Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 34

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC …………………………………………………………………………….1
LỜI NÓI ĐẦU ………………………………………………………………………...2
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGUYÊN TẮC
1.



sở

pháp



……………………………………………………………………2
2.



sở

thực

tiễn

…………………………………………………………………..3
II. NỘI DUNG NGUYÊN TẮC
1.



……………………………………………………………..5
4.

Sự

hướng

về



sở

……………………………………………………………….7
5.

Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương ……….7

III. Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ……………………………………………..8
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………….......10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………....11

1


LỜI NÓI ĐẦU
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) đã khẳng định: “Nhà

Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động
theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp giữa hai
yếu tố tập trung và dân chủ tức là vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân
chủ, vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
2.

Cơ sở thực tiễn

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước là sự kết hợp
hài hòa, linh hoạt hai yếu tố tập trung và dân chủ, lãnh đạo tập trung trên hệ quy
chiếu dân chủ và đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Trong quản
lý hành chính nhà nước, tập trung nhằm đảm bảo thâu tóm quyền lực nhà nước vào
chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạo thực hiện chính sách, pháp luật một cách thống
nhất. Trong khi đó, dân chủ hướng tới việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý
nhằm phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động quản lý, phát huy khả năng tiềm tàng
của đối tượng quản lý trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật. Tuy nhiên,
nếu chỉ có tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo điều kiện cho thói lạm
quyền, quan liêu, sách nhiễu và ngược lại không có sự lãnh đạo tập trung thống nhất
sẽ dẫn tới dân chủ thái quá, tình trạng tùy tiện, vô chính phủ, cục bộ ở địa phương.
Do đó cần có sự phối hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ việc đảm bảo cả hai yếu tố này
trong quản lý hành chính nhà nước.

3


II.

NỘI DUNG NGUYÊN TẮC
1.


thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình là quản lý hành chính nhà nước trên mọi
lĩnh vực đời sống xã hội.
Ví dụ: Điều 109 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận rằng
“Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội…” và Điều 110 quy định “…Thủ
tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước…” Điều này thể hiện rất rõ sự phụ
thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước.
2.

Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương
đối với trung ương

Sự phục tùng này đảm bảo cho cấp trên, trung ương tập trung quyền lực để chỉ
đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và địa phương, tránh việc buông lỏng trong
lãnh đạo dẫn đến tình trạng tùy tiện, vô chính phủ, cục bộ địa phương. Sự phục tùng
này trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở cả hai phương diện tổ chức và
hoạt động. Sự phục tùng này không phải phục tùng vô điều kiện mà là phục tùng
những mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật. Tất cả các yêu cầu,
mệnh lệnh do cấp trên, trung ương đề ra, cấp dưới và địa phương có nghĩa vụ phải
thực hiện. Đồng thời cấp trên, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới,
địa phương về công tác tổ chức, hoạt động, các vấn đề khác của quản lý hành chính
nhà nước; tạo mọi điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy tính chủ động, sáng
tạo, tránh tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động, sáng tạo, tự
chịu trách nhiệm của cấp dưới, địa phương.
Ví dụ: Điều 9 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định nghĩa vụ của cán bộ,
công chức trong thi hành công vụ tại khoản 5 như sau: “Chấp hành quyết định của
cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp
thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định…”

5

giao phó. Mạnh dạn phân cấp cho địa phương và cơ sở là biện pháp đảm bảo tập
trung, tránh cho trung ương và cấp trên ôm đồm các công việc thuộc về chức
trách của địa phương và cơ sở.

-

Việc phân cấp quản lý phải thật cụ thể, hợp lý trên cơ sở của pháp luật.

Ví dụ: Điều 37 Luật đất đai năm 2003 quy định thẩm quyền giao đất, cho thuê đất
như sau:

6


“1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho
thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ
sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất,
cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân;
giao đất đối với cộng đồng dân cư.
3. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử
dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.”
Có thể thấy rằng sự phân cấp quản lý này đem lại hiệu quả tích cực trong công
tác quản lý hành chính nhà nước. Một mặt, nó vừa giúp cơ quan cấp trên không phải
ôm đồm công việc, mặt khác giúp nhân dân chủ động hơn trong việc xin cấp phép
đồng thời tăng tính chủ động, linh hoạt trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở
địa phương.
4.


Sự phụ thuộc này được thể hiện ở cả hai mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương và được pháp luật quy định cụ thể.
Ở địa phương, ủy ban nhân dân các cấp trước hết phụ thuộc vào hội đồng nhân
dân cùng cấp (mối phụ thuộc ngang). Đồng thời chúng còn phụ thuộc vào cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp trên trực tiếp (mối phụ thuộc dọc).
Mối phụ thuộc ngang tạo điều kiện cần thiết cho cấp dưới phát huy dân chủ, thế
mạnh của địa phương để hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó. Mối phụ thuộc
dọc giúp cho cấp trên có thể tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo hoạt động của
cấp dưới, tạo nên một hoạt động chung thống nhất.
Nguyên tắc phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nước với lợi ích của địa
phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích vùng lãnh thổ.
Ví dụ: Điều 119 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy
định: “Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra …Kết quả bầu các
thành viên của Uỷ ban nhân dân phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực
tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải được
Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn…”
8


Ở đây ta có thể thấy rõ được sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương. Ủy ban nhân nhân cấp huyện do hội đồng nhân dân cấp huyện
bầu ra và các thành viên của ủy ban nhân dân cấp huyện được Chủ tịch ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phê chuẩn.
III.

Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tập trung dân chủ là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa sự chỉ đạo tập


KẾT LUẬN
Từ mục đích, bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là đảm bảo thực hiện
quyền lực và lợi ích làm chủ xã hội của nhân dân lao động, muốn cho nhà nước thực
sự là cơ quan quyền lực, đại diện cho ý chí, quyền lực của nhân dân, trở thành nhà
nước của dân, do dân và vì dân, đảm bảo cho dân chủ là “Dân làm chủ và dân là
chủ” (Hồ Chí Minh) thì phải thực hiện tập trung dân chủ trong quản lý, đặc biệt là
quản lý hành chính nhà nước. Chỉ có tập trung dân chủ thì nhà nước ta mới thực sự
là nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần
tích cực xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2010.

2.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.

3.

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status