A- MỞ ĐẦU
Trong tố tụng hình sự,hoạt động xét xử của Tòa án bao giờ cũng được
coi là giai đoạn trọng tâm, quan trọng nhất. Vì thế các bản án, quyết định của
Tòa án dù đã có hiệu lực hay chưa có hiệu lực pháp luật thì tính đúng pháp
luật, tính nghiêm minh và kịp thời vẫn là yếu tố quan trọng nhất bảo đảm hiệu
quả của cả quá trình tố tụng nói chung và của giai đoạn xét xử nói riêng.
Xét xử phúc thẩm trong vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng do pháp luật
quy định nhằm kiểm tra tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm;
thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ kiểm tra tính hợp
pháp và tính có căn cứ của bản án,của quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo,kháng nghị và trong quá trình xét xử lại vụ án có khả
năng phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm và khắc
phục, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Nhận thức được tầm quan trọng đó của Tòa án trong quá trình xét xử phúc
thẩm,em xin chọn đề tài: “Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm”.
1
B-NỘI DUNG
I. Khái quát về xét xử phúc thẩm.
1. Tính chất của xét xử phúc thẩm.
Để làm rõ thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm, cần nhận thức đúng đắn
về tính chất của phúc thẩm bởi chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Điều
230 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “ phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực
tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ
thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay kháng
nghị”. Theo quy định này việc xét xử phúc thẩm phát sinh khi có kháng cáo
hoặc kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm
bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định và có thể xem xét lại một
của tòa án cấp phúc thẩm được thể hiện ở quyền quyết định của tòa án cấp
phúc thẩm.
Như vậy thẩm quyền của tòa án cấp phúc thẩm gồm thẩm quyền xét xử
phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm và thẩm quyền quyết định của tòa án cấp
phúc thẩm.
II. Thẩm quyền của Toàn án cấp phúc thẩm.
1. Thẩm quyền và phạm vi xét xử phúc thẩm của Tòa án.
a) Về thẩm quyền xét xử:
4
Về thẩm quyền xét xử phúc thẩm, theo Điều 20, Điều 28 Luật tổ chức tòa
án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự năm 2002, Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2003 thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm được quy định cho
những tòa án sau:
+ Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền
xét xử phúc thẩm các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật của tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh bị
kháng cáo, kháng nghị. Về hình sự, thẩm quyền xét xử phúc thẩm được giao
cho tòa chuyên trách hình sự của tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
+ Tòa án cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các vụ án mà
bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án quân sự khu
vực bị kháng cáo, kháng nghị.
+ Các tòa phúc thẩm TANDTC có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các vụ
án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân
5
nghị mà có quyền xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Khi xem xét nội dung của kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm có
quyền chấp nhận như nội dung của kháng cáo, kháng nghị và cũng có thể xử
trái ngược với nội dung của kháng cáo, kháng nghị. Đó là trường hợp Viện
kiểm soát kháng nghị, người bị hại kháng cáo yêu cầu theo hướng tăng nặng
7
nhưng có căn cứ thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng
điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại.
Đối với các phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án
cấp phúc thẩm chỉ xem xét khi không làm xấu tình trạng của bị cáo và không
gây bất lợi cho những người tham gia tố tụng.
Với nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm,
Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện và khắc phục những sai sót của Tòa án cấp
dưới. Đó là những sai sót trong trường hợp sau:
1. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
2. Điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
3. Áp dụng không đúng Bộ luật Hình sự.
4. Xử lý vật chứng, quyết định bồi thường thiệt hại, tính án phí không đúng.
2. Thẩm quyền quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
Thẩm quyền quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện ở việc khi xét
lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm, Tòa án có quyền quyết định các vấn đề cụ
8
thể của vụ án sau khi đã xem xét toàn bộ vụ án. Thẩm quyền quyết định của
Tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại khoản 2 điều 248 Bộ luật TTHS 2003,
nhưng không ra quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm vì có lý do sửa hay hủy
10
bản án này. Ví dụ, trong một vụ án đồng phạm, hội đồng xét xử bác kháng nghị
tăng nặng hình phạt đối với bị cáo A (tức là A vẫn được giữ nguyên hình phạt
như trong bản án của tòa sơ thẩm) nhưng lại giảm hình phạt đối với bị cáo B
không có kháng cáo. Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 248 thì tòa án
cấp phúc thẩm khi không chấp nhận kháng cáo kháng nghị thì phải quyết định
giữ nguyên bản án, nhưng theo quy định về phạm vi xét xử của tòa án cấp phúc
thẩm tại Điều 241 – BLTTHS thì tòa án cấp phúc thẩm có thể được xem xét
các phần khác không được kháng cáo kháng nghị của bản án. Vì thế, theo em,
Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có quyền không chấp nhận kháng nghị, kháng cáo
đồng thời vẫn có thể quyết định sửa bản án, hủy bản án để điều tra lại hoặc hủy
bản án và đình chỉ vụ án đối với những phần khác của bản án không bị kháng
nghị, kháng cáo nếu có căn cứ pháp luật.
b. Sửa bản án sơ thẩm.
Sửa bản án sơ thẩm là việc tòa án cấp phúc thẩm làm thay đổi nội dung của bản
án sơ thẩm trong những trường hợp luật định. Theo quy định tại Điều 249 –
11
BLTTHS năm 2003 thì tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo
hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo.
-Sửa bản án có lợi cho bị cáo
Theo Khoản 1, 2 của Điều 249 BLTTHS năm 2003 thì khi sửa bản án theo
hướng có lợi cho bị cáo, tòa án cấp phúc thẩm không bị phụ thuộc vào nội
dung của kháng nghị, kháng cáo. Tòa án có quyền sửa bản án theo hướng có lợi
nghị theo hướng có lợi cho bị cáo, thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể y án sơ
thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo. Việc tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo chỉ áp dụng với
những bị cáo bị kháng nghị, kháng cáo mà không áp dụng đối với bị cáo không
bị kháng cáo, kháng nghị. BLTTHS quy định như trên để đảm bảo hiệu lực của
chế định kháng cáo, kháng nghị, bảo đảm tính ổn định của bản án sơ thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị cũng như quyền và lợi ích của bị cáo và thực
hiện đúng nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự là “không làm xấu hơn tình
trạng của bị cáo”.
c. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
Hủy bản án sơ thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm quyết định phủ nhận
hoàn toàn kết quả xét xử ở cấp sơ thẩm với các lý do khác nhau và vì những
mục đích khác nhau. Trong quy định tại Điều 250 – BLTTHS thì việc hủy bản
án sơ thẩm để điều tra lại có những lý do sau đây:
14
Thứ nhất, tòa án cấp phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại nếu
“nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không
thể bổ sung được”. Theo đó, tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ
thẩm để điều tra lại khi hội tụ đủ hai điều kiện là: Việc điều tra ở cấp phúc
thẩm không đầy đủ và cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Song, các văn
bản hướng dẫn hiện nay không giải thích rõ thế nào là điều tra không đầy đủ.
Nên qua thực tiễn thi hành, ta có thể hiểu, điều tra không đầy đủ mà tòa án cấp
phúc thẩm không thể tự bổ sung là hồ sơ vụ án thiếu những yếu tố thuộc đối
tượng chứng minh bắt buộc của vụ án như các chứng cứ có tình tiết định tội, gỡ
tội, xác định các tình tiết ảnh hưởng đến hình phạt. Hiện nay, nếu phát hiện
không đúng xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện .”.
Trên thực tế, những trường hợp tòa án cấp phúc thẩm cho là tòa án cấp sơ
thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng có thể là: Xét xử sai thẩm quyền,
không có người bào chữa trong những trường hợp luật quy định bắt buộc phải
có, xét xử vắng mặt bị cáo không đúng các trường hợp luật định…
d. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 251 – BLTTHS quy định: “Khi có một trong những căn cứ quy
định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 107 của Bộ luật này thì Tòa án cấp phúc thẩm
hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án; nếu có
17
một trong những căn cứ quy định tại điểm 3, 4, 5, 6 và 7 của Điều 107 của Bộ
luật này thì hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”.
Theo đó, tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án khi
có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều
107 – BLTTHS. Đó là những căn cứ: Không có sự việc phạm tội; hành vi phạm
tội không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã
có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
Trong những căn cứ trên, chỉ có căn cứ “không có sự việc phạm tội ” hoặc
“hành vi không cấu thành tội phạm” thì tòa án cấp phúc thẩm mới hủy bản án
sơ thẩm tuyên bố bị cáo vô tội và đình chỉ vụ án. Vì đối với hai căn cứ này, bị
cáo đã bị kết tội oan vì không có sự việc phạm tội xảy ra hoặc tội có thực hiện
nhưng hành vi đó không cấu thành tội phạm mà vẫn bị tòa án cấp sơ thẩm kết
đến giai đoạn xét xử phúc thẩm mà tình trạng định tội danh sai không phải là
hiếm. Lỗi này của tòa án cấp phúc thẩm là do những người tiến hành tố tụng
không nắm chắc yếu tố cấu thành tội phạm.
-Áp dụng hình phạt quá nhẹ.
-Áp dụng quy định về án treo không đúng những căn cứ của pháp luật.
-Vi phạm thủ tục tố tụng hình sự.
Hàng năm lượng đơn từ, khiếu nại đề xuất việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật gửi tới các cơ quan có thẩm
quyền vẫn còn nhiều và xu hướng là năm sau cao hơn năm trước và thực tế là số
đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định phúc thẩm
chiếm đa số và được gửi tới tòa án nhân dân tối cao để xem xét giải quyết. Điều
đó cho thấy chất lượng xét xử phúc thẩm vẫn còn chưa thực sự đảm bảo trong
nhiều trường hợp.
2. Hoàn thiện quy định về tính chất của phúc thẩm.
20
Theo điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự thì tính chất của phúc thẩm là việc
Tòa án cấp trên xem xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật kháng cáo hoặc kháng nghị. Nhưng không phải cứ kháng cáo,
kháng nghị thì cho toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật. Điều 237 Bộ luật tố tụng hình sự( hậu quả của việc kháng cáo, kháng
nghị) thì chỉ những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị mới chưa được
đưa ra thi hành. Sở dĩ phần này chưa được đưa ra thi hành là do bị kháng cáo,
kháng nghị trong thời gian này chưa có hiệu lực pháp luật. Đối với các phần
khác nhau của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật
và được thi hành. Quy định như Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành dễ
dẫn đến sự hiểu sai về tính chất của phúc thẩm là khi có kháng cáo, kháng nghị
dù chỉ một phần của bản án sơ thẩm thì toàn bộ bản án đó cũng chưa có hiệu lực
thẩm cần phải xem xét để giải quyết vụ án toàn diện.
Về mặt hình sự, nếu chỉ cho phép Tòa án được giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho những bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị. Kháng cáo thì
những trường hợp cần xác định bị cáo vô tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt…cho bị cáo sẽ không được giải quyết.
Về mặt dân sự tuy không có kháng cáo, kháng nghị nhưng có nhiều vấn
đề phải được xem xét và giải quyết thỏa đáng thì bản án mới có sức thuyết phục
và được nhân dân đồng tình
Mặt khác trong điều 241 có cụm từ “nếu xét thấy cần thiết” thiết nghĩ là
chưa chặt chẽ, gây khó khăn cho việc áp dụng. Nó cần được sửa đổi theo hướng
ghi rõ những trường hợp nào thì Toàn án cấp phúc thẩm được quyền xét xử các
phần không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án.Có như vậy, việc áp dụng luật
22
mới thống nhất và phát huy được hiệu quả của xét xử phúc thẩm. Điều 241 Bộ
luật tố tụng hình sự có thể được quy định lại như sau:
“1. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Đối với những phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án
cấp phúc thẩm phải xem xét khi có căn cứ để sửa hoặc hủy bản án theo hướng có
lợi về mặt hình sự cho bị cáo có liên quan đến quyết định của phần bản án bị
kháng cáo, kháng nghị; xem xét quyết định xử lý vật chứng, án phí nếu trái pháp
luật”.
4. Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm.
Có thể nhận thấy rằng việc những cơ quan tố tụng không làm hoặc làm
không đúng với quy định của pháp luật ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của
vụ án hoặc xâm phạm đến quyền tố tụng, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố
tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. BLTTHS chỉ cần quy định các tiêu
chí đê xem xét một vi phạm thủ tục tố tụng có phải là nghiêm trọng hay không
4. Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002.
5. Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988 hướng dẫn bộ
luật tố tụng hình sự do Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao ban hành
6. Vũ Văn Huyên – thẩm quyền của các cấp tòa án trong Tố tụng Hình sự - Luận án
tiến sĩ – năm 2003.
7. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam-Bộ tư pháp-XNB Chính trị
quốc gia
24