MỤC LỤC
1
A, ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hoạt động
quảng cáo ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ. Việc đầu tư
kinh phí cho hoạt động quảng cáo hàng hoá, dịch vụ được các doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh quan tâm. Do nhu cầu quảng cáo ngày càng tăng nên nhiều loại hình quảng cáo mới
xuất hiện và phát triển mạnh.
Tuy vậy, hệ thống pháp luật về quảng cáo ở nước ta có những bất cập, chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển toàn diện của hoạt động quảng cáo trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy,
việc áp dụng các quy định về hoạt động quảng cáo gặp nhiều khó khăn, Pháp lệnh quảng
cáo 2001 là văn bản quy định tương đối toàn diện về hoạt động quảng cáo tuy nhiên do sự
phát triển của hoạt động quảng cáo nên cũng đã có nhiều nội dung chưa được điều chỉnh
hoặc không còn phù hợp.
Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về phát triển quảng cáo, nhằm mục đích
ban hành một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao để điều chỉnh toàn diện hoạt động
quảng cáo ở nước ta, tại Kỳ họp thứ ba, ngày 21 tháng 6 năm 2012 Quốc hội Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã biểu quyết thông qua Luật Quảng cáo 2012,
sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2013.
Vấn đề đặt ra là Luật Quảng cáo 2012 có những tiến bộ gì so với Pháp lệnh quảng
cáo 2001? Để giải quyết vấn đề này, nhóm em xin chọn và phân tích đề tài: “Tìm hiểu các
điểm mới của Luật Quảng cáo 2012”
B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I, Khái niệm và đặc điểm của quảng cáo thương mại
1, Khái niệm
Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam được điều chỉnh bởi hai loại văn bản pháp luật:
Văn bản pháp luật về quảng cáo nói chung (cụ thể Luật Quảng cáo 2012) và các văn bản
cường cơ hội thương mại và cơ hội lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ quảng
3
cáo được pháp luật thừa nhận là một loại dịch vụ thương mại mà thông qua phí dịch vụ,
thương nhân thu được lợi nhuận một cách trực tiếp. Trong trường hợp tự mình quảng cáo
không đạt hiệu quả mong muốn, thương nhân có quyền thuê thương nhân khác thực hiện
việc quảng cáo cho mình và phải chi trả phí dịch vụ vì việc đó.
- Thứ tư, về cách thức xúc tiến thương mại: Trong hoạt động quảng cáo thương mại,
thương nhân sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng
hóa dịch vụ đến khách hàng. Những thông tin bằng hình ảnh, tiếng nói, chữ viết về hàng
hóa dịch vụ cần giới thiệu... được truyền tải đến công chúng thông qua các phương tiện
truyền thanh, truyền hình, ấn phẩm... Đặc điểm này cho phép phân biệt quảng cáo thương
mại với những hình thức xúc tiến thương mại khác cũng có mục đích giới thiệu hàng hóa,
dịch vụ như trưng bày, giới thiệu hàng hóa, hội chợ triển lãm.
- Thứ năm, về mục đích: Mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại là giới thiệu về
hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi
nhuận của thương nhân. Thông qua các hình thức truyền đạt thông tin, thương nhân giới
thiệu về một loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp
ứng nhu cầu sử dụng... Như vậy, thương nhân có thể tạo sự nhận biết và kiến thức về hàng
hóa, dịch vụ; có thể thu hút khách hàng đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty khác
thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm và những lợi ích của một nhãn hiệu cụ thể (quảng cáo
cạnh tranh) hoặc thông qua việc so sánh tính ưu việt của sản phẩm với các sản phẩm cùng
loại (quảng cáo so sánh). Đây thực sự là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác vì
nó có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng xã hội, bao gồm cả tiêu dùng
cho nhu cầu cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất.
Các đặc điểm trên đây là cơ sở để phân biệt quảng cáo thương mại với các hoạt động
không phải là quảng cáo thương mại như: Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động mang
tính chính trị, xã hội do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội thực hiện, hoạt
động thông tin của các tổ chức cá nhân không nhằm mục đích kinh doanh.
súng săn, đạn súng săn, vũ khí thể thao và các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo
khác do Chính phủ quy định khi có phát sinh trên thực tế.
Bên cạnh đó, ngoài những hành vi cấm quảng cáo được quy định trong Pháp lệnh
39/2001 thì Luật Quảng cáo 2012 đã bổ sung thêm một số nội dung mới được quy định tại
các Khoản 3, 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 Điều 8, gồm: Quảng cáo thiếu thẩm mỹ; có
tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định
kiến giới, về người khuyết tật; quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân
khi chưa được cá nhân đó đồng ý trừ trường hợp được pháp luật cho phép; quảng cáo sử
dụng phương pháp so sánh trực tiếp; quảng cáo có sử dụng các từ “ nhất”, duy nhất, tốt
nhất, số một hoặc các từ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh; vi
phạm sở hữu trí tuệ; quảng cáo làm ảnh hưởng đến trẻ em…
Như vậy, Luật Quảng cáo 2012 đã quy định cụ thể các loại hàng hóa, dịch vụ cấm
quảng cáo không còn quy định chung chung, tuy nhiên vẫn kế thừa một số quy định tại
Pháp lệnh quảng cáo còn phù hợp. Việc quy định như vậy, sẽ tạo được hành lang pháp lý
rõ ràng, giúp cho các đối tượng tham gia hoạt động quảng cáo hiểu rõ những nội dung
được làm và nội dung không được làm, giúp hoạt động quảng cáo đi vào nề nếp và có hiệu
quả.
- Thứ ba, Luật Quảng cáo 2012 đã đưa ra một quy định rất mới so với Pháp lệnh
Quảng cáo là Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo được quy định tại Điều 9. Đây là tổ
chức tư vấn trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giúp Bộ trưởng xem xét và đưa ra
kết luận về sự phù hợp của sản phẩm quảng cáo với quy định của pháp luật trong trường
hợp tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo. Thành phần của Hội đồng
thẩm định sản phẩm quảng cáo bao gồm đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đại
diện của tổ chức nghề nghiệp về quảng cáo và các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan.
- Thứ tư, cho phép thành lập Tổ chức nghề nghiệp về quảng cáo với những nhiệm
vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 10 Luật Quảng cáo 2012. Việc quy định Tổ chức
6
thẩm định sản phẩm quảng cáo (Điều 9 Luật Quảng cáo 2012).
Bên cạnh đó, Luật Quảng cáo 2012 đã luật hóa một số nghĩa vụ của người quảng cáo
như: nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết cho người kinh doanh dịch vụ quả ng cáo; cung
cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận v à c ơ quan có th ẩm quy ền yêu
cầu. Những quy định này trước đây trong Pháp lệnh quảng cáo 2001 ch ỉ được quy định l à th ực hi ện
nghĩa vụ theo hợp đồng theo sự thỏa thuận của 2 bên. Nguyên nhân là do chủ thể tiếp nhận quảng cáo
là chủ thể mới trong Luật Quảng cáo 2012 so với Pháp lệnh quảng cáo 2001 nên có quy định về nghĩa
vụ cung cấp tài liệu liên quan cho người tiếp nhận quảng cáo của người quảng cáo.
+, Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo được quy định tại
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 13 Luật Quảng cáo 2012. Như vậy, về quyền của người kinh
doanh dịch vụ quảng cáo, so với Pháp lệnh quảng cáo 2001, Luật Quảng cáo 2012 quy
định thêm quyền được tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch quảng cáo của
địa phương và được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy
hoạch quảng cáo ngoài trời. Quy định này nhằm phát huy sự đóng góp của khu vực tư nhân
trong lĩnh vực quảng cáo cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng quy hoạch
quảng cáo ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hoạt động quảng cáo trên
địa bàn. Về nghĩa vụ, không có nhiều sự khác biệt giữa Luật Quảng cáo và Pháp lệnh
quảng cáo, tuy nhiên Luật Quảng cáo 2012 quy định cụ thể hơn trong Pháp lệnh quảng cáo
2001 về nghĩa vụ cung cấp tài liệu của sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo
và cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
+, Quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo quy định tại Điều 14 Luật
Quảng cáo 2012. So với Pháp lệnh quảng cáo 2001, Luật Quảng cáo 2012 quy định thêm quyền yêu
cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo và nghĩa vụ cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi
người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
+, Quyền và nghĩa vụ của người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo được quy định trong
Điều 15 Luật Quảng cáo 2012. Pháp lệnh quảng cáo 2001 chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ
của người cho thuê phương tiện quảng cáo, còn Luật Quảng cáo 2012 đã mở rộng phạm vi
8
pháp hành quảng cáo.
9
3, Hoạt động quảng cáo
- Về các phương tiện quảng cáo, tương tự như Pháp lệnh Quảng cáo, Luật Quảng
cáo 2012 cũng nêu ra nhiều phương tiện quảng cáo như: Báo chí; Trang thông tin điện tử,
thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác; Các sản phẩm in, bản ghi
âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác; Bảng quảng cáo, băng - rôn, biển hiệu, hộp
đèn, màn hình chuyên quảng cáo; Phương tiện giao thông; Hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ
chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao; Người chuyển tải sản phẩm quảng
cáo; vật thể quảng cáo; Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật.
Nhưng đáng chú ý nhất là Luật Quảng cáo 2012 thừa nhận một phương tiện quảng
cáo mới là “Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo”. Khoản 8 Điều 2 Luật Quảng cáo quy
định “Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo là người trực tiếp đưa các sản phẩm quảng
cáo đến công chúng hoặc thể hiện sản phẩm quảng cáo trên người thông qua hình thức
mặc, treo, gắn, dán, vẽ hoặc các hình thức tương tự”.
- Quy định về một số thủ tục hành chính: Bãi bỏ Giấy phép thực hiện quảng cáo trên
bảng, băng-rôn thay bằng thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo đến cơ quan quản lý nhà
nước về quảng cáo trước khi thực hiện quảng cáo; Bãi bỏ Giấy phép ra phụ trương quảng
cáo thay bằng thủ tục thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí; Bãi bỏ Giấy tiếp
nhận hồ sơ quảng cáo (hoặc thủ tục đăng ký nội dung quảng cáo) đối với hàng hóa, dịch vụ
trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp và phát triển nông thay bằng quy định điều kiện phải thực
hiện theo Điều 20 Luật quảng cáo và các nội dung bắt buộc quy định tại Nghị định của
Chính phủ; Tiếp tục duy trì cấp phép đối với việc ra kênh, chương trình chuyên quảng cáo
(Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép) và cấp phép xây dựng đối với màn hình quảng
cáo từ 20 mét vuông trở lên; bảng quảng cáo 20 m vuông gắn vào công trình đã có trước;
bảng quảng cáo đứng độc lập từ 40 m vuông trở lên (Bộ Xây dựng cấp phép).
- Điều chỉnh diện tích quảng cáo trên báo chí
Bên cạnh đó, chương này cũng đưa ra các quy định về việc viết, đặt biển hiệu, nội
dung thể hiện trên biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh; quy định
về công tác xây dựng quy hoạch quảng cáo tại địa phương với yêu cầu của nội dung quy
hoạch và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương trong việc xây dựng
quy hoạch quảng cáo để đảm bảo cảnh quan môi trường, mỹ quan đô thị và trật tự an toàn
xã hội; quy định về hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng rôn;
trình tự thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng rôn; cấp giấy phép xây
dựng công trình quảng cáo.
4, Quảng cáo có yếu tố nước ngoài
Quảng cáo có yếu tố nước ngoài gồm 3 Điều (từ Điều 39 đến Điều 41) quy định
những vấn đề liên quan đến hoạt động quảng cáo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt
Nam; hợp tác đầu tư nước ngoài trong hoạt động quảng cáo; văn phòng đại diện của doanh
nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam.
Trong Pháp lệnh Quảng cáo có quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng
cáo nước ngoài được đặt Chi nhánh tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi Việt Nam trở thành thành
viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ
quảng cáo nước ngoài được hợp đồng, hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt
Nam nhưng không được thành lập chi nhánh. Vì vậy, trong Luật Quảng cáo đã bãi bỏ việc
cho phép thành lập chi nhánh cho phù hợp cam kết của Việt Nam với WTO.
Luật Quảng cáo khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh Quảng cáo 2001,
đồng thời bổ sung và hoàn thiện các quy định về hoạt động quảng cáo phù hợp với tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Về cơ bản, Luật Quảng cáo đã có những tác
động tích cực tới hệ thống pháp luật, công cuộc cải cách thủ tục hành chính của đất nước
ta, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động quảng cáo và đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể
tham gia; tạo ra sự hoàn thiện, đồng bộ trong xây dựng, thực thi các văn bản quy phạm
pháp luật về hoạt động quảng cáo và các văn bản pháp luật có liên quan.
12
14