ĐẶT VẤN ĐỀ
Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân mà các vấn đề về quyền sở hữu
đối với tài sản của vợ chồng không thể chỉ điều chỉnh bằng các quy định chung
về sở hữu tài sản thông thường. Tất cả các quốc gia trên thế giới, dù chế độ xã
hội khác nhau, trình độ phát triển kinh tế khác nhau, điều kiện về phong tục tập
quán, truyền thống văn hóa khác nhau, tất cả quốc gia đó dù đã quy định về
quyền sở hữu tài sản thông thường nhưng ít hay nhiều cũng đều có quy định
riêng về vấn đề sở hữu tài sản vợ chồng. Như vậy, tài sản của hai người nam và
nữ khi bước vào hôn nhân được điều chỉnh bởi một quy chế pháp lý có tên là
“chế độ tài sản vợ chồng”. Theo một logic đơn thuần, khi chưa bước vào hôn
nhân, từng cá nhân được tự do định đoạt tài sản của mình thì trong hôn nhân hai
cá nhân đó có thể thỏa thuận định đoạt chế độ tài sản vợ chồng. Nói đến chế độ
tài sản vợ chồng là nói đến vấn đề về sở hữu đối với tài sản của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân. Trên tiêu chí hình thức, chế độ tài sản vợ chồng được chia
thành chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới đều cho phép những người sắp kết hôn tự thỏa thuận về chế độ
tài sản vợ chồng bằng một văn bản có tên “hôn ước”, tuy nhiên ở Việt Nam thì
không như vậy, chế độ tài sản vợ chồng chỉ do pháp luật quy định. Vậy, chế độ
tài sản ước đinh là gì và có nên đưa chế độ này vào trong pháp luật Hôn nhân gia
đình Việt Nam hay không? Để làm rõ vẫn đề này, em xin chọn đề tài Trình bày
hiểu biết của mình về chế độ tài sản ước định để phân tích. Từ đó có cái nhìn sâu
sắc và toàn diện hơn về chế độ tài sản vợ chồng trong luật Hôn nhân gia đình
Việt Nam.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái quát chung về chế độ tài sản ước định.
1.1. Khái niệm về chế độ tài sản ước định.
Trước khi đi vào tìm hiểu về chế độ tài sản ước định ta cần xác định được
rẳng quan hệ tài sản là sự tất yếu phát sinh trong quan hệ hôn nhân. Khi chưa
bước vào thời kì hôn nhân hai người nam và nữ có tài sản riêng của mình, có
song việc cho phép vợ chồng được thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân thậm chí thỏa thuận cả về hậu quả của việc chia tài sản này
trong một số các qui định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định
70/2001/NĐ-CP đã cho thấy sự thay đổi cách nhìn nhận của các nhà làm luật
Việt Nam về chế độ tài sản này.
1.2. Hôn ước và đặc điểm của hôn ước.
Khi áp dụng chế độ tài sản ước định, vợ chồng được tự do thỏa thuận về
chế độ tài sản trong thời kì hôn nhân. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận đó là hôn
ước. Hôn ước là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức
nhất định trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng
được áp dụng trong thời kì hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn
nhân. Hôn ước là sản phẩm của một quá trình lịch sử lâu dài và ngày nay nó trở
nên phổ biến trên toàn thế giới.
Hôn ước là văn bản ghi lại sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản trong
thời kì hôn nhân do vậy nó phải đáp ứng được một số các qui định về hôn nhân
gia đình. Xét đặc điểm của hôn ước ta có thể xem xét nó trên một số các khía
cạnh như chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức, và hiệu lực pháp lí.
Về chủ thể: Hôn ước chỉ được công nhận nếu đó là thỏa thuận của những
người có quan hệ hôn nhân hợp pháp tức có làm những thủ tục cần thiết để đăng
kí kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.
Về mục đích: Hôn ước tạo điều kiện cho vợ chồng tự chủ hơn trong việc
quản lí tài chính, hoạch định tương lai. Mặc dù không hoàn toàn, nhưng hôn ước
và cả chế độ tài sản ước định cũng xuất phát từ lợi ích chung của gia đình và có
mục đích là góp phần vào sự vững bền của hạnh phúc gia đình.
3
Về hình thức: Hôn ước buộc phải được lập bằng văn bản có chữ kí của hai
bên nam nữ sắp trở thành vợ chồng. Pháp luật của nhiều nước thường qui định
tắc và là giải pháp đầu tiên khi qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp
luật về Hôn nhân và Gia đình ở hầu hết các nước phương Tây.
Theo nguyên tắc trên, trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự
do lập hôn ước để qui định chế độ tài sản của họ. Họ muốn lựa chọn chế độ tài
sản nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và qui định chế độ tài sản của vợ
chồng khi họ không lập hôn ước. Điều 755 và Điều 756 Bộ Luật dân sự Nhật
Bản, Điều 1465 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ Luật
Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965) đều qui định: Vợ chồng
có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thoả thuận trong hôn ước không trái với
thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các qui định của pháp luật về điều kiện
thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước.
Như vậy, tài sản của vợ chồng không nhất thiết do pháp luật qui định mà
do chính bản thân vợ chồng tự thoả thuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào
là tài sản riêng. Vợ chồng có thể thoả thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ
tài sản được qui định trong pháp luật hoặc họ có thể chọn một chế độ tài sản
riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo qui định của pháp luật.
Các thoả thuận của vợ chồng trong hôn ước mang tính ổn định cao. Về
nguyên tắc, sau khi kết hôn việc thực hiện hôn ước là “bất di bất dịch”, Điều
1395 Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804 qui định: Hôn ước không thể thay đổi sau
khi đã kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc hôn ước không thể thay đổi trong thời kỳ
hôn nhân có một hạn chế cơ bản là nó có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt
đến lợi ích của gia đình, của bản thân vợ, chồng hay của người thứ ba có quan hệ
giao dịch với vợ chồng khi vợ chồng đã chọn lầm một chế độ tài sản hoàn toàn
không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, điều kiện nghề nghiệp, thu
nhập; hoặc, chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn có thể chỉ phù hợp ở giai đoạn
đầu. Để khắc phục hạn chế trên, hiện nay, pháp luật một số nước đã thừa nhận,
các thoả thuận trong hôn ước có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với
những điều kiện pháp lý chặt chẽ, Điều 1397 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp
(Luật số 65-570 ngày 13/7/1965, Luật số 89 – 18 ngày 13/1/1989) qui định: Sau
lệnh đầu tiên qui định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình: sắc lệnh
159/SL ngày 17/11/1950 qui định về vấn đề li hôn, sắc lệnh 97/SL ngày
6
22/5/1950 sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Trong đó chỉ có sắc
lệnh 97 là qui định về vấn đề tài sản vợ chồng. Song văn bản này cũng không đề
cập tới chế độ tài sản ước định mà chỉ đề cập tới vấn đề bình đẳng trong quan hệ
vợ chồng trong đó có quan hệ tài sản.
Đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời chế độ tài sản vợ
chồng đã được qui định rõ ràng hơn. Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 qui định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang
nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”.Như vậy, qui định về chế độ tài
sản vợ chồng của pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa chỉ thừa nhận chế độ tài
sản pháp định, qui định về chế độ tài sản vợ chồng hoàn toàn không có sự tồn tại
của chế độ tài sản ước định.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời với chế độ tài sản vợ chồng ở
là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản thì tài sản riêng của vợ chồng mới được
thừa nhận. Với các qui định tại Điều 16, 18 và 42, Luật này cũng cho phép vợ
chồng được chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân song việc chia tài sản này
phải có bản án của tòa án theo qui định của pháp luật. Theo Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986, vợ chồng cũng không được thỏa thuận bất cứ vấn đề gì về sở
hữu tài sản trừ vấn đề nhập tài sản riêng có trước hoặc trong thời kì hôn nhân
thành tài sản chung. Như vậy, trong một khoảng thời gian hơn 25 năm (thời gian
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực), pháp luật Việt Nam đã không
thừa nhận đối với chế độ tài sản ước định.
3.2. Chế độ tài sản ước định theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay.
Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là văn bản có hiệu lực
pháp lí cao nhất điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Kế
thừa tinh thần của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia
của vợ hoặc của chồng. Khi thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
vợ và chồng phải đạt được thỏa thuận theo ý chí của cả hai bên. Việc chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân có thể được thực hiện trong trường hợp vợ hoặc
chồng hoặc cả hai vợ chồng có lí do chính đáng, lí do đó có thể là việc người vợ
hoặc chồng có nghĩa vụ dân sự cần thực hiện hay có nhu cầu đầu tư, kinh doanh
8
riêng. Khi đó việc chia tài sản sẽ được xác định bằng văn bản thỏa thuận giữa vợ
và chồng hoặc bằng một bản án, quyết định của Tòa án.
Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì quan hệ nhân thân giữa
vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế
định này với chế độ li thân được qui định trong pháp luật một số nước phát triển
có qui định về chế độ tài sản ước định. Tuy nhiên cùng với việc chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân thì quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đã xuất hiện
nhiều sự thay đổi. Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 8 nghị
định 70/2001 NĐ-CP đã thể hiện sự thay đổi quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng
như sau:
“1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu
riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu
chung của vợ, chồng.
2. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu
nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của
vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”.
Cùng với qui định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân
Điều 9 nghị định số 70/ 2001 NĐ-CP cũng qui định cho phép vợ chồng có thể
khôi phục chế độ tài sản chung. Việc khôi phục chế độ tài sản chung vợ chồng
cũng phải được lập thành văn bản theo qui định của pháp luật.
đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững.
Thêm vào đó, chế độ tài sản ước định không hoàn toàn phù hợp với tập
quán truyền thống và tâm lý chung của nhân nhân ta. Với người Việt Nam, hôn
nhân và gia đình là những quan hệ xã hội quan trọng nhất trong cuộc sống. Con
người sống gắn chặt với gia đình, phẩm chất và giá trị của từng người phụ thuộc
rất nhiều vào hôn nhân và gia đình của họ. Do đó, trong các vấn đề hôn nhân và
gia đình nói chung và các vấn đề về tài sản trong gia đình nói riêng, con người
Việt Nam thường đề cao lợi ích chung của gia đình hơn là lợi ích riêng của cá
nhân. Nhân dân ta đã có những quan niệm nói lên sự đồng tâm hiệp lực của cả
hai vợ chồng trong việc tạo lập và sở hữu tài sản chung của hai vợ chồng, chẳng
10
hạn về lao động sản xuất: “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”; “Thuận vợ
thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” hay về quyền sở hữu có quan niệm “ Của
chồng công vợ” Như vậy, quan niệm rạch ròi,tự do quá đà trong các vấn đề gia
đình nói chung và tài sản nói riêng không phải là tập quán tâm lí chung của nhân
dân ta, do vậy, việc áp dụng chế độ này vào đời sống hôn nhân cũng như pháp
luật ở Việt Nam còn tương đối khó khăn.
4.3.Đề xuất giải pháp
Từ những phân tích trên, ta có thể thấy, để đuợc một cách thức tổ chức
hợp lý nhất các quan hệ tài sản của vợ chồng, Luật HN-GĐ Việt Nam cần quan
tâm xử lý hai vấn đề cơ bản sau :
Thứ nhất, nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận trong các quan hệ dân sự,
được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, đảm bảo cho các cá nhân có quyền tự do
thỏa thuận để xác lập các quyền và nghĩa vụ, miễn sao các thỏa thuận đó không
vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Trong các quan hệ gia đình,
vợ chồng có bổn phận, trách nhiệm phải đảm bảo những điều kiện về tinh thần
cũng như vật chất cho sự tồn tại và phát triển của gia đình mình. Tuy nhiên, điều
đó không có nghĩa là tất cả các đôi vợ chồng đều cần phải thực hiện một chế độ
KẾT LUẬN
Tóm lại, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận không phải là một
điều mới lạ đối với xã hội Việt Nam, thậm chí nó đã từng được thực hiện trong
một thời gian khá dài (nhất là ở Miền nam). Thực chất, việc duy trì duy nhất một
chế độ tài sản của vợ chồng, cho đến nay, phản ánh sự thắng thế của một quan
điểm lập pháp, chứ không phải hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn kinh tế-xã hội.
Chúng ta không phủ nhận sự phù hợp của chế độ cộng đồng tạo sản mà mà Luật
Hôn nhân và gia đình đang thực hiện, nhưng sự áp đặt của chế độ này cho mọi
quan hệ vợ chồng thì không thể được coi là hợp lý. Do đó, Pháp luật về Hôn
nhân và Gia đình Việt Nam cần thay đổi lại phương thức tổ chức các chế độ tài
sản của vợ chồng, theo hướng thừa nhận quyền tự do của vợ chồng trong việc
chọn chế độ tài sản áp dụng.
13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Nguyễn Ngọc Điện, Bình Luận Khoa họa Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Tập 1, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, năm
2002.
3. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
4. Nghị định của Chính phủ số 70/2001 NĐ-CP qui định chi tiết Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000.
5. Phạm Thị Linh Nhâm, Tìm hiểu về hôn ước và khả năng áp dụng hôn ước
ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
6. Nguyễn Hồng Hải, Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong pháp