BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Đề bài: Giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật hiện hành thực tế tuân thủ pháp luật về thuế về giảm trừ gia cảnh và hướng khắc phục
của người nghiên cứu.
MỞ ĐẦU
Thuế xuất hiện và phát triển cùng với nhà nước, là một công cụ hữu
hiệu của nhà nước để thực hiện các chính sách điều tiết nền kinh tế, thực hiện
công bằng xã hội. Trong xã hội nguyên thủy, không có tư hữu cá nhân, mọi
người đều như nhau, không ai giàu, không ai nghèo; nhưng khi xã hội nguyên
thủy tan rã, tư hữu xuất hiện, thì sự phân biệt giàu nghèo ngày càng trở lên rõ
rệt hơn, nhưng không phải ở nhà nước nào người ta cũng coi trọng sự công
bằng trong xã hội; điển hình là đối với nhà nước chủ nô và phong kiến, thì sự
phân biệt giàu nghèo là rõ rệt nhất, trong khi những người lao động là đối
tượng chính tạo nên của cải vật chất thì họ luôn luôn đói khổ, thu nhập không
tương xứng với sức lao động. Phải đến nhà nước tư sản xuất hiện thì sự công
bằng trong phân phối thu nhập mới được quan tâm. Người ta đặt ra thuế thu
nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng để đảm bảo phân phối một
cách công bằng thu nhập. Song việc thu thuế cũng phải đảm bảo công bằng
cho mọi người, với mục đích đó các nhà khoa học nghiên cứu về thuế đã suy
nghĩ về một khoản chi phí để tạo ra thu nhập mà các nhà lập pháp quy định là
giảm trừ gia cảnh.
I. Quy định của pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh.
1.1.Cơ sở của quy định giảm trừ gia cảnh trong luật thuế thu nhập cá
nhân
Cơ sở lý luận
Theo ngành khoa học thuế thì thu nhập chịu thuế được xác định là:
1
nhân mà đã chính thức được quy định và thực hiện.
Cơ sở thực tiễn
Việc tạo ra thu nhập cũng tạo ra chi phí
2
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Để có thể tạo ra thu nhập, người lao động nói chung phải tiêu hao sức
lực của mình để làm việc. Việc tiêu hao sức lao động này đòi hỏi cần phải bù
đắp một lượng sức lực tương ứng để có thể tiếp tục lao động và tạo ra thu
nhập. Nếu việc đánh thuế không xem xét đến vấn đề này sẽ trở thành phiến
diện và duy tâm. Bởi con người không thể cứ làm việc mà không ăn uống, nếu
thế sẽ bị cạn kiệt sức lao động và không thể tạo ra thu nhập được, khi đó nhà
nước không thể tiếp tục thu thuế. Do đó, khi đánh thuế thu nhập, pháp luật
Việt Nam đã quy định giảm trừ gia cảnh đối với mỗi đối tượng nộp thuế là 4
triệu đồng/tháng. Số tiền này được coi là trang trải cuộc sống, duy trì sự tạo
thu nhập cho mỗi người lao động, cũng như là duy trì cái cây để nhà nước hái
quả.
Song con người sống trong xã hội không phải là một thực thể độc lập
mà luôn có mối quan hệ đối với xã hội, nhất là mối quan hệ gia đình. Luật hôn
nhân và gia đình quy định con cái có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ;
cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con cái 1, song không phải vì luật
quy định mà đây là một thực tế, là truyền thống đạo đức của người Việt Nam,
họ kiếm tiến không chỉ phục vụ cho sự tồn tại của chính bản thân họ mà còn
phục vụ cho sự tồn tại của những người phụ thuộc (là cha mẹ, con cái). Những
quan hệ này cũng gắn liền máu thịt không khác với bản thân họ là mấy. Một
trung bình trong xã hội và khi đó những người có thu nhập ở mức trung bình
trở lên sẽ phải nộp thuế TNCN. Điều này có nghĩa là Luật sẽ tự động mở rộng
diện tích đánh thuế để thực hiện nguyên tắc mọi công dân có thu nhập (trừ
trường hợp thu nhập quá thấp) đều có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, từ đó
đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư. Tất nhiên,
đến một thời điểm nào đó, khi thu nhập và mức sống của dân cư đã tăng rất
cao, Quốc hội sẽ xem xét điều chỉnh mức giảm trừ này cho phù hợp với định
hướng vừa phân tích trên.
Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện dựa trên cơ sở mỗi
người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế.
Những người phụ thuộc được giảm trừ khá rộng, bao gồm: con chưa thành
niên, con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, con tàn tật
không có khả năng lao động; các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu
nhập nhưng thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc không có nơi nương
tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ chồng, cô,
dì, chú, bác, cháu…).
4
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Việc mở rộng diện giảm trừ như trên cho những người phụ thuộc đảm
bảo thực hiện công bằng trong điều tiết thu nhập và phù hợp với đạo lý xã hội
của người Việt Nam. Song lý luận là thế nhưng trong thực tế, các đối tượng
phụ thuộc còn rất nhiều vướng mắc trong xác định đối tượng phụ thuộc để
giảm trừ. Ví dụ đối với người không có nơi nương tựa mà người nộp thuế trực
tiếp nuôi dưỡng có thể là cha mẹ già yếu, nhưng cha mẹ có thể có nhiều con,
đồng/năm)
- Phần giảm trừ cho người phụ thuộc mà người nộp thuế phải có trách
nhiệm nuôi dưỡng là 1.6 triệu đồng/tháng/người. Người phụ thuộc phải là
người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng (người phụ thuộc
không hạn chế về số lượng), bao gồm: con tàn tật không có khả năng lao
động; các cá nhân khác không có thu nhập hoặc thu nhập thấp hơn mức quy
định hoặc không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi
dưỡng, bao gồm: con chưa thành niên hoặc đang học đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao
động; những người khác không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực
tiếp nuôi dưỡng.
Hồ sơ, thủ tục kê khai người phụ thuộc:
Đối với con chưa thành niên (dưới 18 tuổi), thủ tục, hồ sơ chứng minh
người phụ thuộc là: Bản photocopy Giấy khai sinh. Nếu là con nuôi thì ngoài
Giấy khai sinh phải có bản photocopy Giấy chứng nhận là con nuôi của cơ
quan có thẩm quyền theo qui định của pháp luật, trong đó ghi rõ quan hệ giữa
đối tượng nộp thuế với người phụ thuộc là quan hệ giữa bố (hoặc mẹ) với con
nuôi; Con đã thành niên bị tàn tật không có khả năng lao động cần có: Bản
photocopy Giấy khai sinh, bản photocopy xác nhận của Trung tâm giám định
Y khoa tỉnh, thành phố được thành lập theo qui định của Bộ y tế về mức độ
tàn tật không có khả năng lao động.
Với đối tượng chịu thuế có con đang theo học đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp hoặc học nghề (kể cả con đang học ở nước ngoài) phải có
các loại giấy tờ sau: Bản photocopy giấy khai sinh, bản photocopy Thẻ sinh
viên, hoặc xác nhận của trường; Biên lai thu học phí (hoặc chứng từ nộp
khoản chi phí tiền học, tiền sinh hoạt phí) của niên độ phù hợp với năm tính
thuế (bản photocopy); Trường hợp sinh viên thuộc đối tượng miễn nộp học
6
II. Thực tiễn tuân thủ pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh
7
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi
tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của
đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Mức trừ này có tính đến hoàn cảnh cụ
thể của người nộp thuế, không phải là mức đủ sống cho người nộp thuế và gia
đình. Thu nhập tính thuế (sau khi đã giảm trừ gia cảnh) được áp dụng theo
biểu thuế luỹ tiến từng phần từ 5% đến 35 %, thu nhập còn lại sau khi nộp
thuế là thu nhập của người nộp thuế để chi tiêu.
Thực tiễn tuân thủ pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh còn bất cập trên
thực tế do một số nguyên nhân:
Thứ nhất về việc chứng minh người phụ thuộc và thủ tục giảm trừ gia
cảnh:
Nhiều người khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đang băn khoăn vì
trường hợp của mình rõ ràng có người thân phụ thuộc và là trường hợp được
giảm trừ gia cảnh, nhưng khi đối chiếu với thông tư 84 của Bộ Tài chính về
thuế TNCN thì không chứng minh được những người phụ thuộc. Để giảm trừ
cho mỗi người con đang học đại học phải có ít nhất ba loại giấy tờ. Thêm nữa,
pháp luật quy định đòi quá nhiều loại giấy tờ. Có giấy tờ không đơn giản như
giấy chứng nhận y khoa đối với người phụ thuộc trong độ tuổi lao động nhưng
không có khả năng lao động. Bên cạnh đó, đã phát sinh mâu thuẫn khi kê khai
giảm trừ gia cảnh vì thành viên nào cũng muốn giảm trừ gia cảnh cho mình.
Khó khăn cho cơ quan xác nhận cho thủ tục giảm trừ gia cảnh. Đa số UBND
phường, xã đều không thể biết gia cảnh thực tế của người nộp đơn; vì thế
Thuế thu nhập cá nhân và Thuế Thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính tổ
chức ngày 8/11 tại Hà Nội nhiều ý kiến cho rằng mức tính giảm trừ gia cảnh
theo số tuyệt đối hiện nay là không phù hợp.
Đối với Luật Thuế thu nhập cá nhân, các đại biểu cho rằng, mức giảm
trừ cho bản thân người nộp thuế là 4 triệu đồng/người/tháng và 1,6 triệu
đồng/người phụ thuộc/tháng là không phù hợp với thực tế đời sống kinh tế, xã
hội.
Theo một số chuyên gia, việc quy định mức giảm trừ gia cảnh bằng số
tuyệt đối có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán song không công bằng, đặc biệt
trong bối cảnh nền kinh tế chưa ổn định, không đảm bảo được cuộc sống tối
9
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
thiểu cho người nộp thuế. Khi chính sách thuế thu nhập cá nhân còn chưa
nhận được sự đồng thuận nhất trí cao của đông đảo các tầng lớp dân chúng sẽ
gây khó khăn trong quá trình thực hiện, gây thất thu Ngân sách Nhà nước và
ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội. Góp ý về Luật Thuế thu nhập cá
nhân, đại diện của Hội tư vấn thuế Việt Nam đánh giá trong quá trình thực
hiện, việc thực thi Luật Thuế thu nhập cá nhân còn gặp nhiều khó khăn do
các nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và
suy thoái kinh tế toàn cầu và lạm phát tăng cao; cùng các nguyên nhân chủ
quan khác về mặt quy định thực thi Luật cũng như các hướng dẫn đưa ra còn
thiếu tính thực tiễn hoặc nhiều qui định và chưa nhất quán khiến việc thực thi
luật gặp khó khăn.
Tuy nhiên, cơ quan thuế hiện nay mới chỉ kiểm soát được thu nhập của
Đề nghị nâng mức giảm trừ thuế TNCN lên 5 triệu đồng/tháng
Theo TS. Đỗ Thị Thìn, Phó Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam, thuế
TNCN đóng góp nguồn thu cho ngân sách ngày càng tăng. Luật Thuế TNCN
đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với các loại thu nhập ngoài tiền công, tiền
lương như thu nhập từ đầu tư và kinh doanh... Tuy nhiên, cơ quan Thuế hiện
nay mới chỉ kiểm soát được thu nhập của những người làm công ăn lương,
còn các đối tượng khác phần lớn chưa kiểm soát được thu nhập, và chưa đưa
ra được các biện pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát việc tuân thủ của các đối
tượng đó. Việc này vô hình chung tạo ra sự không công bằng trong quá trình
thực thi.
Mức giảm trừ gia cảnh cũng nhận được nhiều đóng góp. Điều 19 Luật
thuế TNCN quy định: Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu
đồng/tháng (48 triệu đồng/năm); Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là
1,6 triệu đồng/tháng.
TS. Đỗ Thị Thìn cho rằng, để luật này thực sự là luật thuế phổ biến đối
với các cá nhân có thu nhập thực hiện nghĩa vụ công dân và qua 3 năm thực
hiện mức lương tối thiểu cũng đã có thay đổi thì mức 4 triệu là thấp và đề nghị
nâng khoảng 5 triệu đồng/tháng.
Về mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc, có ý kiến đề nghị không
nên quy định tất cả các khoản thu nhập của người phụ thuộc mà chỉ nên quy
định khoản thu nhập có tính chất ổn định đều đặn hàng tháng như thu nhập từ
11
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
tiền lương, thu nhập kinh doanh, thu nhập từ đầu tư vốn... Ngoài ra, mức xác
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
LUẬT TÀI CHÍNH VIỆT NAM
nhưng còn cao hơn một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Singapore,
Hongkong...
Xác định mức thuế suất chính là xác định mức độ điều tiết về thuế của
Nhà nước đối với thu nhập của DN. Mức thuế suất cao sẽ tăng điều tiết tập
trung cho NSNN, nhưng việc giảm thuế suất thuế TNDN sẽ có tác động tăng
động viên cho NSNN; do giảm thuế suất thuế TNDN chính là tạo điều kiện để
DN có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy tái đầu tư, đẩy mạnh phát triển
sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Dự kiến, mức thuế suất thuế TNDN sẽ điều chỉnh giảm theo 2 phương
án: Thứ nhất, thuế suất 23% từ năm 2012- 2015; thuế suất 20% từ năm 20162020. Và phương án thứ hai: thuế suất 20% từ năm 2012. Chủ tịch Hội Tư vấn
thuế đề nghị, để đảm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa NSNN và DN nên lựa chọn
phương án thứ nhất.
Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị nên giảm mức thuế suất tiêu chuẩn từ
25% hiện hành xuống còn mức 21% từ năm 2015 để khuyến khích thu hút đầu
tư trong và ngoài nước và sẽ giảm tiếp mức thuế suất thuế TNDN trong tương
lai xa hơn, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng giảm thuế suất
thuế TNDN ở các nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Như vậy, có thể thấy rằng vấn đề giảm từ gia cảnh được pháp luật quy
định là tương đối rõ ràng và cụ thể, về cơ bản, bảo vệ được quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, đảm bảo được sự bình đẳng trong gia đình và sự công
bằng xã hội. Tuy nhiên từ thực tế áp dụng cho thấy quy định của pháp luật về
giảm trừ gia cảnh còn một số điểm chưa hợp lý cần nhanh chóng khắc phục để
đạt hiệu quả tốt hơn trên thực tế áp dụng.
13
15