LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ khi thành lập cộng đồng Châu Âu, chính sách cạnh tranh được coi như một
công cụ quan trọng để thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trong khối. Bởi
vì cạnh tranh hữu hiệu là yếu tố cơ bản kích thích đổi mới, tăng năng suất lao động qua đó
nâng cao mức sống của người dân. Được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiệp ước Rome, các
quy định về cạnh tranh tiếp tục được quy định và phát triển trong các Hiệp ước sau cũng
như trong hệ thống pháp luật châu Âu.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. LUẬT CẠNH TRANH CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU – NHỮNG VẤN
ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
1. Đối tượng điều chỉnh.
Luật cạnh tranh của EU dựa trên các mục tiêu chủ yếu của cộng đồng châu âu là
phát triển hài hòa và cân đối giữa các nền kinh tế trong cộng đồng, tạo ra một thị trường
chung thống nhất trong toàn cộng đồng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Việc có
đạt được các mục tiêu này hay không lại phụ thuộc vào phần lớn hoạt động của các doanh
nghiệp. Chính vì vậy, luật cạnh tranh của EU trước hết phải nhằm vào kiểm soát các doanh
nghiệp với việc quy định về các hành vi như lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, kiểm sát
việc sáp nhập, liên kết các doanh nghiệp...
Đối tượng điều chỉnh của luật cạnh tranh còn là các quốc gia thành viên EU. Các
chính phủ thành viên không được đặt ra hoặc duy trì các biện pháp nhằm hạn chế một
trong ba nguyên tắc tự do cơ bản của liên minh : tự do lưu thông hàng hóa, tự do di chuyển
và tự do cung cấp dịch vụ. Chính sách cạnh tranh của EU còn kiểm soát chặt chẽ các
khoản trợ cấp của nhà nước dành cho các xí nghiệp của mình, để ngăn chặn xu hướng
chính phủ các nước thông qua thông qua các khoản trợ cấp hay những đặc quyền nào đó
bù đắp cho các công ty độc quyền.
Ngoài ra, trong các lĩnh vực cụ thể (13 lĩnh vực), luật cạnh tranh của Liên minh còn
có những quy định điều chỉnh cụ thể như Quy định (EEC) số 1017/68 áp dụng các quy tắc
cạnh tranh trong vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ và đường thủy nội địa; Quy định
(EEC) số 3975/87 thủ tục áp dụng các quy tắc về cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong
ngành vận tải hàng không...
2. Nguồn của pháp luật cạnh tranh EU.
* Các điều kiện cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật của liên minh
châu âu
+ Điều kiện liên quan đến các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Khoản 1 điều 81 hiệp định Rome đã quy định rất rõ rằng các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
2
do các doanh nghiệp tiến hành. Do đó, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội như bảo
hiểm xã hội ...không thuộc đối tượng điều chỉnh của điều luật này.
+Điều kiện liên quan đến đối tượng của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Điều kiện này bao gồm các yếu tố:
- Phải có một thỏa thuận. Theo khoản 1 điều 81 thì thỏa thuận gồm ba dạng sau:
Thỏa thuận thông thường; Quyết định liên kết doanh nghiệp và các thỏa thuận khác.
- Thỏa thuận đó phải có đối tượng hoặc hậu quả hạn chế cạnh tranh.
* Về cơ chế miễn trừ
Trong Luật cạnh tranh EU có hai trường hợp được miễn trừ như sau:
a. Miễn trừ từng trường hợp.
+ Điều kiện tích cực : Thứ nhất thỏa thuận đó phải phát sinh hậu quả tích cực đối với
thị trường. Ví dụ thỏa thuận chuyên môn hóa, thỏa thuận hợp tác và thỏa thuận nghiên cứu
chun; Thứ hai thỏa thuận đó phải dành cho người tiêu dùng một phần thích đáng của các
hệ quả tích cực này.
+ Điều kiện tiêu cực: Thứ nhất thỏa thuận đó không được gây ra những hạn chế không cần
thiết để đạt được những hiệu quả tích cực. Một thỏa thuận mà sản sinh ra những hậu quả
vượt quá giới hạn cần thiết để đạt được mục tiêu tích cực thì không thể được xem xét miễn
trừ.; Thứ hai thỏa thuận đó không được có mục đích loại bỏ cạnh tranh trên thị trường liên
quan.
Thỏa thuận đó phải được thông báo đến ủy ban trước khi các bên muốn thực hiện (chế độ
tiền kiểm)
b. Miễn trừ theo danh sách
Theo ủy quyền của Hội đồng châu âu, Ủy ban châu âu được phép ban hành danh mục các
thỏa thuận được miễn trừ.
Các nghị định do Ủy ban châu âu ban hành đã quy định các thỏa thuận giữa các doanh
hợp khác nữa như hành vi từ chối cung cấp hàng, cấm đối tác không được nhập hàng của
doanh nghiệp khác hay xuất hàng cho các doanh nghiệp khác…
Muốn xác định vị trí thống lĩnh thì phải xác định những yếu tố sau:
+ Xác định thị trường liên quan: Thị trường sản phẩm hoặc thị trường kinh tế liên
quan được định nghĩa theo “ khả năng có thể thay thế được” của sản phẩm liên quan do
những đặc tính giá cả và tính năng sử dụng.
+ Xác định vị trí thống lĩnh trên thị trường: Muốn xác định vị trí thống lĩnh trên thị
trường phải dựa trên những yếu tố khác nhau như thị phần (nếu thị phần quá thấp thì
không thể nói đến vị trí thống lĩnh ví dụ trong vụ Métro, Tòa tư pháp liên minh châu âu đã
kết luận rằng thị phần 5 đến 10 % tự nó đã loại bỏ khái niệm vị trí thống lĩnh), Các yếu
4
tố khác (cấu trúc của doanh nghiệp hoặc thị trường, sự khác nhau về tầm vóc giữa một
doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh) . G i ống như nội luật, luật cạnh tranh EU không
chấp nhận khái niệm nhóm doanh nghiệp có vị trí độc quyền vì trong trường hợp này nó
thiên về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hơn là lạm dụng vị trí thống lĩnh
3.3. Tập trung kinh tế .
Tập trung kinh tế là “ sự kết hợp của nhiều doanh nghiệp độc lập thành một thực thể
lớn hơn””. Hiệp định ECSC 1951 đã đưa ra các tiêu chí để xác định một vụ tập trung kinh
tế: chủ thể có thể là doanh nghiệp, cá nhân và hình thức sáp nhập, mua lại cổ phần, cổ
phiếu. Và cho đến năm 1989, ủy ban châu âu mới ban hành Nghị định số 4064/89. Theo
đó, tập trung kinh tế được định nghĩa theo các tiêu chí:
- Hai hay nhiều doanh nghiệp độc lập sáp nhập
- Một hoặc nhiều người đã nắm giữ quyền kiểm soát ít nhất là một doanh nghiệp hoặc
nhiều doanh nghiệp thông qua góp vốn hoặc mua cổ phần để có được quyền kiểm soát tòa
bộ hoặc một phần doanh nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
* Thủ tục kiểm soát TTKT
Việc tập trung kinh tế được tiến hành theo một thủ tục được quy định rất chặt chẽ từ
khâu hỏi ý kiến của Uỷ ban châu Âu ( Uỷ ban châu Âu sẽ một trong các quyết định từ chối
cho phép tập trung; quyết định mở thủ tục; quyết định cho phép TTKT ngay) đến mở thủ
tục, công bố quyết định, khiếu kiện.