Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Pdf 34

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Trong các loại thuế gián thu, thuế giá trị gia tăng được coi là có phương
pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn
cuả chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đơn
giản, trung lập...Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế giá trị gia tăng đã
phát sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước ta đã từng bước tháo gỡ
những khó khăn đó trong quá trình thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng. Do đó,
việc tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị
gia tăng là vô cùng cần thiết, đó cũng là lý do em chọn đề tài “Phân tích những
yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

1


hiện nay và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế giá trị gia
tăng”.

PHẦN NỘI DUNG
I.
1.
a.

Những nội dung cơ bản của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Khái niệm và vai trò của thuế giá trị gia tăng
Khái niệm
Tại Điều 2, Luật thuế giá trị gia tăng 2008 (Luật thuế GTGT 2008) quy
định “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Theo đó, thuế GTGT
là thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu



-

Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn
được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác
dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện

-

cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng

-

nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu
trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy
người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt
động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người
bán để trốn lậu thuế. Trong họat động bán lẻ người tiêu dùng không cần đòi hỏi
hoá đơn, vì họ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào do là người tiêu dùng
cuối cùng điều này dẫn đến việc không xuất hóa đơn của người bán để trốn thuế.
Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số thuế

-

thu ở khâu này không nhiều.
Thuế giá trị gia tăng thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng. Với ít
thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập, vì về cơ bản không can thiệp sâu

chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ

-

giá thành sản phẩm.
Thuế giá trị gia tăng được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số
loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu...góp phần làm
cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với
sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống
thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác
kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

2.
a.

Một số nội dung các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng
Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế được quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT 2008 là
hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam,
trừ các đối tượng quy định tại Điều 5, Luật thuế GTGT 2008.
Như vậy, trừ 26 đối tượng được quy định trong Luật thuế GTGT và được
cụ thể hóa tại Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008 (TT
số 129/2008/TT-BTC) ra thì các loại hàng hóa, dịch vụ còn lại đều nằm trong
diện chịu thuế GTGT. Với quy định loại trừ này cho ta thấy tính bao chum lên
hầu hết các hàng hóa, dịch vụ của thuế GTGT.

b.

Đối tượng nộp thuế
Thuế GTGT được cộng vào giá bán và người tiêu dùng phải chịu nhưng

-

Giá tính thuế: tùy vào từng trường hợp mà có các cách tính gia thuế khác nhau.
Đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT, đối với hàng hóa nhập
khẩu là gia trị nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu, đối với hàng hóa,
dịch vụ dùng để trao đổi sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế của hàng hóa,
dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này,
đối với hoạt động thuê tài sản là số tiền thuê từng kỳ, đối với hàng hóa bán theo
phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa dịch vụ tính theo giá bán trả một
lần, đối với hàng hóa gia công là giá gia công, đối với hàng hóa dịch vụ khác do
Chính phủ quy định.

5


-

Thuế suất: áp dụng cho thuế GTGT được nghiên cứu sao cho phù hợp nhất với
đặc điểm kinh tế của từng quốc gia. Thuế suất được quy định cụ thể tại Điều 8
Luật thuế GTGT 2008 và theo đó, thuế suất áp dụng cho thuế GTGT ở nước ta

d.

có 3 mức cơ bản: 0%, 5% và 10%.
Phương pháp tính thuế
Theo quy định của Luật thuế GTGT, các văn bản hướng dẫn thi hành và
thực tiễn áp dụng thì có bốn phương pháp xác định số thuế phải nộp đó là:

-


6


Qua lịch sử phát triển của luật thuế GTGT có thể thấy các quy định về thuế
GTGT luôn luôn thay đổi qua từng thời kỳ, đang ngày càng được hoàn thiện hơn
nữa để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội. Hơn nữa cùng với việc ban
hành Luật thuế GTGT 2008 là các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành cũng
được ban hành để đảm bảo cho các đối tượng thi hành có thể thực thi pháp luật
thuế một cách chính xác và đầy đủ nhất.
2.

Chế độ hóa đơn, chứng từ
Hóa đơn chứng từ là bằng chứng chi nhận, phản ánh tình hình sản xuất
của cơ sở sản xuất kinh doanh. Quản lý tốt các nguồn hóa đơn sẽ hạn chế được
các gian lận về thuế GTGT. Theo quy định của Luật thuế GTGT 2008 thì việc
mua bán hàng hóa, dịch vụ phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp
luật. Đây cũng là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thực thi pháp luật
thuế GTGT được thực hiện một cách rành mạch, có cơ sở pháp lý rõ ràng, giảm
thiểu tình trạng hóa đơn, chứng từ “khống”, gây thiệt hại cho Nhà nước và cả xã
hội.
Trước đây các quy định về hóa đơn chứng từ thường được quy định ở các
văn bản có giá trị pháp lý thấp và mang tính riêng biệt cho từng ngành từng lĩnh
vực. Điều này làm cho việc quản lý rất khó khăn. Vì vậy, cuối năm 2002 để
thống nhất việc quản lý hóa đơn chứng từ, Ủy thường vụ Quốc hội đã ra pháp
lệnh về hóa đơn chứng từ. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng thuế GTGT hóa
đơn chứng từ giữ vai trò quan trọng bởi nó là cơ sở để các cơ quan thuế xác định
kiểm tra, xem xét việc nộp thuế, khấu trừ và hoàn thuế nên cần phải có những
quy định riêng. Hàng năm ngành thuế phát hành rất nhiều hóa đơn GTGT bên
cạnh đó có rất nhiều doanh nghiệp được phép phát hành hóa đơn, do đó việc
quản lý số hóa đơn trên thị trường là rất khó khăn. Nhiều doanh nghiệp được

4.

làm thiệt hại cho các chủ thể đã chịu thuế trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế
Với sự phát triển của xã hội, pháp luật thuế của nước ta hiện nay đang áp
dụng cơ chế tự khai, tự nộp, tự tính thuế đối với đối tượng nộp thuế; từ đó có thể
thấy Nhà nước và pháp luật nước ta rất đề cao vai trò và trách nhiệm của người
nộp thuế. Ðối với người nộp thuế, tất nhiên ngoài khả năng tính toán đầy đủ số
thuế mình còn phải nộp sau khi được khấu trừ, còn phải có đầy đủ phẩm chất
cuả một nhà kinh doanh lương thiện xem việc nộp thuế đầy đủ, kịp thời là một
nghĩa vụ hợp lý và công bằng. Vì vậy, ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế là
một yếu tố cơ bản hàng đầu giúp cho việc thực thi pháp luật thuế được thực hiện
chủ động, linh hoạt và chính xác, để xã hội ngày càng phát triển và hiện đại hơn.

8


5.

Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, đoàn thể, tổ chức
Để thực thi một cách tốt nhất pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế
GTGT nói riêng thì không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của cơ quan thuế mà nó đòi
hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan chức năng. Có thể hiểu như sau: Khi một
chủ thể tiến hành nộp thuế thì đơn giản hành vi đó đã làm phát sinh nên quan hệ
pháp luật thuế giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế, nhưng trước đó, để biết
đến nghĩa vụ nộp thuế của mình thì chủ thể nộp thuế phải có sự hiểu biết nhất
định về những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ nộp thuế của mình
thông qua các trang báo mạng, chương trình truyền hình, qua sự giáo dục của
nhà trường; còn khi chủ thể nộp thuế đã biết rõ về hành vi trốn thuế của mình
nhưng vẫn thực hiện hành vi trốn tránh nghĩa vụ thuế thì họ sẽ phải gánh chịu

các chuyên mục tìm hiểu giải đáp các thắc mắc về thuế nói chung và về thuế
GTGT nói riêng để mọi người dân hiểu về loại thuế mà họ là đối tượng chịu
thuế.
Bộ tài chính tổ chức các hội thảo khoa học có sự tham gia của các doanh
nghiệp các nhà kinh tế và phía người tiêu dùng để phát hiện những sai sót bất
cập trong nội dung pháp luật thuế cũng như tìm ra các giải pháp cùng tháo gỡ
vấn đề.
Hiện nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, số người truy cập
mạng ngày càng nhiều cần đưa các quy định liên quan đến nội dung cũng như
thủ tục hành chính về thuế GTGT lên mạng. Điều này không chỉ giúp cho các
doanh nghiệp có thể tự tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành mà còn
tạo điều kiện cho hoạt động tra cứu liên quan đến loại thuế này.
2.

Biện pháp kiểm tra giám sát
Bộ Tài chính cần tăng cường công tác quản lý kiểm tra việc in ấn, phát
hành hóa đơn của các cơ sở kinh doanh đảm bảo việc quản lý các hóa đơn
GTGT đang lưu thông trên thị trường. Xác định đúng đối tượng mua bán hóa
đơn chỉ là những cơ sở có hoạt động sản xuất kinh doanh ra hàng hóa dịch vụ là
đối tượng chịu thuế GTGT. Các cơ quan có sự phối hợp giữa cơ quan thuế, cơ
quan kiểm toán Nhà nước, kiểm toán tài chính để phát hiện ra các hành vi gian
lận thuế, các trường hợp mua bán hóa đơn bất hợp pháp và có các biện pháp xử
lý kịp thời, nghiêm minh.
Hoàn thuế là khâu mang lại lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp bởi vậy để
hạn chế gian lận trong quá trình này các cơ quan thuế đẩy mạnh công tác thanh
tra kiểm tra trước cũng như sau khi hoàn thuế GTGT đặt biệt là đối hàng hóa
xuất khẩu qua biên giới. Các cơ quan hải quan tăng cường biện pháp quản lý
cũng như giám sát chặt chẽ việc kiểm tra và xác nhận hàng hóa thực tế đã xuất
khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hóa thực tế đã xuất khẩu, xuất khẩu
khống. Đối với đối tượng có hàng hóa xuất khẩu cần quy định bắt buộc phải mở

hải quan không chỉ đáp ứng các yêu cầu về nghiệp vụ thuế hải quan nói chung
mà phải có khả năng phát hiện ra các thủ đoạn gian lận, tinh vi của các đối
tượng nộp thuế trong giai đoạn hiện nay. Các cán bộ thuế, cán bộ hải quan
không chỉ là những người am hiểu về nghiệp vụ thuế hoặc hải quan mà còn phải
nắm vững được các lĩnh vực liên quan như kế toán, pháp luật kinh tế…Có
những con người vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ thì mới xây dựng được

11


bộ máy hành chính thuế đơn giản nhưng hiệu quả, đáp ứng được những yêu cầu
của cuộc cải cách hệ thống thuế hiện nay.
4.

Sửa đổi, bổ sung ban hành một số luật có liên quan
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia các ngành luật hoặc các đạo
luật không tuyệt đối độc lập với nhau mà chúng còn luôn có mối quan hệ với các
ngành luật khác. Để thực hiện tốt pháp luật thuế GTGT cũng cần thiết phải sửa
đổi, bổ sung ban hành các luật có liên quan.

PHẦN KẾT LUẬN
Việt Nam đang từng bước tiến tới hội nhập nền kinh tế thế giới. Để bắt
kịp với tiến trình này thì chúng ta phải liên tục có những cải cách nhằm làm phù
hợp và thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh của nền kinh tế thế giới. Trong đó
việc thực hiện cải cách về thuế là một vấn đề hết sức quan trọng, nhằm làm tăng
sức cạnh tranh trên các lĩnh vực về thương mại mậu dịch, nguồn vốn đầu tư từ
nước ngoài. Từ khi ra đời cho đến nay thuế GTGT đã chiếm được vị trí quan
trọng trong hệ thống thuế của các nước và đóng vai trò vô cùng quan trọng đối
với nền kinh tế vĩ mô. Vì vậy, việc đảm bảo cho việc thực thi pháp luật thuế
GTGT là một yêu cầu vô cùng quan trọng và cấp thiết đòi hỏi sự nỗ lực từ các





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status