phân tích và làm sáng tỏ Những điểm mới của Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao - Pdf 33

BÀI LÀM
A. Mở đầu
Trải qua quá trình thực hiện pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao đã
cho thấy những điểm bất cập so với quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Chính vì vậy, Quốc hội khóa XII, kì họp thứ 2 ngày 21 tháng 11 năm 2007 đã thông
qua Luật thuế thu nhập cá nhân thay cho Pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập
cao. Nội dung của Luật thuế thu nhập cá nhân đã có những thay đổi cơ bản và có
những điểm mới so với Pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao.

B. Những điểm mới của Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 so
với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
1. Bổ sung và quy định rõ hơn về đối tượng nộp thuế.
Luật thuế thu nhập cá nhân xác định đối tượng nộp thuế dựa trên tiêu chí là cá
nhân “cư trú”. Đây là một điểm mới và cũng là ưu điểm so với pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao. Bởi vì trước đây pháp lệnh thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao dựa trên 3 tiêu chí đó là quốc tịch (“ công dân Việt Nam ở
trong nước hoặc đi công tác lao động ở nước ngoài có thu nhập”), lãnh thổ (“ người
nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không làm việc ở Việt Nam
nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam”) và cư trú (“ cá nhân là người không mang
quóc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam”) để xác định đối
tượng nộp thuế. Chính điều này làm cho pháp luật về thuế thu nhập của nước ta có
những sự khác biệt so với pháp luật các nước khác trên thế giới. Bởi vì một số nước
trên thế giới dựa vào tiêu chí “cư trú” để xác định đối tượng nộp thuế. Vì vậy dễ xảy
ra khả năng đánh thuế trùng giữa các quốc gia. Gây ra tâm lý e ngại của các nhà đầu
tư khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam. Đối với đất nước ta, điều này là không có lợi.
Khi xác định đối tượng nộp thuế dựa vào tiêu chí “cư trú”, thứ nhất nó tương đồng với
pháp luật của các quốc gia trên thế giới, thứ hai là nó giúp cho việc thực hiện được
đơn giản và dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, việc xác định đối tượng là người cư trú trong
1



- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: Thu nhập từ chuyển
nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế; Thu nhập từ chuyển nhượng chứng
khoán; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
- Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm: Trúng thưởng xổ số; Trúng thưởng trong
các hình thức khuyến mại; Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; Trúng
thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
- Thu nhập từ bản quyền, bao gồm: Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử
dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; Thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.
- Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế,
cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử
dụng.
- Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh
tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký
sử dụng.
Quy định mới này đã đảm bảo sự công bằng hơn về nghĩa vụ nộp thuế của các
chủ thể, đồng thời mở rộng hơn phạm vi đối tượng nộp thuế và cũng là phù hợp so với
tình hình kinh tế xã hội ở nước ta. Góp phần tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà
nước để đảm bảo tốt hơn các hoạt động chính trị-kinh tế-văn hóa.

2. Đổi mới cách phân loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ
thuế.
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được
phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Tuy nhiên,
Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập
không thường xuyên. Do vậy, trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn.
Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với
3





nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín
dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn
thuế TNCN. Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ
trong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt
động sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã hội.
Mở rộng diện điều tiết như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của
các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất
thấp và một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
Đồng thời, bằng quy định mới này, Luật thuế TNCN sẽ góp phần tăng thu cho ngân
sách Nhà nước một cách hợp lí trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế.
Việc bổ sung một số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên thể hiện sự ưu đãi của
Nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp gặp
khó khăn. Điều này cũng thể hiện chính sách khuyến khích của nhà nước đối với một
số hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế- xã hội như tố giác tội phạm, tăng cường lao
động sản xuất…

3. Áp dụng giảm trừ gia cảnh khi xác định nghĩa vụ thuế.
Áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối tượng
nộp thuế. Đây là quy định hoàn toàn mới so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao. Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi đối tượng nộp
thuế được công bằng hơn. Quốc hội đã biểu quyết thông qua mức giảm trừ cho bản
thân đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, cho mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu
đồng/tháng. Trong pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao không có
quy định nào về giảm trừ gia cảnh khi xác định nghĩa vụ thuế. Mà chỉ có quy định rất
chung chung về giảm thuế, miễn thuế quy định tại điều 29 của pháp lệnh. Và chỉ được
phép giảm thuế, miễn thuế trong những trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.
Điều này gây ra một thực tế đó là: Người nộp thuế có thể có thu nhập cao, thuộc đối
tượng chịu thuế, nhưng trên thực tế thu nhập này phải chi cho rất nhiều khoản ví dụ

khai báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luât; học bổng
nhận từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của
6


Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được
Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không
nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ.
Luật thuế thu nhập cá nhân quy định khá rõ ràng về thu nhập được miễn thuế
(điều 4 luật thuế TNCN) và thu nhập được giảm thuế (điều 5 luật thuế TNCN). Trong
khi pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao lại chỉ quy định chung
chung đối với việc miễn thuế, giảm thuế vào điều 20 của pháp lệnh. Và được Chính
phủ quy định cụ thể. Điều này, thứ nhất là khó áp dụng vì quy định “…ảnh hưởng đến
đời sống thì người nộp thuế được xét giảm thuế hoặc miễn thuế thu nhâp”. Không có
khái niệm thế nào là ảnh hưởng đến đời sống và ảnh hưởng đến đời sống nhưng vẫn
có khả năng nộp thuế thì sẽ xử lý như thế nào, thứ hai là không rõ ràng bởi vì có sự
khác nhau giữa miễn thuế và giảm thuế. Vì vậy điều kiện để được miễn thuế vào giảm
thuế rất khác nhau. Quy định như trong pháp lệnh thì việc miễn giảm đều phải chờ cơ
quan có thẩm quyền “xem xét và quyết định”. Điều này thực sự là không công bằng.
Bởi vì nó phụ thuộc vào ý chí của chủ thể có thẩm quyền xem xét quyết định. Quy
định mới trong luật thuế TNCN đã làm cho việc thực hiện hoạt động miễn giảm thuế
thực hiện dễ dàng hơn, vì luật quy định rất cụ thể trường hợp nào thì được miễn thuế
và những trường hợp nào được xét giảm thuế. Như vậy, đối tượng được miễn thuế
không còn phụ thuộc vào sự xem xét của cơ quan có thẩm quyền nữa mà chỉ cần đáp
ứng được yêu cầu tại điều 4 luật thuế TNCN thì được miễn thuế theo đúng quy định
của pháp luật. Còn đối tượng được xét giảm thuế là những người gặp khó khăn do
thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế. Luật
quy định rõ là ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế. Chứ không quy định mơ hồ như
pháp lệnh là “ảnh hưởng đến đời sống ”


không đồng nhất giữa các quốc gia. Ở Việt Nam, cá nhân cư trú là người đáp ứng một
trong các điều kiện: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm
dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam
hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng kí thường trú hoặc
có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
Thuế được giảm trừ khi đó là những khoản đóng góp vào tổ chức, cơ sở chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không
nơi nương tựa và khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học.
8


Tài liệu chứng minh đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học phải là chứng từ thu
hợp pháp do các tổ chức, các quỹ của Trung ương hoặc của tỉnh cấp. Khoản đóng góp
từ thiện, nhân đạo phát sinh vào năm nào thì được tính giảm trừ vào thu nhập chịu
thuế của năm đó, không được chuyển trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế
tiếp theo.
Tuy nhiên, không phải khoản đóng góp vào tổ chức, cơ sở và các quỹ nào cũng
được giảm trừ mà các tổ chức, cơ sở và các quỹ này phải được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân
đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận theo quy định tại Nghị định số
68/2008/NDD-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành
lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội
Tuy nhiên, áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo là
quy định mới nhưng không hẳn đã là hoàn toàn hợp lý, nhà nước áp dụng giảm trừ
trên theo góc độ khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ
thiện, nhân đạo, nhưng nhìn theo góc độ của đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, nhà
nước đã tạo điều kiện cho cá nhân cư trú lách luật, làm trái pháp luật thuế. Minh
chứng cụ thể như sau: Thu nhập tính thuế áp dụng Biểu thuế thu nhập cá nhân là thu
nhập của cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền
công sau khi đã trừ đi khoản giảm trừ gia cảnh, các khoản bảo hiểm bắt buộc và “các

có quy định hoàn toàn khác với các quy định về biểu thuế trong Pháp lệnh (1). Cụ thể
đó là:
-

Biểu thuế lũy tiến từng phần được chia làm 7 bậc và áp dụng đối với thu

nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công. Bậc thấp nhất là bậc 1 với thu nhập dưới
5triệu/tháng, 60triệu/năm thì được tính với thuế suất 5%. Bậc cao nhất là bậc 7 với thu
nhập trên 80triệu/tháng, 960triệu/năm được tính với thuế suất cao nhất đó là 35%.
-

Còn biểu thuế toàn phần được áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn,

chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền,
1

Xem bảng phụ lục 1 và 2

10


nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng. Mỗi loại thu nhập được quy định
thuế suất là khác nhau. Thấp nhất là 0,1% đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng
khoán, cao nhất là 25% đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.
Với biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng bậc
thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế
suất giữa các bậc thuế giảm đi. Việc hạ thuế suất cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện
tinh thần mở rộng diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự
đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải, thực hiện “góp gió thành bão”.
Mặc khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status