Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp - Pdf 34

MỤC LỤC
A – ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................................................2
B – NỘI DUNG.........................................................................................................................................2
1. Một số vấn đề lí luận về hôn nhân một vợ một chồng....................................................................2
1.1 Thế nào là hôn nhân một vợ một chồng...................................................................................2
1.2 Nguyên nhân của việc quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng......................................3
1.3 Ý nghĩa của việc quy định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.........................................4
2. Thực trạng vi phạm hôn nhân một vợ một chồng..........................................................................5
2.1 Các trường hợp vi phạm trong thực tế.....................................................................................5
3. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục..............................................................................................9
C – KẾT LUẬN........................................................................................................................................14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................15

1


A – ĐẶT VẤN ĐỀ
Cha ông ta có câu: Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn. Tình
cảm vợ chồng là một thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý. Vợ chồng sống hòa
thuận, yêu thương, có thủy có chung với nhau là một trong những đặc trưng
phản ánh giá trị của hôn nhân và gia đình. Có thể nói, hôn nhân gia đình theo
nguyên tắc một vợ một chồng vừa có ý nghĩa quan trọng về mặt lí luận pháp lí,
vừa có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội nhân văn, thể hiện sự tiến bộ trong tư
duy và nhận thức. Tuy nhiên hiện nay, khi xã hội càng phát triển thì dường như
hiện tượng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng ngày càng trở
phổ biến và trở thành một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội. Vậy thì, nguyên
nhân là do đâu? Cần làm gì để tháo bỏ những nút thắt tiêu cực trên? Xuất phát từ
mục đích đó mà nhóm chúng tôi đã tập trung khai thác đề tài: Vi phạm nguyên
tắc hôn nhân một vợ một chồng - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.

B – NỘI DUNG

mà không chung sống công khai không được coi là chung sống như vợ chồng.
Theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thì hành vi chung sống như vợ
chồng giữa những người đang có vợ hoặc có chồng với người khác hoặc ngược
lại, những người đang không có vợ, có chồng mà chung sống với người đang có
vợ hoặc có chồng là chung sống trái pháp luật vì đã vi phạm nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng.
Như vậy, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng mang tính bắt buộc hai
chiều đối với cả hai bên chủ thể tham gia quan hệ. Nguyên tắc này không chỉ đặt
ra với những người đang có vợ, có chồng mà còn yêu cầu cả những người chưa
có vợ, có chồng phải tuân thủ. Có như vậy thì mới đảm bảo nguyên tắc này được
thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả trong thực tế.
1.2 Nguyên nhân của việc quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Thứ nhất, hôn nhân một vợ một chồng lấy tình yêu giữa nam và nữ làm cơ
sở xác lập hôn nhân; và tình yêu giữa vợ và chồng là cơ sở duy trì quan hệ hôn
nhân nên đây cũng là quy định nhằm hướng hôn nhân đi tới sự bền vững, ổn
định, hạnh phúc của gia đình. Ăngghen đã từng khẳng định: Vì bản chất của
3


tình yêu là không thể chia sẻ...cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam và
nữ do ngay bản chất của nó, là hôn nhân một vợ một chồng.
Thứ hai, quy định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và coi đó là
nguyên tắc hiến định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam cũng thể hiện
được bản chất tiến bộ của hôn nhân XHCN. Trước đây, pháp luật phong kiến
Việt Nam duy trì chế độ đa thê. Bộ dân luật Bắc Kì quy định người đàn ông có
quyền lấy nhiều vợ (Điều 79, 80). Pháp luật của nhà nước tư sản về hình thức
cũng quy định hôn nhân theo nguyên tắc một vợ một chồng, nhưng trong thực
tế, nguyên tắc đó đã bị phá vỡ do tệ ngoại tình và nạn mãi dâm công khai. Như
vậy, khi xét về bản chất, hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ cộng
thê.

Xây dựng chế độ hôn nhân một vợ một chồng tiến bộ đã thay thế chế độ
đa thê trong xã hội phong kiến trước đây và xóa bỏ gần như hoàn toàn những
hủ tục, tôn giáo lạc hậu như: trai tài năm bảy vợ,... vẫn còn tồn tại trong xã hội,
đặc biệt là trong đời sống của đồng bào dân tộc miền núi lạc hậu và ở những
vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, việc quy định hôn nhân phải theo nguyên tắc một vợ một
chồng cũng góp phần giải phóng người phụ nữ khỏi ách thống trị của chế độ gia
trưởng và những hủ tục lạc hậu, giúp cho việc giải quyết một cách triệt để các
tranh chấp về nhân thân và tài sản trong các tranh chấp vê hôn nhân,...
2. Thực trạng vi phạm hôn nhân một vợ một chồng
2.1 Các trường hợp vi phạm trong thực tế
Hôn nhân một vợ một chồng đã được xây dựng thành một trong những
nội dung của nguyên tắc hiến định về hôn nhân và gia đình và được Luật hôn
nhân và gia đình 2000 khẳng định là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và
gia đình. Tuy nhiên trên thực tế, hiện tượng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng vẫn xảy ra, biểu hiện ở các trường hợp ngoại tình, ở hiện tượng
những người đã có vợ, có chồng chưa ly hôn nhưng đã chung sống với người
khác như vợ chồng. Những hiện tượng này không phải là hiếm gặp mà ngày
càng trở nên phổ biến ở nhiều địa phương và ngoại tình đã trở thành nguyên
nhân chính của nhiều cuộc li hôn. Trong công tác xét xử của Toà Án Nhân Dân
5


thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh năm 2009 cho thấy số vụ ly hôn vì ngoại
tình là 36 vụ trên tổng số 323 vụ ly hôn, chiếm 11%.
Theo số liệu tìm hiểu được, năm 2000 ở Hà Nội có 152 trường hợp vi
phạm nguyên tắc hôn nhân 1 vợ 1 chồng; Kiên Giang là 1.450 trường hợp
và ở Thành Phố Hồ Chí Minh con số này lên tới 4.418 trường hợp. Đặc biệt
tại các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có dân trí thấp thì tình
trạng đa thê đa thiếp vẫn còn tồn tại ở thế kỷ 21.

hợp cấm kết hôn tại điều 10 Luật HN&GĐ. Do đó, việc kết hôn giữa những
người đang có vợ hoặc đang có chồng với người khác là vi phạm nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng.
- Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ, chồng với người
khác.
Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ không có đăng kí kết hôn
nhưng về chung sống với nhau như vợ, chồng. Việc chung sống với nhâu như vợ
chồng với người đang có vợ, có chồng trong trường hợp này bao gồm: những
người đang có vợ, có chồng cùng chung sống với nhau như vợ, chồng (cả hai
bên đều trong tình trạng đang có vợ, có chồng); người đang có vợ, có chồng,
chung sống với người chưa có vợ, có chồng (chỉ một bên chung sống là người
đang có vợ, có chồng). Việc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ
hoặc có chồng bất kể là công khai hay không công khai thì đều là vi phạm
nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Thứ hai, nam nữ chung sống như vợ chồng, được coi là có quan hệ vợ
chồng nhưng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng được công nhận là có quan hệ vợ
chồng khi mà cả hai bên nam, nữ chung sống dựa trên cở sở tình yêu thương,
muốn chăm sóc, giúp đỡ nhau và thực sự mong muốn thành vợ chồng, cùng
nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc; đồng thời họ đã chung sống công
khai, cùng nhau thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau như vợ chồng và
được họ hàng, xã hội sung quanh thừa nhận là vợ chồng.
Theo quy định của luật HN&GĐ, người đang chung sống như vợ chồng
được coi là có quan hệ vợ chồng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng khi họ kết hôn hoặc lại chung sống như vợ, chồng với người thứ ba. Bởi

7


vì, mặc dù trong quan hệ đầu tiên, giữa nam và nữ chỉ chung sống như vợ chồng

Thứ hai, khi người có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định huỷ kết hôn trái
pháp luật hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng đối với quan hệ nam nữ, toà
án sẽ không ra quyết định ngay mà sẽ tiến hành công tác điều tra xem quan hệ
đó có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng hay không? Tuy nhiên
quá trình điều tra, xác minh gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Do tính chất
của việc vi phạm là quan hệ riêng tư, mang tính tình cảm, cá nhân nên các quan
hệ này thường ít bộc lộ ra bên ngoài. Bên cạnh đó, các đương sự thường có tâm
lý muốn che giấu, e ngại phần vì sợ dư luận xã hội, muốn giữ cho gia đình yên
ấm, con cái hoà thuận, phần vì xấu chàng thì hổ ai.
Thứ ba, trong công tác xét xử còn mềm dẻo, không mang tính răn đe đối
với các trường hợp vi phạm. Điều 147 – Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung
năm 2009 quy định mức hình phạt cao nhất đối với các trường hợp vi phạm chế
độ hôn nhân một vợ một chồng có thể lên đến ba năm tù. Tuy nhiên, trong thực
tế thì hầu như không có trường hợp nào bị xử phạt tù, các hình phạt chỉ dừng lại
ở mức phạt tiền và buộc chấm dứt quan hệ phạm pháp đó.
3. Nguyên nhân và giải pháp khắc phục
3.1 Nguyên nhân
Việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng xuất phát từ nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu như:
Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng không phải vì tình yêu mà là vì
một mục đích khác. Hiện nay, có nhiều trường hợp các đôi nam nữ kết hôn hoặc
chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không phải vì tình yêu mà là vì một
mục đích khác như: do cha mẹ, họ hàng hai bên ép buộc; vì tài sản; vì muốn có
một cuộc sống vật chất đầy đủ... Có những cô gái do muốn tìm một cuộc sống
đầy đủ hơn mà đã chấp nhận là vợ hờ của các đại gia. Do không xuất phát từ
tình yêu thương thực sự và mong muốn được cùng nhau xây dựng gia đình nên
khi chung sống, hai bên dễ gặp phải những mâu thuẫn và do vậy, họ tự tìm đến
với những người khác.

9

10


Thứ nhất, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật hôn nhân và gia đình một
cách sâu rộng đối với mọi đối tượng, đặc biệt là các vùng nông thôn và vùng
núi.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chỉ có thể phát huy được hiệu
quả điều chỉnh khi được tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi
người dân tuân thủ một cách triệt để. Muốn vậy, việc phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục Luật hôn nhân và gia đình phải được tiến hành nghiêm túc tới mọi đối
tượng. Luật hôn nhân và gia đình cần sớm được đưa vào trong chương trình giáo
dục ở phổ thông. Tuy nhiên cần chú ý việc giáo dục pháp luật đối với những đối
tượng này phải đồng thời với việc giáo dục đạo đức, truyền thống trong gia đình.
Việc tuyên truyền, phổ biến Luật hôn nhân và gia đình cần được tiến hành song
song với việc vận động nhân dân đấu tranh chống lại những tàn dư của chế độ
hôn nhân và gia đình phong kiến, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, tự
giác chấp hành những quy định của Luật.
Thứ hai, bên cạnh những quy phạm pháp luật, sử dụng những chuẩn mực
đạo đức và dư luận xã hội cũng là một trong những biện pháp ngăn chặn hiện
tượng này của xã hội.
Từ xưa đến nay, xã hội luôn lên án gay gắt tình trạng vi phạm hôn nhân
một vợ một chồng và cho đó là hiện tượng cần bài trừ trong xã hội. Do vậy, có
thể sử dụng dư luận xã hội như một kênh thông tin để có thể vận động, tuyên
truyền chống vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, đồng thời qua đó
phát hiện được các trường hợp vi phạm để kịp thời xử lí.
Giải pháp về mặt pháp lí
Để có thể chấm dứt hoàn toàn tình trạng vi phạm nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng, không chỉ cần có các biện pháp về mặt xã hội như vận động,
tuyên truyền,... mà còn cần phải sử dụng cả những biện pháp cưỡng chế. Do vậy,
hoàn thiện những quy định của pháp luật về nội dung này cũng là một trong

này phải có những phẩm chất, năng lực và kinh nghiệm cần thiết.
Thứ ba, việc xử lý đối với những hành vi vi phạm nguyên tắc chế độ hôn
nhân một vợ một chồng cần được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nghiêm

12


túc, kịp thời và đúng pháp luật để phát huy tác dụng giáo dục ý thức tuân thủ
pháp luật hôn nhân và gia đình.
Mục đích của những biện pháp xử lý không phải là trừng phạt, bắt người
vi phạm phải chịu chế tài của pháp luật mà nhằm giáo dục đối với người có hành
vi phạm tội hay vi phạm pháp luật để họ không tiếp tục vi phạm pháp luật, đồng
thời giáo dục những cá nhân khác có ý thức tôn trọng pháp luật, từ đó không
phạm tội hay không vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Có như vậy, pháp
luật mới phát huy hết tác dụng và chức năng của mình đó là răn đe, ngăn chặn
các hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng trong tương lai. Từ
đó nâng cao ý thức của người dân trong việc tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc
hôn nhân một vợ, một chồng.
Thứ tư, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng một đội ngũ cán bộ
tư pháp, Thẩm phán có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu giải quyết kịp
thời, chính xác các tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Hoạt động của các cán bộ tư pháp và Thẩm phán là những khâu rất quan
trong việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Họ vừa là
người thay mặt Nhà nước kiểm soát việc thực hiện các quan hệ hôn nhân và gia
đình trong xã hội, vừa là người tuân thủ nguyên tắc đó trong quá trình kiểm soát.
Trong tình hình hiện nay, củng cố đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ tư pháp
ở cấp xã và Thẩm phán ở tòa án nhân dân cấp huyện là việc làm cần phải được
chú trọng. Bên cạnh đó, cần có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân dân, bởi họ là người đại diện của nhân dân
tham gia vào hoạt động xét xử tại Tòa án, có quyền ngang với Thẩm phán.

- Nghị quyết 35/2000/NQ – QH 10.
- Nghị định 87/2001/NĐ – CP.
4. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2010, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
5. Khóa Luận tốt nghiệp: Các trường hợp cấm kết hôn – cơ sở lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật, Tô Thị Thu Trang, Người hướng dẫn TS.Nguyễn Văn
Cừ, Hà Nội 2011.
6. Khóa luận tốt nghiệp: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết
các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Trần Thị Thu
Huyền, Người hướng dẫn TS.Nguyễn Phương Lan, Hà Nội 2010.
7. Các website:
www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com
www.diendansinhvienluat.vn

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status