MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đó phản án sự chung
sống của hai vợ chồng và con cái (nếu có). Như một điều tất yếu của cuộc sống
chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những
nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Khi chưa bước vào hôn nhân, hai
người nam nữ là những người có tài sản riêng, hoàn toàn tự do trong việc định
đoạt tài sản của mình. Song khi đã xác lập quan hệ hôn nhân hôn nhân, tất cả các
vấn đề về tài sản của họ được điều chỉnh bởi một qui chế pháp lí có tên là “chế
độ tài sản vợ chồng”. Xét về mặt logic, trước hôn nhân hai người nam và nữ có
quyền tự do định đoạt tài sản của mình thì trong hôn nhân họ cũng có quyền thỏa
thuận về tài sản chung của vợ chồng. Vậy nên nhiều quốc gia trên thế giới đã
cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận về tài sản chung trong trong thời kì hôn
nhân bằng một văn bản có tên là “hôn ước”.
Chế độ tài sản vợ chồng ở nước ta nằm dưới sự điều chỉnh của pháp luật.
Điều này được ghi nhận từ Luật hôn nhân gia đình năm 1959 cho đến Luật hôn
nhân gia đình năm 2000 đang có hiệu lực thi hành. Song qua một quá trình dài
các nhà làm luật Việt Nam đã nhận thấy được sự hợp lí của sự thỏa thuận về tài
sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, do vậy từ chỗ không chấp nhận sự thỏa
thuận này tới việc cho phép có sự thỏa thuận về tài sản vợ chồng trong thời kì
hôn nhân được qui định Luật hôn nhân gia đình năm 2000 và đặc biệt Nghị định
70/2001 NĐ-CP. Để tìm hiều và làm về vấn đề này em đã chọn đề tài “Hãy
trình bày hiểu biết của mình về chế độ tài sản ước định”.
2
sản của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận. Sự thỏa thuận của vợ chồng trong chế
độ tài sản ước định được ghi lại bằng một văn bản có tên là hôn ước. Chế độ tài
sản ước định cũng được pháp luật nhiều nước như: Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Thái Lan… công nhận. Ở Việt Nam thì chế độ tài sản này chưa được công nhận
song việc cho phép vợ chồng được thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân thậm chí thỏa thuận cả về hậu quả của việc chia tài sản này
trong một số các qui định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định
70/2001/NĐ-CP đã cho thấy sự thay đổi cách nhìn nhận của các nhà làm luật
Việt Nam về chế độ tài sản này.
1.2. Hôn ước và đặc điểm của hôn ước.
Khi áp dụng chế độ tài sản ước định, vợ chồng được tự do thỏa thuận về
chế độ tài sản trong thời kì hôn nhân. Văn bản ghi nhận sự thỏa thuận đó là hôn
ước. Hôn ước là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức
nhất định trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng
được áp dụng trong thời kì hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn
nhân. Hôn ước là sản phẩm của một quá trình lịch sử lâu dài và ngày nay nó trở
nên phổ biến trên toàn thế giới.
Hôn ước là văn bản ghi lại sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản trong
thời kì hôn nhân do vậy nó phải đáp ứng được một số các qui định về hôn nhân
gia đình. Xét đặc điểm của hôn ước ta có thể xem xét nó trên một số các khía
cạnh như chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức, và hiệu lực pháp lí.
Về chủ thể: Hôn ước chỉ được công nhận nếu đó là thỏa thuận của những
người có quan hệ hôn nhân hợp pháp tức có làm những thủ tục cần thiết để đăng
kí kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.
Về mục đích: Hôn ước tạo điều kiện cho vợ chồng tự chủ hơn trong việc
quản lí tài chính, hoạch định tương lai. Mặc dù không hoàn toàn, nhưng hôn ước
và cả chế độ tài sản ước định cũng xuất phát từ lợi ích chung của gia đình và có
mục đích là góp phần vào sự vững bền của hạnh phúc gia đình.
2.1. Chế độ tài sản ước định theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam sau
Cách mạng tháng Tám.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước ta đã ban hành hai sắc
lệnh đầu tiên qui định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình: sắc lệnh
5
159/SL ngày 17/11/1950 qui định về vấn đề li hôn, sắc lệnh 97/SL ngày
22/5/1950 sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Trong đó chỉ có sắc
lệnh 97 là qui định về vấn đề tài sản vợ chồng. Song văn bản này cũng không đề
cập tới chế độ tài sản ước định mà chỉ đề cập tới vấn đề bình đẳng trong quan hệ
vợ chồng trong đó có quan hệ tài sản.
Đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời chế độ tài sản vợ
chồng đã được qui định rõ ràng hơn. Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 qui định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang
nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”.Như vậy, qui định về chế độ tài
sản vợ chồng của pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa chỉ thừa nhận chế độ tài
sản pháp định, qui định về chế độ tài sản vợ chồng hoàn toàn không có sự tồn tại
của chế độ tài sản ước định.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời với chế độ tài sản vợ chồng ở
là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản thì tài sản riêng của vợ chồng mới được
thừa nhận. Với các qui định tại Điều 16, 18 và 42, Luật này cũng cho phép vợ
chồng được chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân song việc chia tài sản này
phải có bản án của tòa án theo qui định của pháp luật. Theo Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986, vợ chồng cũng không được thỏa thuận bất cứ vấn đề gì về sở
hữu tài sản trừ vấn đề nhập tài sản riêng có trước hoặc trong thời kì hôn nhân
thành tài sản chung. Như vậy, trong một khoảng thời gian hơn 25 năm (thời gian
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực), pháp luật Việt Nam đã không
thừa nhận đối với chế độ tài sản ước định.
2.2. Chế độ tài sản ước định theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam hiện
trong thời kì hôn nhân không có nghĩa là pháp luật nước ta công nhận chế độ tài
sản ước định song đây có thể coi là một bước tiến tiếp cận với qui định của các
nước phát triển. Có thể hiểu việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là
việc chuyển một hoặc nhiều tài sản vốn thuộc khối tài sản chung vào khối tài sản
của vợ hoặc của chồng. Khi thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
vợ và chồng phải đạt được thỏa thuận theo ý chí của cả hai bên. Việc chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân có thể được thực hiện trong trường hợp vợ hoặc
chồng hoặc cả hai vợ chồng có lí do chính đáng, lí do đó có thể là việc người vợ
7
hoặc chồng có nghĩa vụ dân sự cần thực hiện hay có nhu cầu đầu tư, kinh doanh
riêng. Khi đó việc chia tài sản sẽ được xác định bằng văn bản thỏa thuận giữa vợ
và chồng hoặc bằng một bản án, quyết định của Tòa án.
Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì quan hệ nhân thân giữa
vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế
định này với chế độ li thân được qui định trong pháp luật một số nước phát triển
có qui định về chế độ tài sản ước định. Tuy nhiên cùng với việc chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân thì quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đã xuất hiện
nhiều sự thay đổi. Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 8 nghị
định 70/2001 NĐ-CP đã thể hiện sự thay đổi quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng
như sau:
“1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu
riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu
chung của vợ, chồng.
2. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu
nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của
vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”.
Cùng với qui định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân
sự bình đẳng vợ chồng, người vợ đã có thể cùng chồng đưa ra quyết định cho
những hoạt động kinh tế hay độc lập thực hiện các hoạt động kinh tế khác. Như
vậy, thực tế sẽ dẫn đến việc hoạt động đầu tư kinh doanh thường chỉ thực hiện
và chịu trách nhiệm bởi người vợ hoặc hoặc người chồng. Song các hoạt động
kinh tế này lại liên quan đến vấn đề tài sản chung của vợ chồng nên cần thiết
phải có một cơ chế để giải quyết vấn đề này. Do đó các qui định về chia tài sản
vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một dự liệu hợp lí cho các tình huống về sở
hữu tài sản có thể xảy ra trong quan hệ hôn nhân.
Trong xu thế hội nhập, kết hôn với người nước ngoài là quyền nhân thân
của mỗi người trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, hạnh phúc do
vậy trong những năm trở lại đây việc người Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài là tương đối phổ biến. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều nước áp dụng
9
chế độ tài sản ước định do vậy, khả năng một người Việt Nam kết hôn với một
người nước ngoài và hai người có lập hôn ước là rất cao. Thực tế này đã dẫn đến
hai trường hợp: Thứ nhất, trong trường hợp hai công dân Việt Nam định cư ở
nước ngoài, kết hôn với nhau và lập hôn ước, theo nguyên tắc của tư pháp quốc
tế thì luật áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật về vấn đề kết hôn sẽ là luật
của quốc gia nơi thực hiện nghi thức kết hôn. Vì thế, mặc dù pháp luật Việt Nam
không có qui định về hôn ước song khi đó hôn ước của hai công dân Việt Nam
sẽ vẫn có hiệu lực. Thứ hai, Việt Nam mặc dù không có qui định cho phép lập
hôn ước nhưng cũng không có qui định nào cấm lập hôn ước.Hai trường hợp này
đã làm cho pháp luật nước ta gián tiếp công nhận chế độ tài sản ước định.
Từ khi thành lập nhà nước Việt Nam, các bộ luật về hôn nhân gia đình
cũng như các Bộ luật dân sự của nước ta chưa từng công nhận chế độ tài sản ước
định. Song từ các qui định công nhận tài sản riêng của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân tại Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đến các qui định về chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân, nhập tài sản chung vợ chồng tại Luật hôn nhân
Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Nguyễn Ngọc Điện, Bình Luận Khoa họa Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Tập 1, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, năm
2002.
3. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
4. Nghị định của Chính phủ số 70/2001 NĐ-CP qui định chi tiết Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000.
5. Phạm Thị Linh Nhâm, Tìm hiểu về hôn ước và khả năng áp dụng hôn ước
ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
6. Nguyễn Hồng Hải, Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong pháp
luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tạp chí luật học số 3 năm 1998
7. Th.S Bùi Minh Hồng, Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ
từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam, bài viết được đăng trên
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/01/05/4322-2/
12