Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền - Pdf 34

HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.........................................................................................1
B. NỘI DUNG.........................................................................................................................3
I. Một số vấn đề lý luận về lãi suất trong hợp đồng vay tiền..................................................3
1. Khái niệm hợp đồng vay tiền..............................................................................................3

2. Lãi suất trong hợp đồng vay tiền ....................................................4
3. Đặc điểm của lãi suất .......................................................................5
II. Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay
tiền...........................................................................................................6
III. Thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng vay tiền..........................................7
IV. Nhận xét và kiến nghị của cá nhân về quy định của pháp luật về vấn đề lãi
suất trong hợp đồng vay tiền..........................................................................................15

1- Về “mức lãi suất tương ứng” trong hợp đồng vay tiền................16
2- Về lãi suất cho vay trong hạn..........................................................17
3- Về lãi suất cho vay quá hạn.............................................................18
C. KẾT LUẬN.......................................................................................................................21

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

:

Bộ luật dân sự


quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất.
Vay tiền là một hình thức rất phổ biến, trong hợp đồng vay thường có một
điều khoản gọi là lãi suất. Với những tác động tích cực của nó, lãi suất là một
yếu tố quan trọng và đôi khi không thể thiếu trong đời sống. Việc sử dụng lãi
suất trong hợp đồng vay tiền cũng vậy. Lãi suất không chỉ đem lại lợi nhuận và
thoả mãn nhu cầu về vật chất của người cho vay, lãi suất còn đem lại sự đầu tư
hay sử dụng có mục đích của người đi vay.
Trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng gia tăng đặc
biệt là các tranh chấp liên quan đến lãi và lãi suất. Tuy nhiên những quy định
của pháp luật về vấn đề này còn rất chung chung và chưa rõ ràng. Điều đó càng
làm tăng thêm các tranh chấp và đã bị một số đối tượng lợi dụng những quy
định còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay nặng lãi, để tổ chức đánh
bạc…Bài tập lớn học kỳ này en xin trình bày đề tài : “ Một số vấn đề về lãi suất
trong hợp đồng vay tiền” với kiến thức còn nhiều hạn chế và sự eo hẹp về tài
liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Em xin chân thành đón nhận ở thầy cô và các bạn những ý kiến đóng góp bổ ích
để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

2


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

B. NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lý luận về lãi suất trong hợp đồng vay tiền
1. Khái niệm hợp đồng vay tiền

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng,
chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định”
(

điều 471- BLDS 2005)

Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về
Hợp đồng (Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 – BLDS
2005) ta có định nghĩa về hợp đồng vay tiền như sau: hợp đồng vay tiền là sự
thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến
hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay đúng số lượng và chỉ phải trả
lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật quy định.
2. Lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm
một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng
thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất.
Lãi xuất giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hợp đồng vay tiền. Nó
cũng là cái mà các bên thường quan tâm khi tham gia vào quan hệ vay tài sản.
Để hiểu rõ về lãi xuất, trước tiên chúng ta phải đi làm rõ một khái niệm có liên
quan mật thiết đến nó trong hợp đồng vay tiền đó là lãi.
Lãi là một khoản tiền hoặc vật, ngoài vốn gốc, mà người cho vay nhận được
từ người đi vay khi có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc sử dụng
vốn vay của người này. Điều đó cho thấy, căn cứ vào lãi xuất, số tiền vay và
thời hạn vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định cho bên cho vay, tiền lãi
nhiều khi lãi suất cao, số tiền vay lớn và ngược lại.
Về lãi suất có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Có định nghĩa cho
rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian
nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn.

thì cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do pháp
luật quy định.
Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh
do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của
lãi suất là một tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số
tiền vay gốc trong một thời hạn nhất định.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

5


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian
vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay.
Do đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các
bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp.
II. Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay
tiền
Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọi
quan hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài
vòng kiểm soát của pháp luật. Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vào
tình trạng này. Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhất một điều về lãi suất
một cách trực tiếp:
“Điều 476. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150%
của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương

khi đó sẽ bằng mức lãi xuất cơ bản do NHNN công bố tại thời điểm trả nợ.
Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 là quá
khái quát sẽ tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làm biến thái đi
và lợi dụng nó để kinh doanh, tổ chức thực hiện một số hình thức không lành
mạnh.
III. Thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Hợp đồng vay tiền là quan hệ tương đối phổ biến trong cuộc sống hàng
ngày. Nó có tác động giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn khi thiếu
thốn để sản xuất và lưu thông hàng hoá, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con
người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Hợp đồng vay tiền trong nhân
dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó
khăn tạm thời trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh.
Các hợp đồng dân sự luôn mang trong nó tính chất “ thoả thuận giữa các
bên ” tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người cho vay trong hợp
đồng vay tiền có lãi suất bằng cách “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng
không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công
bố đối với loại cho vay tương ứng”. Nhưng “ quy định vẫn chỉ là quy định ”,
không có chế tài áp dụng thì việc đưa ra các quy định này cũng không mang lại

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

7


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

kết quả như ý muốn. Nếu có chế tài áp dụng đối với việc quy định lãi suất cũng
chỉ là chế tài hành chính, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại một khoản tiền

HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Như vậy, việc quy định lãi suất quá cao hay quá thấp đều không mang lại
hiệu quả. Nhà nước tính toán làm sao để pháp luật có những quy định hợp lý
không làm giảm hiệu quả của giá trị đồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởng
đến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bền
vững và lâu dài cho nền kinh tế.
Hơn nữa có thể thấy sự bất cập và thiếu chặt chẽ còn thể hiện ở chỗ: lãi suất
được quy định trong BLDS 2005 phải ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơ
bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong
trường hợp A cho B vay với lãi suất là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà
nước công bố trong thời gian 1 năm nhưng hết 1 năm B vẫn chưa trả cho A, lúc
này phát sinh lãi suất quá hạn và lãi suất này được tính như thế nào? Nếu A và
B có thoả thuận về mức lãi suất quá hạn nhưng mức lãi suất này lại vượt quá
150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (vì lãi suất đúng
hạn mà A và B thoả thuận đã bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà
nước) thì lúc này hậu quả sẽ ra sao? Việc áp dụng Điều 476 BLDS 2005 có thực
sự hiệu quả? Nếu trường hợp A và B không thoả thuận về lãi suất quá hạn thì
việc tính lãi suất này sẽ theo quy định của pháp luật, tức là vẫn ≤ (nhỏ hơn hoặc
bằng) 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, như vậy việc phân
loại lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn không còn ý nghĩa bởi vì cách tính lãi
suất đúng hạn và lãi suất quá hạn là như nhau.
Thứ hai: Thực tế cho thấy việc giải việc giải quyết những tranh chấp về lãi
suất trong thời gian qua gặp không ít khó khăn. Một phần nguyên nhân là do các
quy định về lãi suất trong các hợp đồng vày còn chưa rõ ràng và ổn định, Điển
hình như việc ngân hàng liên tục có những thay đổi về chính sách lãi suất. Để
hiểu rõ thực tiến giải quyết các tranh chấp có liên quan đến lãi suất trong hợp
đồng vay tiền, trước hết ta cần đưa ra các quy định của hiện hành điều chỉnh

BLDS 2005 có hiệu lực (01/1/2006) mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quy
định của BLDS 1995 và các văn bản hướng dẫn áp dụng để giải quyết.
Pháp luật quy định như vậy nhưng thực tiến giải quyết các tranh chấp hợp
đồng vay tiền cho thấy các tòa án có cách hiểu khác nhau về cách tính lãi suất.
Có tòa tính lãi từ khi vay hoặc từ khi đến hạn trả nợ cho đến khi XXST với lãi
suất là lãi suất tại thời điểm cho vay, kể cả trong thời gian đó NHNN có sự tăng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

10


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

giảm lãi suất. Nhưng có tòa lại áp dụng mức lãi suất do NHNN quy định qua
từng thời kỳ…
Để thấy rõ được điều này sau đây em xin đưa ra 1 vụ án cụ thể nêu ba
quan điểm khác nhau về cách tính lãi suất.
Nội dung vụ án như sau:
Ngày 30/01/1996, Bà nguyễn Thị A cho ông Trần Văn B vay số tiền
200.000.000đồng , lãi suất hai bên thỏa thuận là 5%/tháng, khi nào cần báo
trước một tháng. Bà A đã nhận đủ lãi và đúng theo thỏa thuận đến ngày
30/5/2001. Sau đó ông B không trả lãi và vốn. Bà A đã khởi kiện yêu cầu xem
xét buộc ông B trả gốc và lãi chưa trả. Thời điểm tòa án XXST là tháng 5/2004.
Có 3 quan điểm khác nhau về việc tính lãi suất trong vụ án này:
Thứ nhất: Bà A nhận lãi của ông B mỗi tháng là 200.000.000 đồng x 5% =
10.000.000 đồng. Từ tháng 02/1996 đến tháng 5/2001 tổng số tiền lãi đã nhận là
10.000.000 đồng x 51 tháng = 510.000.000 đồng. Lãi suất này được tính lại kể

chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay là 1,7% +1,7% x 50% = 2,55%/tháng.
Số tiền lãi ông A phải trả từ tháng 05/2001 đến thời điểm XXST là 200.000.000
đồng x 2,55% x 36 tháng = 183.600.000 đồng.
Như vậy, ngoài việc đòi được vốn, bà A còn được nhận số lãi lớn hơn so với
hai quan điểm trên, cụ thể số lãi bà A nhận được là: 510.000.000 đồng +
183.600.000 đồng = 693.000.000 đồng. Tổng cộng cả gôc lẫn lãi là 893.000.000
đồng.
Nhận xét
Việc tính lãi suất theo ba quan điểm nêu trên là không đúng, vi phạm quy
định tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 và BLDS 1995. Vì
theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT và BLDS 1995 thì việc tính lãi
suất trong vụ án trên như sau:
Do hợp đồng vay tiền được các bên ký kết trước ngày 01/07/1996 nên số
tiền lãi ông B đã trả cho bà A từ tháng 02/1996 đến trước ngày 01/07/1996 là
200.000.000 đồng x 5%/tháng x 5 tháng = 50.000.000 đồng không phải tính lại.
Còn số tiền lãi đã trả từ ngày 01/07/1996 phải tính lại theo quy định tại khoản 1
điều 473 BLDS 1995.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

12


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Lãi suất cao nhất của loại vay trung và dài hạn tại thời điểm vay theo quyết
định 381/QĐ – NHNN1 ngày 28/12/1995 là 1,7%. Như vậy, từ ngày
01/07/1996 đến thời điểm XXST, tòa án chỉ chấp nhận mức lãi suất của HĐVTS
là 1,7% + 1,7% x 50% = 2,55%/tháng. Theo đó số tiền lãi mà ông B phải trả bà

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

323.000.000 đồng. Lúc đó bà Hoa là kế toán trưởng công ty tiếp thị đã làm thủ
tục tạm ứng tiền cho ông Địch. Ngày 30/4/2003 ông Địch thanh toán
143.000.000 đồng. Số tiền 180.000.000 đồng ông không trả được. Ngay
25/06/2003 công ty tiếp thị bị cơ cấu lại. Do phải giao tài chính gấp cho Trung
tâm tiếp thị triển lãm nông nghiệp và phát triển nông thôn nên bà Hoa đã gọi
điện cho ông Địch và nói sẽ cho ông vay tiền. Được sự nhất trái từ phía ông
Địch, bà đã trả ngay cho công ty tiếp thị 180.000.000 đồng hộ ông vào ngày
25/06/2003 theo phiếu số 68. Sau đó nhiều lần bà đến nhà ông Địch để đòi nợ
nhưng ông Địch đều xin khuất. Đến ngày 11/5/2006, ông Địch đã viết giấy
khuất nợ và hẹn trả bà làm 2 lần: Lần 1 thanh toán 50% số nợ vào ngày
30/06/2006, đồng thời thanh toán lãi 1%/ tháng cho bà kể từ ngày thanh toán
thay cho ông tại công ty. Hết năm 2006 ông Địch không trả được nợ và lại viết
giấy khuất nợ vào ngày 8/1/2007 hẹn ngày 30/4/2007 sẽ trả nợ. Đến hẹn ông
Địch vẫn không trả nợ và cho tiếp sau đó cũng chưa trả cho bà hoa được đồng
nào. Cuối cùng bà Hoa đã khởi kiện yêu cầu tòa án buộc ông Địch phải trả cho
bà cả nợ gốc và lãi.
Tòa án sơ thẩm đã áp dụng BLDS 2005 và xử: Buộc ông Địch phải trả cho
bà Hoa số tiền nợ gốc là 180.000.000 đồng và lãi là 123.672.600 đồng. Tổng
cộng là 303.672.600 đồng.
Sau đó Viện kiểm sát nhân dân quận hai bà trưng đã kháng nghị. TAND TP
Hà Nội đã thu lý và XXPT tại bản án số 254/2009/DSPT ngày 23/9/2009
Tòa án phúc thẩm đã nhận định: Tại thời điểm xác lập giao dịch vay tiền
giữa ông Địch và bà Hoa là ngày 25/06/2003 – ngày bà Hoa nộp số tiền
180.000.000 đồng vào công ty tiếp thị thay cho ông Địch. Do đó văn bản pháp
luật cần được áp dụng để giải quyết tranh chấp là BLDS 1995 và thông tư liên
tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997. Tòa án sơ thẩm đã áp dụng BLDS 2005 là
không chính xác. Vì vậy, Tòa án phúc thẩm đã tính lại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

thường phải giải quyết rất nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng vay tiền mà trong
đó, lãi suất là một trong những vấn đề vướng mắc hay xảy ra. Tuy đã có một số
văn bản hướng dẫn, giải thích của các cơ quan pháp luật, nhưng vẫn chưa giải
đáp được rõ ràng và chính xác một số quy định về lãi suất. Nguyên nhân là do
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

15


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

các quy định liên quan đến lãi suất còn quá phức tạp, không đồng bộ, thiếu cụ
thể và thường xuyên thay đổi. Bài viết này xin nêu ra một số vấn đề về mức lãi
suất tương ứng, về lãi suất cho vay trong hạn và về lãi suất cho vay quá hạn
trong các hợp đồng vay tài sản như:
1- Về “mức lãi suất tương ứng” trong hợp đồng vay tiền
Điểm thứ 19, phần III, Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 của
TANDTC đã giải thích về mức lãi suất tương ứng trong hợp đồng vay tài sản
nói chung vay tiền nói riêng như sau: Tuy hướng dẫn tại điểm a và b, khoản 4,
mục I, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của TANDTC,
VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “ Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án
về tài sản” không nêu cụ thể, nhưng trong ví dụ theo điểm này đã hướng dẫn
cách tính cụ thể là: Khi tính lãi phải áp dụng mức lãi suất tương ứng (mức lãi
suất cho vay cùng loại) của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập
hợp đồng (thời điểm vay), được ghi trên hợp đồng tín dụng hay khế ước vay
tiền.
Đặc biệt, theo Quyết định số 189/1999/QĐ-NHNN1 ngày 29-5-1999 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về “ quy định trần lãi suất cho vay bằng đồng

áp dụng theo lãi suất tại Quyết định này”. Do đó, các khoản vay được xác lập
trước ngày 19-4-1993 mà đến ngày 19-4-1993 chưa trả và phát sinh tranh chấp,
thì Toà án áp dụng mức lãi suất theo Quyết định số 79/QĐ-NH1 trên đây của
Ngân hàng Nhà nước để giải quyết, nghĩa là lãi suất cho vay cùng loại ở đây
được xác định là mức lãi suất cho vay cùng loại tại thời điểm vay vốn được ghi
trên hợp đồng hay khế ước vay tiền đến ngày 19-4-1993, còn từ ngày 19-41993 trở về sau thì lãi suất được xác định theo mức lãi suất cho vay cùng loại
theo quy định tại Quyết định số 79/QĐ-NH1 nói trên.
Qua hướng dẫn trên, có hai vấn đề cần rất quan trọng được làm rõ là:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

17


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

- Tại sao các khoản vay được xác lập trước ngày 19-4-1993 thì Toà án lại
đều thống nhất “áp dụng mức lãi suất theo Quyết định số 79/QĐ-NH1”?
- Và tại sao “từ ngày 19-4-1993 trở về sau thì lãi suất được xác định theo
mức lãi suất cho vay cùng loại theo quy định tại Quyết định số 79/QĐ-NH1”.
3- Về lãi suất cho vay quá hạn
Hiện nay Khoản 2, Điều 313; khoản 5, Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều
233, Luật Thương mại; Điểm e, khoản 2, điều 13 Nghị định số 17-HĐBT ngày
16-1-1990 của HĐBT quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và
Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 nói trên đều có quy định về
việc nếu người có nghĩa vụ chậm thanh toán tiền vay (tiền gốc và lãi), thì phải
trả lãi cho số tiền chậm thanh toán theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà
nước quy định. Các quy định đó có lẽ xuất phát từ thực tế nhiều năm trước đây,

xa những dự liệu của nhà làm luật, khi ban hành BLDS 2005. Bản thân các quy
định về lãi suất cơ bản, suy cho cùng, cũng là kết quả tham khảo từ lãi suất thị
trường liên ngân hàng ở Việt Nam, nhưng thực chất lại thường mang tính chủ
quan của cơ quan quản lý (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), không theo kịp
lãi suất thực tế diễn ra trên thị trường, và đôi khi tỏ ra lạc hậu rất xa so với thực
tế.
Thứ hai, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước
cũng như sự thay đổi trong các quan hệ cung - cầu trong thị trường vốn, theo
hướng ngày càng tiến dần đến với những đòi hỏi khách quan của loại quan hệ
này, đòi hỏi phải cần có sự thay đổi căn cứ xác định lãi suất thích ứng. Sắp tới,
Nhà nước sẽ không điều hành lãi suất theo cơ chế công bố lãi suất cơ bản như
từ trước tới nay, nên căn cứ áp dụng lãi suất cơ bản trong BLDS hiện hành
không còn khả thi.
Thứ ba, về mặt kỹ thuật, nhiều điều luật quy định về lãi suất trong BLDS
2005 không được trình bày chặt chẽ, có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng và thực thi pháp luật cụ thể như sau:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

19


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Tại khoản 1 Điều 467 BLDS 2005 quy định. “Lãi suất vay do các bên thoả
thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà
nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.” Về mặt kĩ thuật pháp lý , cách
diễn đạt “ không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản ” gây khó khăn cho việc

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

trong các hợp đồng vay tiền. Bởi vậy, việc Ban soạn thảo đưa ra những đề xuất
sửa đổi các quy định liên quan đến vấn đề lãi suất, như Dự thảo Luật Sửa đổi,
bổ sung một số điều của BLDS là một việc làm cấp thiết.
Như vậy,vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tiền còn chứa đựng rất nhiều
vấn đề bất cập cần phải được nghiên cứu và sửa chữa cho phù hợp hơn.
C. KẾT LUẬN
Qua phân tích ở trên, quy định của pháp luật về vay tiền có lãi suất ta có
thể thấy rằng những quy định của pháp luật về lãi xuất còn khá phức tạp, không
đồng bộ và hay thay đổi. Chính vì vậy khi xử lí các vụ tranh chấp về vay có tài
sản vướng mắc lớn nhất của tòa án khi giải quyết là vẫn đề lãi xuất trong hợp
đồng vay. Cần phải sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật cho phù hợp với
thực tiễn hơn và giúp cho cơ quan giải quyết dễ dàng giải quyết khi có tranh
chấp xảy ra.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Giáo trình luật Dân sự Việt Nam 2 ( chủ biên, Lê Đình Nghị), NXB Giáo
Dục, Hà Nội 2009.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

21


HOÀNG THỊ VÂN 351759

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

2, Đỗ Văn Điệp , Khóa luận tốt nghiệp. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status