MỞ BÀI:
Để quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao tính thực thi của
các văn bản pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã
chủ trương xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh phản ánh tốt hơn
đường lối của Đảng trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Hệ thống phát luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm nhiều ngành
luật điều chỉnh ngững quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Trong đó, mỗi ngành luật
điều chính những nhóm quan hệ xã hội nhất định. Và ngành luật dân sự là một trong
những ngành luật của pháp luật Việt Nam có đầy đủ những dấu hiệu trên của ngành
luật Việt Nam. Đối tượng điều chính của ngành luật dân sự hai nhóm quan hệ xã hội,
đó là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Quan hệ nhân thân, trong quy định tại bộ luật dân sự năm 2005 thì các quyền
nhân thân bao gồm những quyền được quy định từ Điều 24 đến Điều 51. quyền nhân
thân điều chỉnh quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân
hay các tổ chức. Đặc biệt, những quyền thể hiện sự tự do cá nhân, bí mật riêng tư cuả
mỗi người được ghi nhận một cách rất đầy đủ và chi tiết.
Vậy, đối với hình ảnh của mỗi người thì sẽ có những quy định ra sao? Hình
ảnh cá nhân và Bản thân cá nhân có quyền gì đối với hình ảnh của mình?
Trong bài tập lớn học kỳ lần này, em xin được lựa chọn câu hỏi số 3 . “ Hình
ảnh và quyền đối với hình ảnh của cá nhân” để có thể làm rõ vấn đề đã nêu trên.
1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I.
Khái quát chung về quyền nhân thân.
1. Khái niệm quyền nhân thân.
Quyền nhân thân là một bộ phận của quyền dân sự. Nếu như quyền dâ sự thuộc về
mọi chủ thể của quan hệ dân sự có tham gia quan hệ dân sự trong từng lĩnh vực cụ thể
mọi cá nhân đều có quyền như nhau, đó không phải là một khả năng trừu tượng mà là
một thực tế. Lợi ích của quyền nhân thân được quy định như một thực tế chứ không
phải là một quy định mang tính hình thức.
Thứ ba: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản. Quyền nhân thân không bao giờ là
tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi. Vì
không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền. Về
mặt pháp lý, chúng ta cần phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân.
2
Thứ tư: Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ
thể khác. Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với
mỗi cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác, nói cách khác, quyền nhân
thân không thể là đối tượng trong giao dịch dân sự giữa các cá nhân.. Điều này có
nghĩa rằng bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể ủy quyền cho ai
đó, và thông thường, không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này trừ
những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định.
Thứ năm: quyền nhân thân là một quyền dân sự do nhà nước quy định cho cá nhân,
nhà nước không cho phép cá nhân hạn chế quyền nhân thân của mình cũng như hạn
chế quyền nhân thân của người khác. Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội
dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân. Pháp luật dân sự quy định cho các cá
nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyền bố chính thức về quyền con người cụ thể
được pháp luật quy định. Việc pháp luật quy định cho cá nhân có các quyền nhân thân
khác nhau là dựa vào điều kiện kinh tế- xã hội. Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của
lịch sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị, xã hội…
mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định một cách khác nhau.
3. Vai trò của quyền nhân thân.
Quyền nhân thân là một quyền dân sự được Nhà nước ghi nhận cho các cá nhân. Việc
ghi nhận các quyền nhân thân chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố: kinh tế, chính trị,
văn hóa-xã hội. Với việc ghi nhận các quyền nhân thân trong bộ luật dân sự và các
Thứ năm: Các quy định về quyền nhân thân ngoài ý nghĩa đảm bảo các quyền của cá
nhân được thừa nhận và bảo vệ còn thể hiện sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật
của cá nhân. Sự bình đẳng của cá nhân không chỉ thể hiện ở các quy định về quyền
nhân thân của cá nhân mà còn thể hiện trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền
này, theo đó, bất cứ ai có hành vi xâm phạm quyền này cũng phải được xử lý nghiêm
minh theo pháp luật.
4. Vị trí của quyền đối với hình ảnh của cá nhân trong hệ thống quyền nhân
thân.
Quyền đối với hình ảnh là quyền cơ bản của con người. Trong hệ thống các quyền
con người, quyền đối với hình ảnh nằm trong nhóm quyền nhân thân cá biệt hóa cá
nhân và là một trong các quyền nhân thân của cá nhân. Quyền đối với hình ảnh của cá
nhân được ghi nhận trong tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, trong
công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và nhiều công ước khác
của liên hợp quốc.
Bên cạnh những quy định trong các công ước mang tính toàn cầu, áp dụng cho mọi
đối tượng không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc…một sỗ công ước quốc tế của
liên họp quốc điều chính những quan hệ trong từng lĩnh vực, đối với từng đối tượng
cụ thể cũng đề cập đến việc ghi nhận và bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân là
một bộ phận không thể thiếu của con người.
Quyền đối với hình ảnh của cá nhân cũng được đề cập trong các văn kiện nhân
quyền khu vực ở những mức độ cụ thể khác nhau. Mỗi quốc gia trên thế giới, trong
điều kiện và khả năng cho phép cũng đề cập đến quyền đối với hình ảnh của cá nhân
và coi đây là quyền cơ bản không thể thiếu trong các quy định về quyền nhân thân của
cá nhân.
Quyền đối với hình ảnh của cá nhân cũng là một trong những quyền nhân thân cơ
bản của cá nhân, đây là quyền hiến định nhưng đồng thời cũng là quyền nhân thân cơ
bản được ghi nhận trong các văn bản pháp luật dân sự. Ngay từ bản hiến pháp đầu
tiên, các nguyên tắc tôn trọng quyền đối với hình ảnh của cá nhân đã được thừa nhận.
Có thể thấy, vị trí của quyền đối với hình ảnh của cá nhân có mối liên quan mật
thiết với các quyền nhân thân khác được quy định trong bộ luật dân sự cũng như được
Không bằng lòng với những tấm hình bình thường, con người muốn những hình ảnh
đó thực sự sống động ghi lại những hành động, sự việc, hiện tượng, sự kiện diễn ra
một cách thực tế nhất. Từ đây, hình ảnh đã ra đời, nó đáp ứng một phần không nhỏ
nhu cầu nhìn, quan sát của loài người. Như vậy, hình ảnh trở thành một loại ngôn ngữngôn ngữ hình ảnh. Nó có khả năng thông tin chính xác một nội dung manh tính vật
chất nhất định. Khả năng thông tin bằng hình ảnh đã mở rộng tầm nhìn của con mắt
người, giúp con người hiểu mình đầy đủ hơn, chính xác hơn và sâu sắc hơn.
Lịch sử phát triển của hình ảnh đã ghi nhận: hình ảnh chuyển động lần đầu tiên mà
mọi người nhìn thấy đều hết sức ngạc nhiên. Đó là vào năm 1895 khi an hem là
Luymiê cho chiếu bộ phim “ Chuyến xe lửa đến ga”. Hình ảnh đoàn tàu chuyển động
khiến cho người xem tưởng đó là đoàn tàu thật sự hốt hoảng chạy ra khỏi chỗ ngồi.
3. Những đặc điểm của hình ảnh cá nhân.
a. Hình ảnh cá nhân không có sẵn khi con người được sinh ra, mà được hình thành
dần do ngoại hình, vóc dáng, cách ăn mặc..hoặc cách đối nhân-xử thế và những
hành vi khác của cá nhân đó đối với những người xung quanh.
b. Hình ảnh cá nhân của một cá thể được mọi người tiếp nhận và tự hình thành
riêng trong tư duy mỗi người. Vậy nên, sẽ có thể tồn tại rất nhiều những hình
ảnh cá nhân khác nhau về cùng một người.
c. Hình ảnh cá nhân có thể thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào chính ngoại hình
và tính cách của mỗi cá nhân cũng như quan điểm của những người xung quanh
hay xã hội.
4. Xây dựng hình ảnh cá nhân.
5
Xây dựng hình ảnh cá nhân là một việc lâu dài và cần đầu tư ở rất nhiều lĩnh vực.
Nên trong giới hận của đề bài, em chỉ xin phép trình bày những lĩnh vực quan trọng
nhất mà chúng ta nên để ý mỗi khi chúng ta muốn xây dựng một hình ảnh cá nhân “
đẹp” trong mắt mọi người xung quanh.
- Hình dáng, cử chỉ bên ngoài: đầu tóc, mùi cơ thể…
- Biểu cảm: biểu cảm thân thiện, không thù địch hay giả tạo,
có đủ chỗ để x echo toàn bộ nhân viên, mặt khác đó cũng là một chính sách
nhằm đánh bóng hình ảnh công ty. Tại đây, nhân viên có thể được công ty ưu
tiên cho vay tiền nếu có ý định mua nhũng loại xe hơi sang trọng.
- Boric Snhezkov một chuyên gia bất động sản của tập đoàn Konti chuyên về xây
dựng các cao ốc văn phòng cũng như các khu vực dân cư dành cho giới thượng
lưu cho rằng hình thức ngoài của các nhà doanh ngiệp đóng vai trò hết sức quan
6
trọng. Nếu một nhà doanh nghiệp thành đạt mà lại phải làm việc với một đối tác
mặc quấn áo bò bình dân, đi xe ziguli và mời mọc mình thue hoặc mua văn
phòng của họ thì quả là một sự đánh đố. Các nhà doanh nghiệp sẽ hoài nghi về
khả năng tài chính của đối tác, mặt khác, lại có cảm giác ràng đối tác đã không
tôn trọng mình.
Tuy nhiên, hãy hiểu rõ, “hình ảnh cá nhân có thể là công cụ hỗ trợ đắc lực cũng có thể
gây ảnh hưởng xấu cho bạn nếu bạn không biết cách sử dụng hiệu quả. Mỗi khi bạn
gặp một ai đó, người ta có thể đánh giá vị trí của bạn dựa trên hình thức và thái độ của
bạn. Vì vậy, cần thể hiện một hình ảnh chuyên nghiệp của bạn, nhất là trong những
cuộc gặp gỡ đầu tiên” ( Lynne Marks – chủ tịch viện hình ảnh London, Jeffrey JonesGiám đốc Human Factor Internetnational và Sonya Barnes- Chủ tịch công ty tư vấn
hình ảnh Harris và Baarnes).
III. Quyền đối với hình ảnh cá nhân
1. Quy định của pháp luật.
Hình ảnh của cá nhân là một vấn đề thuộc riêng tư của mỗi người là thuộc sở hữu
của mỗi cá nhân, vì vậy, khi muốn sử dụng hình ảnh của một ai đó cho mục đích riêng
của mình thì ơhair có sự đồng thuận cho phép của chính cá nhân trong bức tranh đó.
Đây là một phần của quyền hình ảnh của cá nhân được quy định trong Điều 31 BLDS
nước ta. Trong đó, điều luật này quy định:
“ 1. Cá nhân có quyền đối với hìn ảnh của mình.
2 . Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường
hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha,
nhuận bút cho người sang tác ( người chụp, sao chép, họa hình…) Nhưng đứng về mặt
“ quyền nhân thân của con người” ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải
được sự đồng ý của người có hình ảnh đó.
Đồng thời, để tránh gặp phải các rắc rối pháp lý liên quan đến quyền hình ảnh của cá
nhâ, tổ chức, doanh nghiệp… thì phải căn cứ vào Điều 31 để hoàn tất các điều kiện để
sử dụng hình ảnh.
3. Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh.
Nhà nước ta luôn đề cao nguyên tắc bảo vệ quyền tự do của công dân. Nhưng từ khi
Quốc hội thông qua BLDS 1995 đã quy định quyền đối với hình ảnh ( Điều 31). Đây
là dấu mốc quan trọng trong sự pháp triển pháp luật dân sự ở Việt Nam. Nếu trong bộ
luật dan sự pháp chỉ quy định quyền của cá nhân đối với đời tư( Điều 9, Bộ luật dân
sự Pháp) và sử dụng án lên trong quá trình xét xử thì trong bộ luật dân sự của Việt
Nam, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh đã được quy định trực tiếp, cụ thể
ngay trong luật. Tiếp tục thừa kế BLDS 1995, BLDS 2005 đã bổ sung một số nọi
dung cho điều luật quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh. Đó là
việc sử dụng hình ảnh của người dưới mười lăm tuổi phải được cha, mẹ hoặc người
đại diện của người đó đồng ý nhằm điều chỉnh hiện tượng một số lịch in hình trẻ em
mà không xin phép. Khái niệm nhân thân trong bộ luật dân sự năm 1995 được cụ thể
hóa thành cha, mẹ, vợ, chồng, con. Việc sử dụng hình ảnh để xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người có ảnh bị nghiêm cấm. Nếu đối chiếu với luật của nước
ngoài thì cơ chế pháp luật của Việt Nam khá hoàn chỉnh. Cá nhân được bảo vệ hình
ảnh dưới nhiều hình thức, dù là tranh vẽ, ảnh chụp hoặc quay phim. Điều quan trọng
là hình ảnh phải lấy từ một người và giống với người đó. Giống như quy định của
một số nước, quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam chỉ bảo vệ hình ảnh của cá
nhân mà người trong ảnh có thể bị nhận dạng, không phụ thuộc vào việc ảnh có khuôn
mặt hay có ghi tên của cá nhân đó. Trừ trường hợp vì lợi ích nhà nước, lợi ích công
cộng thì việc sử djungj hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó. Thực
tế hầu như mọi người chưa nhận thức rõ quyền đối với hình ảnh của chính bản thân
mình đồng thời chưa triệt để bảo vệ hình ảnh của cá nhân khi có hành vi xâm phạm
của người khác.
nổi tiếng bao gồm diến viên, nhà chính trị…Quyền nhân thân đối với hình ảnh là
quyền tuyệt đối của cá nhân nên chỉ có cá nhân mới có quyền quyết định việc thay đổi
hình ảnh hay vẻ bề ngoài của mình; như cắt một kiểu tóc, trang điểm khuôn mặt,,
phong cách thời trang là sự lựa chọn của chính cá nhân đó( trừ những người chưa
thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì việc làm này phải có sự đồng ý của
người đại diện của họ là cha, mẹ, vợ, chồng, con…). Hình ảnh thường để lại dấu ấn
nhiều hơn trong trí nhớ của con người, như một học vị tiến sĩ được ghi danh thì người
ta chỉ biết tên của tiến sỹ đó mà không biết được mặt của người đó trông như thế nào,
nên thường khi đưa tên tuổi của một ai đó, cơ quan báo chí thường đăng kèm với hình
ảnh gây ảnh hưởng tới tên tuổi, danh dự, nhân phẩm của người đó thường không được
đăng tải hoặc có được đăng tải thì sẽ làm nhòe khuôn mặt để nhằm tránh sự quấy
nhiễu. làm phiềm của xã hội đối với người đó; như hình ảnh của một cô gái HIV nó về
cuộc đời của cô, hình ảnh cháu bé bị kẻ xấu xâm hại tình dục…
Từ những phân tích trên dây, em có thể hiểu quyền nhân thân đối với hình ảnh của
cá nhân “là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân có liên quan đến việc tạo dựng và
cho phép cử dụng hình ảnh theo ý chí của chính cá nhân đó”.
4. Đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân đối với hình ảnh.
Quyền đối với hình ảnh thuộc một trong những quyền nhân thân của cá nhân. Ngoài
việc mang những đặc điển của quyền nhân thân nói chung, quyền nhân thân đối với
9
hình ảnh cũng có những đặc điểm riêng biệt. Quyền nhân thân đối với hình ảnh có
những đặc điểm sau:
• Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài sản.
Đặc tính không gắn với tài sản là một trong những đặc tính cơ bản để phân biệt quyền
nhân thân không gắn với tài sản( quyền đứng tên tác giả, quyền dặt tên cho tác phẩm).
Vì quyền nhân thân đối với hình ảnh luon gắn với chính hình ảnh bản thân của người
đó và mỗi một chủ thể có một hình ảnh riêng biệt. Mỗi chủ thể được công nhận một
cách vô điều kiện với quyền nhân thân đối với hình ảnh. Hình ảnh bên ngoài của cá
xâm phạm của bất kỳ chủ thể nào khác và được bảo vệ theo yêu cầu của chủ thể có
quyền. Chính vì lý do đó, mà đại đa số các giấy tờ tùy thân hoặc các bằng cấp của cá
nhân bao giờ cũng có ảnh bên cạnh họ tên của cá nhân. Điều này lý giải tại sao hình
ảnh của cá nhân có vai trò quan trọng trong việc nhân biết, nhân dạng một cá nhân và
10
là một trong những yếu tố không thể thiếu của quyền cá biệt hóa chủ thể. Tôn trọng
tính cá biệt của một người còn có ý nghĩa là bảo vệ nhân cách của họ không bị làm sai
lệch.
• Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn
Hình ảnh là sự tái hiện lại vẻ bề ngoài của một người bằng cách thức nào đó có thể ghi
lại và gây ấn tượng thị giác cho người khác. Khi mọi người nhìn vào hình ảnh tái hiện
đó có thể nhận diện được rằng đó là ai. Cùng với các đặc điểm riêng biệt của quyền
nhân thân như không thể chuyển giao được cho các chủ thể khác, là một bộ phận của
quyền chủ thể của cá nhân…Có thể thấy rằng, hình ảnh của cá nhân không chỉ gắn
liền với cá nhân đó khi người đó đang sống mà gắn liền với người đó cá khi đã mất.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh liên quan đến dấu ấn về hình ảnh gắn liền với người
đó và không thể thay thế được. Quyền nhân thân đối với hình ảnh được bảo hộ vo thời
hạn nghĩa là thời hạn được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn. Ngay cả khi một người đã chết
thì người thân thích ( cha, mẹ, vợ, chồn, con..) được quyền yêu cầu chấm dứt hành vi
xâm phạm tới hình ảnh của người đã khuất.
• Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền được bảo vệ khi có yêu cầu.
Hình thức vi phạm quyền nhân thân của cá nhân về hình ảnh có nhiều dạng. Có
trường hợp không làm thiệt hại gì cho người có hình ảnh, thậm chí còn tăng sự nổi
tiếng cho họ nhưng vẫn bị coi là vi phạm điều 31 BLDS. Tuy nhiên, một số trường
hợp pháp luật cho phép sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không cần sự đồng ý của
ghười đó. Ví dụ như cơ quan tư pháp đưa hình ảnh của can phạm lên báo, những nơi
công cộng với lệnh truy nã
Khi quyền về hình ảnh bị xâm phạm thì người bị xâm phạm có quyền:
danh dự, uy tín của cá nhân… Nhóm thứ ba được hiểu là hành vi xâm phạm tác động
vào vật phẩm liên quan tới chính chủ thể có quyền như thư tín, chỗ ở, sách
báo….Chúng ta thấy rằng, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân gián tiếp đã xâm phạm
đến quyền nhân thân cúa cá nhân đối với hình ảnh. Khi quyền nhân thân đối với hình
ảnh bị xâm phạm dẫn tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm. Đồng
nghĩa với việc cá nhân đó phải gánh chịu những tổn thất trực tiếp do hành vi xâm
phạm đó gây ra. Khắc phục những hậu quả này, chủ thể có hành vi bị xâm phạm tác
động tới người được yêu cầu cuộc chấm dứt hành vi xâm phạm.
5. Giới hạn của quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là một trong nhưng quyền nhân thân tuyệt
đối của cá nhân, không thể chuyển giao. Tuy nhiên, quyền này cũng có một vài ngoại
lệ. Mực này nhằm phân tích một số giới hạn của quyền nhân thân đối với hình ảnh khi
được áp dụng trong thực tiễn.
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong trường họp xung đột với
quyền lợi chung, quyền lọi của bên thứ ba hoặc đương sự từ bỏ quyền của mình
đối với hình ảnh.
Trường hợp xung đột với quyền lợi chung, quyền lợi của bên thứ ba.
Bản thân quyền nhân thân đối với hình ảnh là một quyền tuyệt đối của cá nhân.
Theo BLDS năm 2005 tại điều 31 thì “ cá nhân quyền đối với hình ảnh của mình”.
Điều này dẫn đến cách hiểu là cá nhân hoàn toàn được phép định đoạt những gì mình
muốn với hình ảnh của mình, không một ai có quyền ngăn cản hay được phép xâm
hại. Điều này dẫn đến một số cá nhân có cách hành xử làm mất chuẩn mực chung.
Chính vì lẽ đó, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong trượng
hợp xung đột với quyền lợi chung.
Đương sự từ bỏ quyền của mình đối với hình ảnh.
Tất cả các quyền dân sự của cá nhân đều được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. khi
hành vi xâm phạm xảy ra thì hai bên có thể tự thỏa thuận. Và chỉ khi hai bên không
thống nhất được ý chí với nhau thì tranh chấp mới xảy ra và phát sinh thủ tục tố tụng.
tuy nhiên, trong một số trường họp do tâm lý e ngại, không muốn khơi ra của chính
người bị hại, không chịu viết đơn tố cáo, đề nghị cơ quan điều tra xử lý nên những vụ
truyền
a.
Năm 2004, gia đình bé Minh Khôi kiện công ty Biti’s, yêu cầu bồi thường
thiệt hại 154 triệu đồng vì công ty Biti’s đã sử dụng hình ảnh của bé Minh
Khôi in trên bìa lịch, tập quảng cáo mà chưa nhận được sự đồng ý của gia
đình. Tháng 9/2004, TAND quận 6 ( TP.HCM ) đã phán quyết công ty
Biti’s phải thực hiện việc xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô
điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé Minh Khôi và bồi thường
gần ba triệu đồng cho gia đình bé Khôi.
b.
Tháng 2 năm 2004, công ty điện toán và truyền số liệu VDC ( Tổng công ty
bưu chính, viễn thông Việt Nam ) sử dụng không xin phép ảnh “ Hai bà
cháu” trên thẻ gọi điện thoại 171. Đây là bức ảnh được nghệ sỹ Đan Mạch
chụp năm 1982. Sau đó, VDC phối hợp với đơn vị thiết kế mẫu đến gặp gia
đình thân nhân người được chụp ảnh đến nhận lỗi, thỏa thuận bồi thường.
c.
Tháng 1 năm 2008, người mẫu Nguyễn Kim Tiến tiến hành khởi kiện công
ty Organon về việc sử dụng hình ảnh của cô mà chưa được phép để quảng
cáo thuốc ngừa thai Mercilon. Cô yêu càu cầu Công ty Organon phải ngừng
ngay việc quản cáo trên, xin lỗi cô trên ba số báo liên tiếp và bồi thường
20.000 USD
2. Những vụ việc vi phạm hình ảnh cá nhân với mục đích xâm phạm danh
dự, uy tín và nhân phẩm của cá nhân:
13
a. Vụ phát tán Clip sex của ca sỹ Hoàng Thùy Linh.
Ngày 15/5/2008, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án
phát tán Clip sex của ca sỹ Hoàng Thùy Linh. Trong vụ án này, Hoàng Thùy Linh
được tòa triệu tập với tư cách là nhân chứng – tức là người “biết” về vụ việc. Tuy
giữa mình và ca sỹ Ji Joung. Năm 2000, Kim đã tung lên mạng internet đoạn video
này với mục đích trả thù. Sau đó, Kim trốn sang Mỹ ssoongs và đã thừa nhận việc
phát tán ảnh sex lên mạng trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại trên truyền hình.
Mới đây, Kim Seok Jin, bị cảnh sát Mỹ bắt vì tội hiếp dâm. Hiện nay, phía Hàn
Quốc đang yêu cầu phía Mỹ dẫn độ Kim về nước để sử tội phát tán Video sex lên
internet. Sự việc này, đa gây ra cho ca sỹ Ji Joung những tổn thất lớn về tinh thần, tiền
bạc và danh dự.
14
V.
Những thắc mắc và kiến nghị về vấn đề hình ảnh cá nhân và quyền đối
với hình ảnh cá nhân.
1. Những kiến nghị về vấn đề hình ảnh cá nhân và quyền đối với hình ảnh cá
nhân.
a. Hiểu khái niệm” hình ảnh cá nhân” thế nào cho đúng Điều 31 BLDS.
Như đã phân tích về khái niệm “ hình ảnh cá nhân” trong phần I của bào tập, ta
nhận thấy rõ, khái niệm hình ảnh như điều 31 quy định có nội hàm hẹp hơn nhiều so
với nội hàm của định nghĩa” hình ảnh cá nhân”thực tế.
Trong mục 2.b của phần II ghi rõ: Khái niệm “hình ảnh cá nhân” trong Điều
31 BLDS bao gồm mọi hình thức tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình dáng cuả con người
cụ thể ( ảnh chụp. ảnh vẽ, ảnh họa chép, và suy rộng ra có thể là bức tượng cá nhân
người đó nữa)
Theo em, BLDS nước ta cần quy định rõ, thế nào là “hình ảnh cá nhân”, Trong
Điều 31 BLDS, hoặc sẽ có một cách dùng từ khác để nói về những “ Hình thức
tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người cụ thể” trên đây.
b. Quyền hạn khi tác nghiệp của nhà báo liên quan đến việc đăng ảnh bị can
khi bị bắt và chụp ảnh bị cáo tại phiên tòa được quy định như thế nào?
Ở các phiên tòa, thường các đương sự luôn quay hướng khác hoặc cúi đầu, lấy
Mới đây, khi một bi can bị bắt liên quan đến một vụ án xảy ra tại cửa khẩu sân
bay quốc tế, thân nhân của họ nói với luật sư của họ: “ Luật sư hiểu cho, việc
chồng tôi bị bắt, bị hạn chế quyền tựu do cá nhân mới chỉ là nỗi đau thể xác của
anh ấy. Mẹ con tôi, cha mẹ hai bên còn đau đớn gấp bội phần, không biết nương
tựa vào ai, không dám ra đường. Cứ sang ra, giở tờ báo lại run rẩy không biết hình
ảnh của chồng tôi có xuất hiện không?”
Vấn đề đặt ra ở đây là quyền hạn khi tác nghiệp của nhà báo liên quan đến việc
đăng ảnh bị can khi bị bắt và chụp ảnh bị cáo tại phiên tòa được quy định như
thế nào?
Điều 15, luật báo chí quy định nhà báo có quyền và nghĩa vụ thông tin trung thực,
phản ánh ý kiến, nguyện vộng của nhân dân, góp phần thực hiện quyền tự do báo
chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Hay như theo khoản 3, Điều
8 Nghị định số 51 ngày 26 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ, “nhà báo được hoạt
động nghiệp vụ lấy tin, chụp ảnh, quay phim, ghi âm lại các phiêm tòa xét xử công
khai, được dành chỗ ngồi riêng, được liên lạc trực tiếp với thẩm phán, luật sư để
lấy thông tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật”
Tuy nhiên, theo quy định tại điều 28, 36, 37, 38 và 39 BLHS chỉ hạn chế hoặc từ
bỏ một số quyền dân sự của bị can, bị cáo như : Cấm đảm nhiệm chức vụ, làm những
nghề hoặc những việc nhất định, cấm đi khỏi nơi cư trú…Không có quy định nào tước
bỏ quyền đối với hình ảnh của một người, dừ đó là kẻ phạm tội ( quy định trong Điều
31 BLDS ).
Ở nước ta, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền hiến định được
quy định trong văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp. Theo Hiến pháp
năm 1992, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền
cơ bản của công dân. Quyền này được quy định rõ nhất tại Điều 71 Hiến pháp 1992
( sửa đổi ) như sau:
“ Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của
Tòa án nhân dân, quyết định, phê chuẩn của Viện kiểm sát trừ trường hợp phạm tội
quả tang. Việc bắt giữ và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình
công an thị xã bất ngờ khám xét phòng trong nhà nghỉ này và phát hiện hai đôi nam
nữ đang có quan hệ tình dục.
Công an bắt giữ hai cô gái và trong quá trình lấy lời khai đã có những hành vi
nhục mạ và không cho hai cô gái này mặc quần áo để quay phim họ. Trong video clip
phát tán trên mạng sau đó có tiếng công an chửi bới, hạ nhục hai cô gái này và bắt họ
đứng trong tư thế được xem là vô đạo đức.
Hai cô gái đã thừa nhận mình là gái mại dâm trú tại khu Tân Lập 4 phường
Cẩm Thủy, thị xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh. Đối tượng môi giới trong vụ này đã bị
bắt và bị truy tố về tội môi giới.
Theo tin từ AP cho biết 7 công an của tỉnh Quảng Ninh đã bị xử phạt vi tội
phát tán một video clip lên mạng, quay lại cảnh hành hung, ngược đãi hai cô gái bị
cáo buộc là gái mại dâm .
Theo kết quả ban đầu thì trong khi lấy lời khai của hai cô gái, một công an đã dung
điện thoại di động quay hết những gì đang xảy ra, tuy nhiên viên công an này từ chối
việc phát tán video clip này lên mạng. Hiện cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được
ai là người làm việc này
Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng cho biết sẽ cùng với cơ quan chức năng
làm rõ vụ việc và sẽ chính thức lên tiếng để bảo vệ nhân phẩm của phụ nữ.
Như vậy, câu chuyện trên đây cho ta một câu hỏi, việc quay phim, chụp hình
trong trường hợp bắt quả tang để làm “bằng chứng” sẽ không sai. Nhưng, nếu
những hành vi ấy gây xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của con
người, đồng thời lại bị phát tán tràn lan trên mạng thì có phạm luật hay không?
Và pháp luật sẽ xử lý việc này như thế nào?
17
Theo ý kiến của riêng em, việc quay phim, chụp ảnh bị cáo và phát tán những
hình ảnh đó trên mạng là hành động sai trái, xâm phạm đến quyền đối với hình
ảnh cá nhân của những người bị chụp . Pháp luật nên có những quy định cụ thể
hơn trong trường hợp này. Đồng thời, đây cũng là một hồi chuông bào động về
Trong thực tế lâu nay việc sử dụng ảnh mà không xin phép của người bị hại đã
trở thành thói quen trong nhiều người. Cùng lắm, người nào biết chút ít thì cũng chỉ
hỏi ý kiến của người sáng tác ( chụp, vẽ ảnh ) chứ ít khi chịu tìm đến hỏi ý kiến của
nhân vật trong ảnh. Bởi người ta vaanx thường đinh ninh rằng người có hình ảnh được
lăng – xê”, mình trước xã hội là đã tốt lắm rồi.
Nhưng một khi chuyện vỡ lỡ rồi, người có hình ảnh đó lại tìm cách làm khó dễ,
việc xin lỗi không thôi chưa đủ. Tùy theo giá trị sử dụng hình ảnh trong việc kinh
doanh mà người có hình ảnh đòi phải thanh toán bằng một khoản tiền vài triệu đồng,
18
có khi vài chuc triệu và vừa rồi có vụ yêu cầu phía chủ ảnh lên đến hàng trăm triệu
đồng.
Theo như tìm hiểu của em, , ở các trang wed hiện nay, đa số các bạn thường
xuyên tải các hình, ảnh của bạn gái mình lên các diễn đàn với mục đích ra vẻ ta đây,
khoe khoang về việc mình có người yêu xinh hơn giàu hơn hay mình có nhều bạn gái
hơn…mà không hề hỏi ý kiến của các bạn ấy. Tuy nhiên, Những bức ảnh ấy cũng
không gây nguy hại hay ảnh hưởng xấu gì đến các bạn nữ, thậm chí còn làm choc ho
các bạn ấy nổi tiếng hơn, được chú ý nhiều hơn ( không ít bạn còn tự động nhờ các
anh chị trong Ban quản trị diễn đàn tải ảnh của mình lên trang wed ). Nhưng vấn đề ở
đây là nếu cac bạn nữ không thích việc “ nổi tiếng hơn” hay không muốn mọi người
biết đến mình rồi kiện lên tòa án và đời người tải ảnh của mình lên wed phải bồi
thường, thì người đó sẽ phải bồi thường như thế nào?
Anh ta có phải bồi thường “nhẹ hơn” hay cũng sẽ phải bồi thường giống như
khi anh ta xâm hại quyền đối với hình ảnh cá nhân của cô ấy với mục đích xúc phạm
danh dự và uy tín?
b. Thời gian chấm dứt quyền đối với hình ảnh cá nhân.
Trong Điều 31 quy định:
“ Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường hợp
người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ,
d. Thế nào được coi là “ có sự đồng ý” trong việc sử dụng hình ảnh?
Pháp luật nước ta không hề quy định cụ thể, thế nào là” có sự đồng ý” trong trường
hợp này? Nhiều trượng hợp thì phía hai bên trực tiếp thực hiện hợp đồng, ký kết giấy
tờ…( chụp hình đối với các ca sỹ, diễn viên…để quảng cáo..), nhưng cũng có nhiều
trường hợp, chỉ là “ gật đầu đồng ý” là xong.
e. Thế nào là vì “ lợi ích công cộng?” lợi ích Nhà nước?”.
Giả sử một bạn chụp ảnh một ngươi đi trái luật, chỉ là mục đích đơn thuần lá nhằm
cảnh báo việc nên chấp hành đúng an toàn giao thông, nhưng vấn đề ở đây là một
nhân vật rất nổi tiếng và quan trọng trong giới truyền thông. Người bị chụp ảnh đã lên
tiếng kiện bạn này với lí do vi phạm quyền cá nhân đối với hình ảnh, nhằm mục đích
hạ thấp uy tín và danh dự của người này. Vậy thì bạn ấy chụp aanhr như thế có là “ vì
lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước” hay không? Như thế nào thì được coi là “ vi lợi
ích công cộng, lợi ích Nhà nước”? Có phải xin phép cơ quan nào khi muốn thực hiện
những bức ảnh vì lợi ích chung như vậy không?
20
KẾT LUẬN:
Như vậy, trong bài tập trên, đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách hiểu rõ hơn về hình
ảnh cá nhân cúng như là quyền đói với hình ảnh của công dân.
Từ đó, ta thấy hình ảnh là một vấn đề tương đối phức tạp và khó giải quyết, đặc biệt là
trong tình hình Việt Nam hiện nay, bằng những kiến nghị đã nêu, có thể nhận thấy
pháp luật nước ta đã tiến hành việc xử lý hài hòa quyền lợi của cá nhân cũng như
quyền lọi của công cộng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc
phục để quyền về hình ảnh của cá nhân ngày càng được coi trọng, đối mới và phát
triển hơn nữa cho phù hợp với những bước đi của pháp luật và xã hội.
21