hình thành nếp sống con người mới, góp phần vào công
cuộc xây dụng và bảo vệ tổ quốc. Thực trạng quan hệ hôn nhân và gia đình không
chỉ phát triển thuận theo ý tưởng và mong muốn của chúng ta, sự tan vỡ của gia
đình cũng là hiện tượng thực tế đặt ra một chiều hướng ngược lại mà mọi ngành
khoa học nói chung và ngành luật học nói riêng phải nghiên cứu. Việc chia tay của
nhiều cặp vợ chồng bằng ly hôn vì nguyên nhân nào đó đã trở thành những trở ngại
lớn cho sự phát triển chung của xã hội, làm tổn hại trực tiếp đến mỗi con người,
đặc biệt làm ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của con trẻ vì không đủ điều
kiện để đảm bảo về vật chất và tinh thần cho chúng. Nếu kết hôn là hiện tượng xã
hội bình thường của quan hệ hôn nhân thì ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân,
nhưng lại không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tan vỡ.Ly hôn được xem là
giải pháp để các bên thoát khỏi quan hệ vợ chồng khi đã thực sự tan vỡ, đây cũng
là biện pháp loại bỏ những quan hệ hôn nhân không còn sức sống, không còn lành
mạnh để góp phần cũng cố các quan hệ gia đình trên cơ sở vững chắc hơn. Chính
vì thế, em xin chọn đề bài: “Tìm hiểu vấn đề ly hôn trong hệ thống pháp luật
Việt Nam ( Từ thời phong kiến đến nay)” để làm đề tài phân tích cho phần bài
tập lớn học kỳ.
NỘI DUNG
I.Một số vấn đề khái quát chung.
1. Khái niệm ly hôn.
Theo quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2000 (LHNVGĐ
2000): “ Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do tòa án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoăc cả hai bên vợ chồng.”
1
Như vậy, có thể hiểu rằng, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng
trên cở sở tự nguyện của ít nhất một bên và trên cơ sở tự nguyện đó cơ quan có
sống mà mỗi người hoặc một trong hai người cảm thấy thiệt thòi, bất hạnh, là sự
thờ ơ, là sự xúc phạm nhau về tinh thần và thể xác dẫn tới việc họ không còn muốn
chung sống với nhau suốt đời thì rõ ràng cuộc hôn nhân đó đã không đạt được mục
đích.
Nghị quyết số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/11/2000 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao, tại điểm a3 mục 8 hướng dẫn về viêcmục đích hôn nhân
không đạt được như sau: “ Không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng vè
quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng; không tôn trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của
vợ, chồng; không tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp
đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt”.
2.2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tòa án tuyên bố mất tích
xin ly hôn thì tòa án giải quyết cho ly hôn.
Quyết định tuyên bố mất tích của tòa án cũng được xem là căn cứ ly hôn nếu
người vợ hoặc người chồng của người bị tuyên bố mất tích yêu cầu được ly hôn.
Thực tế cho thấy rằng, căn cứ cho ly hôn theo khoản 2 Điều 89 Luật HNVGĐ rất
dễ được xác định, chỉ cần có quyết định tuyên bố của vợ hoặc chồng mất tích và có
đơn yêu cầu của người kia thì tòa án sẽ cho ly hôn.
Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định đây là căn cứ cho ly hôn là hoàn toàn
phù hợp với mục đích của hôn nhân. Nếu một trong hai bên vợ chồng bị tuyên bố
mất tích có nghĩa là họ đã biệt tích 2 năm mà không có tin tức xác thực về người
đó còn sống hay đã chết. Chính sự vắng mặt đó của một trong hai bên vợ chồng
làm cho hôn nhân của họ tồn tại chỉ là hình thức, do vậy, giải quyết ly hôn trong
trường hợp này nhằm bảo vệ quyền cho người vợ hoặc chồng ở nhà về các lợi ích
3
nhân than và lợi ích tài sản, đồng thời cũng nhằm cũng cố mối quan hệ gia đình nói
chung.
bạo hành với vợ chính.
Đặc biệt, Bộ dân luật giản yếu 1883 đã quy định việc chỉ do người chồng
quyết định, người vợ không có quyền đó. Theo cổ luật phong kiến Việt Nam,
chồng có quyền “ rẫy” vợ nếu: Hai vợ chồng nghèo, sau khi mới cưới nhau đã trở
nên giàu có, người vợ để tang nhà chồng 3 năm, người vợ không có nơi nương tựa
để trở về nhà.
=> Như vậy, chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta trước 1945 là công cụ pháp lý
của nhà nước thực dân phong kiến nhằm cũng cố và bảo vệ lợi ích của gia đình địa
chủ phong kiến, cũng cố ách thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Sau khi Đảng ra đời, đã đề ra yêu cầu đấu tranh đòi “ bỏ hết thảy các pháp luật
và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không bình đẳng với đàn ông, bỏ chế độ áp bức của
cha mẹ đối với con cái, của chồng đối với vợ, cấm tục lấy nhiều vợ , vợ lẽ; quyền
đàn bà được giữ lại con mình lúc ly dị”.
2. Chế định ly hôn trong giai đoạn từ cách mạng tháng 8/1945 đến
1954.
Trong thời gian này nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 90/SL ngày 10/10/1945
của chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa(VNDCCH), theo đó, các quy định
về luật HNVGĐ trong ba Bộ luật: Bắc Kỳ 1931, Trung Kỳ 1936 và Nam Kỳ 1883
vẫn có hiệu lực thi hành trên phạm vi toàn cõi Việt Nam.
Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của VNDCCH ra đời. Lần đầu tiên trong lịch sử
pháp luật Việt Nam, quyền bình đẳng nam nữ được ghi nhận trong đạo luật có giá
trị pháp lý cao nhất. Đây là cơ sở pháp lý cho đấu tranh xóa bỏ chế độ HNGĐ thời
phong kiến, xây dựng chế độ HNGĐ mới, dân chủ tiến bộ. Cụ thể là Nhà nước đã
5
ban hành hai Sắc lệnh đầu tiên có quy định về HNGĐ là Sắc lệnh 97/SL ngày
22/5/1950 và Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950.
+ Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 có 15 điều, trong đó có 8 điều quy định về
nhiều so với chế độ HNVGĐ phong kiến. Tuy nhiên, hai Sắc lệnh này vẫn còn hạn
chế, chưa xóa bỏ tận gốc và toàn diện chế độ HNVGĐ phong kiến. Đối với Sắc
lệnh 159/SL khi quy định về ly hôn đã quy định giải quyết ly hôn dựa trên những
nguyên cớ của vợ chồng, tức là dựa vào yếu tố lỗi như: Do một bên ngoại tình, bị
can án phạt giam…mà chưa dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân.
3. Chế độ ly hôn trong giai đoạn 1955 đến 1975.
Trong thời kỳ này, Hiến pháp của nước VNDCCH đã được Quốc Hội khóa 1 kỳ
họp thứ XI thông qua ngày 31/12/1959 và được chủ tịch nước ký công bố ngày
1/1/1960, trong đó Điều 24 đã quy định quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi
mặt: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quy định “ Đây là cơ sở pháp lý cho việc
xây dựng luật HNVGĐ mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta”.Luật HNVGĐ đã được
Quốc Hội khóa 1 kỳ họp thứ XI chính thức thông qua ngày 29/12/1959 và được
chủ tịch nước ký Sắc lệnh thông qua ngày 13/1/1960. Theo Sắc lệnh số 02/SL gồm
6 chương chia làm 35 điều, trong đó, chương V gồm 9 điều quy định về ly hôn và
căn cứ ly hôn một cách chính xác.
Luật HNVGĐ 1959, đã công nhận quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly hôn,
xóa bỏ sự bất bình đẳng về duyên cớ ly hôn chung cho hai vợ chồng. Luật
HNVGĐ 1959, không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt mà quy định căn cứ
ly hôn chung nhất cho mọi trường hợp là: Tình trạng vợ chồng mâu thuẫn trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Luật HNVGĐ 1959 đơn giản về thủ tục ly hôn. Điều 25 quy định: Vợ chồng có
thể xin thuận tình ly hôn sau khi điều tra nếu xét đúng hai bên tự nguyện xin ly hôn
7
thì tòa án sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn. Việc ra quyết định thuận tình ly hôn
hoặc bản án xử cho ly hôn là sự phản ánh thực tế khách quan cuộc sống chung giữa
hai vợ chồng không còn nữa chứ không phải là thể hiện ý chí của người xét xử. Ở
đây “ tình trạng vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
việc giải quyết ly hôn cũng dựa trên những duyên cớ, thực chất là lỗi của vợ chồng,
những duyên cớ cho ly than cũng áp dụng chung cho ly hôn (Điều 70 Bộ dân luật
1972).
=>Như vậy, chế độ HNGĐ ở Miền Nam nước ta trước ngày giải phóng là chế độ
HNGĐ phong kiến tư sản với tính chất lạc hậu, phản động như bản chất của nhà
nước thực dân phong kiến. Do dó, yêu cầu xóa bỏ chế độ HNGĐ tư sản, phong
kiến lạc hậu là không thể tránh khỏi.
4. Chế định ly hôn trong giai đoạn 1976 đến nay.
Giai đoạn này nước ta hoàn toàn giải phóng. Ngày 25/3/1976, Hội đồng chính
phủ đã đưa ra Nghị quyết 76/CP quy định về việc thực hiện thống nhất pháp luật
trong phạm vi cả nước, trong đó có Luật HNGĐ 1959. Việc áp dụng và thực hiện
Luật HNGĐ 1959 trong phạm vi cả nước ngoài nhiệm vụ xóa bỏ chế độ HNGĐ cũ
ở Miền Nam còn nhằm xây dựng gia đình mới XHCN ở nước ta.
Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa VI đã chính thức thong qua
bản hiến pháp mới. Trong Hiến pháp 1980, các điều 38, 47, 63, 64 đã quy định
nguyên tắc của chế độ hôn nhân gia đình XHCN là cơ sở pháp lý cho việc xây
dựng luật HNGĐ mới. Và đến 29/12/1986 dự án Luật HNGĐ mới đã được Quốc
Hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 chính thức thông qua và chính thức công bố vào
03/01/1987.
Luật HNGĐ 1986 gồm 57 điều, chia thành 10 chương dựa trên nguyên tắc
hôn nhân tự nguyện, tiến bộ một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, bảo vệ cha
mẹ và con cái. Luật HNGĐ 1986 kế thừa và phát triển Luật HNGĐ 1959 góp phần
9
giải phóng phụ nữ, xây dựng gia đình XHCN thật sự dân chủ, hòa thuận, hạnh
phúc bền vững.
Tại chương 7 Luật HNGĐ 1986 quy định về ly hôn ( Điều 40 đến 45) về các
trường hợp ly hôn, về căn cứ ly hôn cơ bản giống luật HNGĐ 1959, chỉ có căn cứ
Một là, “ Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của
hôn nhân không đạt được”. Như vậy, căn cứ ly hôn này rất khái quát vì ở mỗi cặp
vợ chồng tình trạng và mục đích không giống nhau, điều này sẽ gây khó khăn cho
các thẫm phán giải quyết. Ví dụ: có cặp vợ chồng cãi nhau suốt ngày lại cho rằng
không trầm trọng nhưng có cặp vợ chồng mới cãi nhau một vài lần lại cho rằng
trầm trọng về quan hệ HNGĐ và đòi ly hôn; Hai là, “ Khi một bên vợ chồng mất
tích” vì hôn nhân là sự kết hợp giữa nam và nữ một cách tự nguyện và giữa họ phải
thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau nên khi một bên mất tích 3 năm thì bên còn
lại được phép ly hôn.
+ Thứ hai, về các trường hợp ly hôn và đường lối giải quyết: Một là, trường hợp ly
hôn do một bên yêu cầu, tức chỉ có một bên vợ hoặc chồng thể hiện yêu cầu ly hôn
còn bên kia có thể thể hiện yêu cầu hoặc không thể hiện yêu cầu ly hôn. Trong
trường hợp này, đường lối giải quyết như sau: Sauk hi tòa án thụ lý đơn ly hôn sẽ
tiến hành hòa giải ( vì đây là thủ tục bắt buộc) nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng
một lần nữa. Trong hòa giải, nếu hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải
không thành, sau khi hòa giải lần 1, lần 2 không thành nhưng đến lần thứ 3 mà
thành thì tòa án vẫn không phải mở phiên tòa cho ly hôn. Nhưng nếu sau 3 lần hòa
giải vẫn không thành thì tòa án sẽ quyết định mở phiên tòa cho ly hôn. Khi mở
phiên tòa xét xử phải theo hai hướng: Thứ nhất, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
nếu xét thấy đủ điều kiện ly hôn như : Quan hệ vợ chồng không thể tồn tại và mục
đích hôn nhân không đạt được thì phải cho ly hôn ( kể cả trường hợp một bên
không đồng ý ly hôn); Thứ hai, bác yêu cầu ly hôn của nguyên đơn nếu xét thấy
chưa đủ điều kiên ly hôn như : Tình trạng vợ chồng chưa đến mức trầm trọng để
tan vỡ hôn nhân;
11
Hai là, trường hợp ly hôn khi hai bên thuận tình ly hôn, tức cả hai vợ chồng
đều mong muốn trong đơn là được ly hôn. Cụ thể được thể hiện ở Điều 90 Luật
HNGĐ 2000 “ Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa
dưỡng.
- Quan hệ giữa cha mẹ và con :
+ Đối với người trực tiếp nuôi con : chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể
do hai bên vợ chồng thỏa thuận hoặc do tòa án quyết định ( khi vợ chồng không
thỏa thuận được) hoặc do sự tự nguyện của con ( đối với con đủ 9 tuổi trở lên). Tất
cả đều nhằm đảm bảo lợi ích của con.
+ Đối với người không trực tiếp nuôi con : Thứ nhất, có nghĩa vụ cấp dưỡng cho
con, mức cấp dưỡng theo chi phí tối thiểu cho nhu cầu của con, phương thức cấp
dưỡng theo thỏa thuận, nếu không sẽ theo định kỳ hàng tháng; thứ hai, quyền thăm
con ( có thể bị hạn chế).
IV. Giai pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của
pháp luật HNGĐ và đường lối xét xử các vụ việc ly hôn.
- Quy định rõ hơn về nội dung căn cứ ly hôn, như thế nào là “ tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
- Cần quy định vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu ly hôn khi
có “ lý do chính đáng”, bên cạnh đó nên quy định như thế nào là lý do chính đáng.
- Cần quy định rõ việc giao, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn; quyền và nghĩa vụ mỗi
bên trong vieevj thăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con nhằm đảm bảo về quyền lợi
mọi mặt của đứa trẻ.
- Cần quy định cụ thể các nguyên tắc thanh toán hoặc chia tài sản của vợ chồng khi
ly hôn, về vấn đề thừa kế hay vay mượn khi ly hôn. Đặc biệt chia nhà ở trong
trường hợp giải quyết quyền lợi về nhà ở đối với nhà đang thuê hay trường hợp nhà
13
ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chia quyền sở hữu đất của vợ chồng trong
trường hợp sống chung với gia đình mà ly hôn. Cần quy định các biện pháp đảm
bảo tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ hoặc
chồng có hành vi phá tán tài sản ảnh hưởng tới lợi ích của vợ chồng và lợi ích của
khỏi những vướng mắc, thiếu sót nên em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của các thầy cô để bài viết của em đươc hoàn thiên hơn. Em xin chân thành
cảm ơn.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giao trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Nguyễn Văn cừ và Ngô Thị Hường, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về luật
hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
3. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
4. Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931; Bộ dân luật Trung Kỳ 1936; Bộ dân luật giản yếu
Nam Kỳ 1883.
5. Hiến Pháp 1946, 1959, 1980.
6. Nguyễn Văn Cừ, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội.
16
PHỤ LỤC
17