MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Nội dung Trang...........................................................................................................................1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.........................................................................................................2
I. KHÁI NIỆM VÀ HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.......................................2
1. Khái niệm.......................................................................................................................2
2. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước............................3
2. Nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ..........................................................................4
a. Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước
cùng cấp...........................................................................................................................5
b. Sự phụ tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung ương...............6
c. Việc phân cấp quản lý.................................................................................................7
e. Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương...................9
III. Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.....................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................13
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng giống như bất kỳ hoạt động có mục đích nào, quản lý hành chính nhà nước
được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Mỗi nguyên tắc trong quản
lý hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những quy luật khách quan
khác nhau trong quản lý hành chính nhà nước. Những nguyên tắc này có mối liên
đảm cho các cơ quan cấp dưới, quần chúng ở địa phương và cơ sở khả năng thực
hiện quyết định của trung ương căn cứ vào điều kiện thực tế của mình, đồng thời
bảo đảm tính dân chủ, sáng tạo, quyền chủ động của địa phương và cơ sở trong
việc giải quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở.
2. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước
Hệ thống các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước thường được chia
thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất, các nguyên tắc chính trị - xã hội (trong đó bao gồm: nguyên
tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc nhân dân lao
động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc tập trung
dân chủ; nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa)
- Nhóm thứ hai, các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật (trong đó bao gồm: nguyên
tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa phương; nguyên
tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối hợp quản lý
liên ngành).
Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước với nội dung rất đa
dạng có tính thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau. Nguyên tắc tập trung - dân
chủ nằm trong nhóm các nguyên tắc chính trị xã hội, đây là nguyên tắc cơ bản
trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà
nước.
3
II. NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG QUẢN LÝ HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Cơ sở pháp lý nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung - dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà Nhà
nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như được tổ chức thực
a. Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền
lực nhà nước cùng cấp.
Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân. Người dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống cơ quan quyền
lực nhà nước do chính họ bầu ra để ra để thay mặt họ trực tiếp thực hiện quyền
lực đó .Điều 6 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã quy định: “
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân
dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân
dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.
Như vậy, yếu tố dân chủ thể hiện rõ nét khi trao cho người dân quyền sử dụng
quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nhân dân: Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Ngoài ra, dân chủ còn thể hiện
qua việc nhà nước trao quyền chủ động sáng tạo cho các cơ quan hành chính nhà
nước trong việc chỉ đạo thực hiện hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan
quyền lực nhà nước. Các cơ quan quyền lực nhà nước không can thiệp vào hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước mà tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để
các cơ quan này hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình là quản lý hành
chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, hệ thống cơ quan hành
chính nhà nước được thành lập và nó luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan quyền
lực nhà nước cùng cấp:
- Các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc
thành lập, thay đổi, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp. Các cơ
5
quan khác trong hệ thống cơ quan nhà nước (như bộ, cơ quan ngang bộ,…) đều
do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp hay gian tiếp quyết định việc thành lập,
bãi bỏ.
phương về công tác tổ chức, hoạt động và các vấn đề khác của quản lý hành
chính nhà nước. Phải tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ
động, sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhằm chủ động thực
hiện được “ thẩm quyền cấp mình”. Có như thế mới khắc phục được tình trạng
quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động, sáng tạo của địa phương, cấp
dưới.
c. Việc phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm
đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành chính
nhà nước. Khi tiến hành phân cấp quản lý, cần có sự phân định rõ ràng chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước. Mỗi cấp quản lý
có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương thức càn thết để thực
hiện một cách tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình. Trong phạm vi
thẩm quyền được giao mỗi cấp quản lí được phép tiến hành những hoạt động nhất
định nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của mình.
Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy
nhiên, điều này chỉ thực sự được thực hiện khi việc phân cấp đảm bảo những
yêu cầu sau đây:
- Việc phân cấp quản lý phải đảm bảo cho trung ương có quyền quyết định
trong những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhằm đảm
bảo sự phát triển cân đối và hài hòa xã hội, bảo đảm sự quản lý tập trung và
thống nhất của Nhà nước traong phạm vi toàn quốc.
- Mạnh dạn giao quyền cho các địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy
tính chủ động, tích cực và sáng tạo trong quản lý, tích cưc phát huy sức người,
7
sức của, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống, trên cơ sở đó hoàn thành mọi
nhiệm vụ được trung ương và cấp trên giao phó. Mạnh dạn phân cấp cho địa
phương và cơ sở là biện pháp đảm bảo tập trung, tránh cho trung ương và cấp
Hướng về cơ sở là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ
trên cơ sở quản lý tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị
kinh tế, văn hóa xã hội trực thuộc. Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà
nước là nơi tạo ra của cải vật chất trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân. Vì thế
nhà nước cần có các chính sách quản lý thống nhất và chặt chẽ, cung cấp và giúp
đỡ về vật chất nhằm tạo điều kiện để đơn vị cơ sở hoạt động có hiệu quả. Có như
vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát triển một cách mạnh mẽ theo đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa.
e. Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương
- Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương
(Uỷ ban nhân dân) – quan hệ ngang, và phụ thuộc vào cơ quan quàn lý hành
chính Nhà nước cấp trên ở cấp trực tiếp – quan hệ dọc.
Ví dụ: UBND tỉnh Ninh Bình một mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND tỉnh Ninh
Bình theo chiều ngang, một mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo dọc.
- Cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền chuyên môn ở địa phương (sở,
phòng, ban) phụ thuộc cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ( Uỷ
ban nhân dân) – quan hệ ngang, và phụ thuộc vào cơ quan quản lý hành chính
Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên ở cấp trực tiếp – quan hệ dọc.
Ví dụ: Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Hải Dương, một mặt phụ thuộc vào
UBND tỉnh Hải Dương – quan hệ ngang, mặt khác phụ thuộc vào Bộ tài nguyên
môi trường – quan hệ dọc.
Mối quan hệ dọc: Giúp cho cấp trên tập trung quyền lực để chỉ đạo, kiểm tra hoạt
động của cấp dưới. Cơ quan quản lí hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở
địa phương phụ thuộc vào cơ quan quản lí hành chính Nhà nước cấp trên.
Kết quả bầu các thành viên của UBND phải được chủ tịch của UBND cấp trên
phê chuẩn
9
quản lí nhằm phát huy trí tuệ trong hoạt động quản lí, phát huy khả năng tiềm tàng
của đối tượng quản lí trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật.
Thứ hai, tạo nên việc thống nhất ý chí trong quản lí hành chính nhà nước, tạo ra
sự nhịp nhàng, ăn khớp giữa các cơ quan, ngành khối trong toàn xã hội mà vẫn
đảm bảo cho các cơ quan địa phương có quyền tự do tương đối trong việc định ra
các hình thức phát triển khác nhau phù hợp với địa phương của mình, tạo nên sức
mạnh tổng thể cho đất nước.
Thứ ba, việc áp dụng nguyên tắc tập trung – dân chủ trong quản lí nhà nước
giúp cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ( thông qua các cơ quan
quyền lực của Nhà nước ở trung ương và địa phương) hoàn thiện hơn, người dân
có thể thực hiện quyền giám sát của mình một cách hữu hiệu, tạo nên một cơ chế
đảm bảo cho nhân dân tích cực tham gia vào quản lí hành chính nhà nước.
Thứ tư, nội dung của nguyên tắc này quy định những đặc diểm chung, mang
tính quy luật khách quan trong hoạt động của hệ thống quản lý xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời, nó phản ánh sự thống nhất giữa cơ sở tư tưởng, chiến lược và tổ chức
của xã hội chủ nghĩa.
IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC
HIỆN NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG - DÂN CHỦ TRONG QUẢN LÝ
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Một là, quán triệt cho cán bộ làm việc tại các cơ quan quản lí hành chính nhà
nước nhận thức đầy đủ và thống nhất về nguyên tắc tập trung- dân chủ.
Đây là giải pháp quan trọng giúp cho cán bộ, công chức nâng cao trình độ vận
dụng và tổ chức thực hiện nguyên tắc tập trung- dân chủ.
Khi quán triệt phải kết hợp giữa việc tổ chức bồi dưỡng của cấp uỷ với việc động
viên, khích lệ tự học tập, tự bồi dưỡng của từng cán bộ, làm cho mọi cấp uỷ viên,
mọi người nắm vững vị trí ý nghĩa tầm quan trọng, bản chất, nội dung cụ thể của
nguyên tắc; có ý thức tôn trọng, tự giác, chủ động, kiên quyết đấu tranh bảo vệ và
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Quá trình quán triệt, giáo dục phải gắn với
11
lập nhau, không tách rời nhau. Tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự
lãnh đạo tập trung. Vì vậy, nhận thức đúng đắn, đầy đủ nguyên tắc tập trung- dân
12
chủ vận dụngtrong điều kiện nước ta hiện nay có hiệu quả nhằm tăng cường hiệu
lực quản lí hành chính nhà nước đê xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội hội chủ
nghĩa phát triển vững mạnh.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Giáo trình luật hành chính Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nxb Công an nhân dân - 2008
2.
Khoa luật, Đại học quốc gia Hà nội, Giáo trình luật hành chính Việt
Nam, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005
3.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ
quan nhà nước – Vũ Văn Nhiệm. Tạp chí KHPL số 3/2004
4.
Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình luật hành chính và tài phán