MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. NỘI DUNG
trang
1
1
I.Lý luận chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1
II. Chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng( chế độ tài sản ước
định)
4
III.Vấn đề thừa nhận chế độ tài sản ước định trong Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam
8
IV. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định tài sản của vợ chồng.
9
C. KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
10
11
thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn
được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia định với sự tồn tại và phát
triển của xã hội, nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài sản của vợ chồng xuất
phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó
có lợi ích cá nhân của vợ chồng. Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ
chồng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
mình đối với tài sản của vợ chồng.
2
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự phát triển,
chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ chồng thường
chỉ tồn tại trong thời ký hôn nhân.
3. Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng.
a. Vai trò của chế độ tài sản của vợ chồng
Một là, chế độ tài sản được pháp luật ghi nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ tài
sản của vợ chồng tạo điều kiện để vợ chồng có những cách “ ứng xử” theo yêu cầu của
pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội.
Hai là, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Luật hôn nhân và gia đình điều chihr
các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các
thành viên khác trong gia đình. Việc thực hiện và áp dụng chế độ tì sản của vợ chồng
góp phần củng cố, đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩ vụ nhân thân giữa vợ chồng và
giữa các thành viên khác trong gia đình với nhau
Ba là, chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản
trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại.Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng phải ký
kết rất nhiều loại hợp đồng dân sự với người khác, nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng,
các giao dịch dân sự với người khác, nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng, các giao dịch
đó được đảm bảo thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của người tham gia giao dịch liên
quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ.
thế giới đã quy định có 2 chế độ tài sản của vợ chồng đó là chế độ tài sản pháp định và
chế độ tài sản ước định.
a. Chế độ tài sản pháp định.
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã sự liệu từ trước về
căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng(nếu
có); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và
nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng;phương thức thanh toán liên quan đến các khoản
nợ chung hay nợ riêng của vợ chồng.Chế độ tài sản này được tất cả các nước dự liệu
trong hệ thống pháp luật của mình, nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản này được các
nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình, nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản
của vợ chồng.
b. Chế độ tài sản ước định
Theo quan điểm thuần túy pháp lý của các nhà làm luật tư sản, hôn nhân thực chất là
một hợp đồng, một khế ước do hai bên nam nữ thỏa thuận, xác lập trên nguyên tắc tự
nguyện. Các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được phát sainh và thực hiện trong thời
4
kỳ hôn nhân cũng giống như các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia gió kết
hợp đồng. Vì vậy pháp luật cho phép trước khi kết hôn nhân, hai bên được quyền tự do
ký kết hôn ước miễn sao không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
II. Chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng( chế độ tài sản ước định)
1. Chế độ tài sản ước định trong pháp luật hôn nhân và gia đình của một số nước
trên thế giới.
Ở các nước phương Tây, một trong các đặc thù của pháp luật hôn nhân và gia đình
của các quốc gia này là sự đề cao quyền tự do các nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự
định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình đặc biệt trong quan hệ
giữa vợ và chồng. Nhà làm luật ở các nước này quan niệm hôn nhân thực chất là một
loại” hợp đồng dân sự”, hôn nhân chỉ khác với những loại hợp đồng dân sự thông
thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập( việc kết hôn phải được đăng ký tại
định được quy định trong pháp luật một số nước. Có thể thấy rõ trong quy định tại Điều
755 và Điều 756 BLDS Nhật Bản “ Nếu vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn không
đăng ký một hợp đồng nào nhằm quy định khác đi tài sản của mình, thì quan hệ tài sản
của họ được điều chỉnh bởi quy định của tiểu mụcII...”, Điều 1465 bộ luật dân sự và
thương mại Thái Lan; Điều 1387 BLDS Cộng hòa Pháp “ Luật pháp chỉ điều chỉnh
quan hệ vợ chồng về tài sản khi không có thỏa thuận riêng, mà vợ chồng có thể làm vì
cho rằng điều đó là cần thiết, miễn sao những thỏa thuận đó không trái với thuần phong
mỹ tục và những quy định sau đây.....”
Hôn nhân theo pháp luật các nước phương Tây là sự thỏa thuận bằng văn bản(hợp
đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân. Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao
dịch giữa họ và người thứ ba. Vợ chồng có thể thỏa thuận trên cơ sở lựa chọn một chế
độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật.
Có thể lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo chế độ công cộng hay chế độ phân
sản.Theo đó:
Nếu lựa chọn chế độ tài sản cộng cộng, vợ chồng thỏa thuận trong hôn ước về vấn
đề: thành phần tài sản chung của vợ chồng, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với tài
sản chung của vợ chồng và quyền lợi của một bên vợ, chồng được hưởng từ việc chia
tài sản chung đó;giải quyết các món nợ phát sinh từ đời sống chung của gia đình;thỏa
thuận để lại thừa kế cho một bên vợ, chồng hưởng từ phần tài sản chung của bên kia...
Nếulựa chọn chế độ phân sản, giữa vợ chồng không có khối tài sản chung, vợ chồng
phải thỏa thuận tuỳ theo tự lực của mỗi bên đóng góp nhằm đảm bảo đời sống chung
của gia đình, nghĩa vụ chu cấp lẫn nhau, giáo dưỡng các con...Tính chất cộng đồng, ổn
định và lâu dài của hôn nhân cũng đòi hỏi sự ổn định cao của các điều khoản trong hôn
ước. Hôn ước là căn cứ pháp lý để điều chỉnh nghĩa vụ và quyền của vợ chồng về tài
6
sản trong suốt thời kỳ hôn nhân của họ. Do đó về nguyên tắc, kể từ ngày thiết lập quan
Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc, pháp luật về vấn
đề này ở hai miền thể hiện những nội dung trái chiều. Luật hôn nhân và gia đình (HN7
GĐ) ngày 29 tháng 12 năm 1959 ở Miền bắc chỉ quy định về một hình thức của chế độ
tài sản pháp định (chế độ cộng đồng toàn sản), và vì thế, không có một quy định nào về
quyền lập hôn ước của vợ chồng. Trong khi đó, ở Miền nam, ba đạo luật đã được lần
lượt ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự, gia đình (Luật gia đình ngày 02 tháng
1 năm 1959, Luật 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 và Bộ dân luật ngày 20 tháng 12
năm 1972), đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng và chế độ tài sản
chung theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không lập hôn ước. Chẳng hạn, Bộ
dân luật năm 1972 quy định: “Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn
không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục” (Điều 145) và “Luật pháp chỉ
quy định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước” (Điều 144).Tuy
nhiên việc ghi nhận hôn khế trong các văn bản đó là do ảnh hưởng của dân luật Pháp
chứ cũng không do sự biến đổi nội tại của xã hội Việt Nam.
b. Thời kỳ đất nước thống nhất
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
đều chỉ tập trung quy định về một chế độ tài sản pháp định. Nhà lập pháp không dự liệu
bất kỳ một điều khoản nào cho phép vợ chồng lập hôn ước, nhưng cũng không ấn định
những quy định cấm. Khi luật hôn nhân gia đình năm 1986 ra đời, chế độ tài sản vợ
chồng ở Việt Nam là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản, vợ chồng có tài sản riêng,
luật cũng cho phép vợ chồng được chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân (việc chia
tài sản này phải có bản án của tòa án). Trong luật hôn nhân gia đình năm 1986 vợ
chồng cũng không được thỏa thuận bất cứ vấn đề gì về sở hữu tài sản trừ vấn đề nhập
tài sản riêng có trước hoặc trong thời kì hôn nhân thành tài sản chung. Luật hôn nhân
năm 2000 ra đời kèm theo đó là Nghị định 70 đã tạo ra một sự thay đổi cơ bản gây
nhiều tranh cãi đó là chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
với hậu quả pháp lí được qui định trong Điều 8 Nghị định 70 (Khoản 2 điều 8 quy
định : “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp
chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững(Điều 1 Luật hôn nhân và gia đình).
Thứ hai, chế độ tài sản ước định có phù hợ với đời sống tâm lý của con người
Việt Nam không?? Đối với con người Việt Nam, hôn nhân là một trong những quan hệ
quan trọng nhất trong cuộc sống, con người gắn chặt với gia đình, phẩm chất và giá trị
của từng người phụ thuộc rất nhiều vào hôn nhân và gia đình của họ. Do đó, trong các
vấn đề hôn nhân và tài sản, con người Việt Nam thường đề cao lợi ích chung của gia
đình hơn lợi ích của cá nhân.
Từ những phân tích trên, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có thể có những sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của đất nước:
-Một là, tiếp tục thừa nhận chế độ tài sản pháp định về quyền sở hữu chung của vợ
chồng trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên để phù hợp với điều kiện
kinh tế xã hội hiện nay và các quy định mới về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự, cần
có những quy định chi tiết, cụ thể hơn về nguồn gốc, phạm vi, nguyên tắc đăng ký
9
quyền sở hữu tài sản chung cũng như quyền hạn và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung trong gia đình.
-Thứ hai, trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc công nhận quyền có tài sản riêng của vợ
chồng là cần thiết. Song, bên cạnh tính pháp định trong việc xác định những tài sản vợ
chồng có quyền sở hữu riêng, nhà làm luật nên công nhận việc thỏa thuận dưới hình
thưc hôn ước của hai vợ chồng xác định sở hữu chung hay riêng đối với tài sản của một
bên có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế, tặng cho trong thời kỳ hôn nhân; cần quy
định điều kiện pháp lý, cụ thể xác định tính hợp pháp của thỏa thuận. Trong trường hợp
các đương sự không thỏa thuận hoặc có nhưng thỏa thuận đó không được chấp nhận,
việc xác định tài sản riêng đã xác nhập vào tài sản chung hay chưa phải căn cứ vào các
quy định của pháp luật. Quy định như vậy sẽ giúp các đương sự thấy rõ những nghĩa vụ
và quyền của mình đối với tài sản trong gia đình đồng thời tạo thuận lợi cho các cơ
quan tư pháp giải quyết tốt các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Tóm lại, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận không phải là một điều mới
- Kết hợp chặt chẽ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, pháp luật để xóa bỏ thói quen
của vợ chồng không làm văn bản để làm bằng chứng hoặc không coi trong các điều
kiện về nội dung, hình thức của văn bản làm bằng chứng xây dựng thực hiện, chấm dứt
giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn của gia đình.
-Tăng cường và đổi mới công tác phổ biến, tuyên truyền,giáo dục pháp luật hôn nhân
và gia đình của cơ quan, tổ chức, đoàn thể.
C. KẾT LUẬN
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận không phải là một điều mới lạ đối với xã
hội Việt Nam, thậm chí nó đã từng được thực hiện trong một thời gian khá dài. Mặc dù
có những hạn chế là quá chú trọng đến lợi ích cá nhân của vợ, chồng, lợi ích của gia
đình bị xem nhẹ, hoặc lợi ích của gia đình được xem xét theo ý thức chủ quan “thuần
tuý” của vợ chồng, dẫn đến mâu thuẫn bản chất của hôn nhân là tính chất cộng đồng và
bản chất của gia đình là “bổn phận và trách nhiệm” nhưng xét thấy với sự thay đổi của
xã hội Việt Nam hiện đại, với quá trình hội nhập quốc tế kéo theo đó là sự thay đổi về
chức năng kinh tế của gia đình; thêm vào nữa là những vấn đề về tài sản vợ chồng
trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, hôn khế sẽ không thể không
được thừa nhận trong tương lai.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
11
1.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2008.
2.
TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam, Nxb. Tư pháp, 2008, tr. 28 – 33.