LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh, chọn lọc và đào thải được
ví như một vòng đấu khốc liệt, trong đó các doanh nghiệp, chủ thể chính của các quan
hệ kinh tế chính là các đối thủ không cân sức, kẻ mạnh thắng thế sẽ tiếp tục tồn tại và
phát triển, còn những kẻ yếu hơn nếu không muốn bị đào thải phải chủ động tìm kiếm
phương án cơ cấu, tổ chức lại nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt
động. Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ liên tiếp, rơi vào tình
trạng bế tắc. Thậm chí đã có những doanh nghiệp chấm dứt hoàn toàn mọi hoạt động
lẽ ra phải được Tòa án tuyên bố phá sản nhưng lại chọn các phương án khác như sáp
nhập, hợp nhất, giải thể doanh nghiệp. Vì vậy đề tài nhóm em xin lựa chọn là: Tư vấn
cho một doanh nghiệp (đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh) những nội dung
pháp lý cơ bản liên quan đến thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp.
NỘI DUNG
I/ Những vấn đề cơ bản về phá sản:
1. Khái niệm, dấu hiệu phá sản doanh nghiệp:
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu
quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh. Phá sản
không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ
của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại
cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa
phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó. Theo đó doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là
lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến
hạn khi chủ nợ có yêu cầu.1
Theo điều 3, luật phá sản năm 2004 thì một doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản khi: Điều 3: Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn
khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.
1
http://khanhanlaw.com/public/chitiettintuc.aspx?idnew=11S3JD129T&idcateNew=1S3JD&titles=Ph
Có biện pháp xử lý hàng hoá tồn kho, vật tư tồn đọng.
•
Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng.
•
Thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm nợ, xoá
nợ.
•
Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay mới để trang trải nợ cũ và đầu tư
đổi mới công nghệ.
Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nêu trên mà vẫn gặp khó khăn,
không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh
nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải được xử lý phá sản theo quy định của
pháp luật.
2
Như vậy, dấu hiệu pháp lý căn bản của tình trạng phá sản là mất khả năng thanh
toán nợ đến hạn, phá sản là bước cuối cùng sau khi doanh nghiệp đã tìm các biện pháp
để cứu vãn tình hình nhưng không thành công.
2. Phân loại phá sản:
Căn cứ vào tính chất của sự phá sản thì phá sản gồm: Phá sản trung thực: Là sự
3.2.1. Chủ nợ (Điều 13)
Pháp luật về phá sản được đặt ra trước hết là nhằm bảo vệ các chủ nợ. Do vậy,
đối tượng đầu tiên được pháp luật qui định có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
là chủ nợ. Tuy nhiên, chủ nợ có bảo đảm không được quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Vì vậy, Điều 13 Luật phá sản 2004 qui định chỉ có các chủ nợ sau đây mới có
quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã:
- Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba.
- Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của
doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ
đó.
Điều kiện để các chủ nợ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là sau thời gian 30
ngày kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được thanh toán. Các chủ nợ khi
làm đơn phải nộp lệ phí
3.2.2. Người lao động (Điều 14)
Luật phá sản đã cho phép người lao động có quyền được làm đơn yêu cầu Tòa
án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã nơi họ đang làm việc với điều kiện:
doanh nghiệp, hợp tác xã không trả lương, các khoản khác khi đến tháng và người lao
động nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Như vậy, điều kiện để người lao động được làm đơn:
- Tính chất là nợ lương, các khoản khác lương;
- Không tính đến thời hạn nợ lương là bao lâu;
- Có văn bản thể hiện ý chí chung của tập thể người lao động về việc đưa
doanh nghiệp, hợp tác xã ra Tòa án để giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản (Ví dụ:
Nghị quyết của Công đoàn).
3.2.3. Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 15)
Theo Khoản 1 Điều 15 Luật phá sản 2004 thì sau khi phát hiện mình đã lâm
vào tình trạng mất khả năng thanh toán và mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết
1. Nộp đơn, thụ lý đơn và điều tra về khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp
Các đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp gửi đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết
việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Nếu là chủ nợ: kèm theo đơn phải có bản sao giấy
5
đòi nợ, các tài liệu liên quan đến việc giải quyết tranh chấp các khoản nợ, các tài liệu
chứng minh tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn... Nếu là doanh nghiệp mắc
nợ: kèm theo đơn là các tài liệu như danh sách chủ nợ, báo cáo tình hình kinh doanh
06 tháng trước khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; báo cáo quyết toán và thuyết
trình chi tiết tình hình tài chính 02 năm cuối; báo cáo về các biện pháp tài chính cần
thiết đã áp dụng để khắc phục... Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải
chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật, theo quy định tại khoản 5, điều 15 luật
phá sản năm 2004.
Toà án thụ lý đơn phải vào sổ và cấp cho người nộp đơn giấy báo đã nhận được
đơn. Trong 7 ngày kể từ ngày thụ lý, toà án phải thông báo cho doanh nghiệp mắc nợ
biết kèm theo bản sao đơn và các tài liệu khác có liên quan. Theo quy định của pháp
luật tại khoản 1 Điều 7 Luật phá sản năm 2004, doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu
cầu giải quyết phá sản đến tòa án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp.
2. Mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp
Điều kiện mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp :
Doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn do hai lý
do là gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp phải
chứng minh được các khoản thua lỗ là đúng, là hợp pháp, không có dấu hiệu của phá
sản gian trá.
Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn gặp khó khăn,
Hội nghị chủ nợ đóng vai trò quan trọng, là điều kiện tiên quyết để có thể tiến hành
thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Hay nói cách khác, thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh chỉ được áp dụng nếu thẩm phán triệu tập được hội nghị chủ nợ để thông
qua nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh (Điều 68
Luật phá sản). Hội nghị chủ nợ do thẩm phán triệu tập để giải quyết các nội dung quy
định tại Điều 64 Luật phá sản.
3.2 Phục hồi hoạt động kinh doanh
Phục hồi kinh doah là một thủ tục độc lập mà thẩm phán có thể quyết định áp dụng
hay không áp dụng sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
7
Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh. Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh được quy định tại Điều 68 Luật phá sản. Theo Luật phá sản, để
áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật phá sản, cần phải có điều
kiện:
-
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất được tổ chức thành công.
-
Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý các giải pháp tổ
chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và yêu
cầu doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Khi Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị quyết, thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua
điều 73 Luật phá sản. Ở giai đoạn doanh nghiệp thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh, tổ quản lý, thanh lý tài sản bị giải thể (khoản 1). Sáu tháng một lần,
doanh nghiệp phải gửi cho Tòa án báo cáo tình hình thực hiện phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn chịu sự giám
sát của chủ nợ trong việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Thời hạn thực hiện phương án phục hồi. “Thời hạn tối đa để thực hiện phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản là ba năm, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Toà án công
nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, hợp tác xã.” (điều 74 Luật phá sản).
Trong quá trình thực hiện phương án phục hồi, các chủ nợ và doanh nghiệp có thể thỏa
thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
4. Tuyên bố phá sản và phân chia tài sản của doanh nghiệp:
4.1 Quyết định tuyên bố phá sản
Thẩm phán Toà kinh tế cấp tỉnh có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố phá sản doanh
nghiệp trong các trường hợp:
•
Doanh nghiệp mắc nợ không có phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại
hoạt động kinh doanh khi có đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp của
chủ nợ và toà án đã có quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
•
Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không có mặt ở
hội nghị chủ nợ để trình bày phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại sản
xuất kinh doanh.
9
4.2 Phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
Việc phân chia tài sản của doanh nghiệp được tiến hành sau khi đã xác định rõ tài
sản của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp gồm:
-
Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có trong doanh
nghiệp.
-
Tiền hoặc tài sản góp vốn liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp hoặc
tổ chức khác.
-
Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác
đang nợ hoặc chiếm đoạt.
-
Tài sản đang cho thuê hoặc cho mượn.
-
Các quyền về tài sản.
10
Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân thì tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm cả
Chủ doanh nghiệp nếu là doanh nghiệp tư nhân
•
Các thành viên công ty nếu là công ty
•
Ngân sách nhà nước nếu là doanh nghiệp nhà nước.
5. Về thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Quyết định giải quyết khiếu nại của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản được
ban hành trong quá trình giải quyết vụ phá sản có tuyên rõ nghĩa vụ thi hành của
đương sự được thi hành theo quy định tại Luật Phá sản, Nghị định 67/2006/NĐ-CP
ngày 11/7/2006 của Chính phủ “hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh
nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản” và Điều 138
Luật Thi hành án dân sự. Trong trường hợp này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự không ra quyết định thi hành án, mà Chấp hành viên và Tổ quản lý, thanh lý tài sản
11
căn cứ quyết định của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản để tổ chức thi hành.
Trường hợp đương sự không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên (Tổ trưởng tổ
quản lý, thanh lý tài sản) có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại điểm i khoản 2 Điều 21 Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của
Chính phủ và khoản 8 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp có khiếu nại đối với quyết định cưỡng chế thi hành án của Chấp
hành viên thi giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
III/ Nhận xét, hoàn thiện pháp luật phá sản và các quy định pháp luật có
Đồng thời, những doanh nhân làm việc thất bại phải phá sản còn bị những luật
định chế tài rất khắt khe. Theo pháp luật hiện hành, chủ doanh nghiệp phá sản và
những người quản lý doanh nghiệp đó sẽ bị tòa quyết định không được quyền thành
lập, và cấm đảm nhiệm các chức vụ quản lý doanh nghiệp từ 1 – 3 năm, kể từ ngày
doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
Thị trường mua bán nợ không phát triển khiến việc xử lý các khoản nợ (có thế
chấp) khi doanh nghiệp phá sản trở nên rất khó khăn, đặc biệt là khi liên quan đến
nhiều chủ nợ.
Hoạt động phá sản theo luật định là một công cụ sàng lọc doanh nhân, hạn chế
những doanh nghiệp quá yếu kém. Vì các doanh nghiệp này tiếp tục chiếm dụng vốn,
làm cho nợ xấu tăng lên. Nếu công cụ tuyển chọn này được hoàn thiện thì hoạt động
kinh doanh tại Việt Nam sẽ có nhiều khởi sắc hơn. Theo TS Lê Đăng Doanh, vấn đề
phá sản của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cần được nhìn nhận như sau:
“Trong nền kinh tế thị trường, việc phá sản là một hiện tượng bình thường. Trong kinh
tế học, người ta coi phá sản là một sự tàn phá sáng tạo. Tức là những doanh nghiệp
nào có ông chủ kém, đã có đầu tư sai và không có khả năng kinh doanh nữa thì doanh
nghiệp đó sẽ phải làm thủ tục phá sản; để cho có một ông chủ khác có năng lực hơn
được thực hiện…”
Phá sản luôn là một giải pháp cần thiết trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, vì
đây là cách tái phân bổ nguồn lực từ chỗ không còn hiệu quả sang chỗ có hiệu quả
hơn. Trong thực tế, những doanh nghiệp mất khả năng chi trả nhưng không áp dụng
được thủ tục phá sản sẽ làm tăng thêm rủi ro cho nền kinh tế vốn nhiều trì trệ hiện nay.
Nhưng điều quan trọng là Luật Phá sản phải được sửa sao để các doanh nghiệp
lâm vào cảnh phá sản coi đây là lối thoát, là phương thức tốt nhất cho họ giải quyết nợ
nần và bảo vệ quyền lợi của họ. Luật cũng phải cho doanh nghiệp thấy, khi không còn
khả năng trả nợ đến hạn mà không tuyên bố phá sản thì các khoản nợ này cứ ngày một
13
trường một cách có trật tự, lành mạnh.
14
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế khó khăn hiện nay thì các chủ doanh nghiệp khó có thể thoát
khỏi tình trạng làm ăn thua lỗ, thất thoát, dẫn tới phải chấm dứt hoạt động doanh
nghiệp của mình. Lựa chọn bất cứ loại hình nào cũng có những mặt hạn chế và tích
cực nhất định. Thủ tục của từng hình thức là khác nhau, các chủ doanh nghiệp có thể
lựa chọn cho doanh nghiệp của mình một loại hình thích hợp nhất. Bài làm của nhóm
còn nhiều thiếu sót mong thầy, cô và các bạn góp ý.
15