Thực trạng áp dụng và giải pháp nâng cao công tác thực hiện luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam - Pdf 27

Bộ môn Sở hữu trí trong TMQT Nguyễn Thị Việt Hà – lớp KTTG 17B

LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, tài sản trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ đóng vai
trò quan trọng đối với sự nghiệp hội nhập kinh tế với thế giới của Việt
Nam. Tuy nhiên, để phát huy tối đa vai trò đó, cần phải nắm vững nhiều
vấn đề lý luận phức tạp và phải có kỹ năng thích hợp để ứng phó với
những tình huống thực tiễn cụ thể. Xuất phát từ tầm quan trọng của công
tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“ Thực trạng áp dụng và giải pháp nâng cao công tác thực hiện luật sở hữu
trí tuệ tại Việt Nam”
Nhưng do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức và tham khảo tài liệu
nên nhóm em khó có thể tránh được những thiếu sót. Mong thầy thông
cảm và đóng góp ý kiến để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn.
1
Bộ môn Sở hữu trí trong TMQT Nguyễn Thị Việt Hà – lớp KTTG 17B

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất,
buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5
năm (2002-2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa
phương đã phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi
năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn
bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Trong năm 2006,
thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra 20.414 cơ
sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh
cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh
doanh của 160 cơ sở; chuyển xử lý hình sự 09 trường hợp; xử phạt hành
chính 10.891.780.000 đồng. Thanh tra chuyên ngành khoa học và công

của cả nước cũng như từng lĩnh vực, từng ngành, ảnh hưởng đến tài sản,
sức khoẻ và tính mạng con người, tác động đến với cả cộng đồng, triệt
tiêu sức sáng tạo và khiến giới đầu tư e ngại.
2. Những hạn chế trong việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ
Hầu hết các điều khoản đã tương thích với các nội dung tương ứng tại
các điều ước quốc tế song phương và đa phương nhưng Luật SHTT Việt
Nam còn nhiều điểm chưa phù hợp với các đối tượng được đề cập tới
trong Hiệp định TRIPS được bảo hộ như: Thông tin bí mật, chỉ dẫn địa lí,
thiết kế bố trí mạch tích hợp,quyền chống cạnh tranh không lành mạnh…
Chúng ta giải quyết tranh chấp trong SHTT (tính đến nay) chủ yếu được
giải quyết bằng hành chính chiếm trên 90% trong khi đó tỷ lệ giải quyết
tranh chấp SHTT của các quốc gia tiên tiến thì hoàn toàn ngược lại (90%
được giải quyết bằng Toà án).
Số đơn xin cấp bằng sáng chế quá ít, cụ thể như sau:
3
Bộ môn Sở hữu trí trong TMQT Nguyễn Thị Việt Hà – lớp KTTG 17B

Năm
Số đơn giải pháp hữu ích đã được nộp bởi
Người nộp đơn
Việt Nam
Người nộp đơn
nước ngoài Tổng số
1989 25 0 25
1990 39 25 64
1991 52 1 53
1992 32 1 33
1993 38 20 58
1994 34 24 58

2001 17 9 26
2002 21 26 47
2003 28 27 55
2004 44 25 69
2005 41 33 74
2006 45 25 70
2007 49 36 85
4
Bộ môn Sở hữu trí trong TMQT Nguyễn Thị Việt Hà – lớp KTTG 17B

Năm
Số đơn sáng chế đã được nộp bởi
Người nộp đơn Việt
Nam
Người nộp đơn
nước ngoài
Tổng số
1981 - 1988 453 7 460
1989 53 18 71
1990 62 17 79
1991 39 25 64
1992 34 49 83
1993 33 194 227
1994 22 270 292
1995 23 659 682
1996 37 971 1008
1997 30 1234 1264
1998 25 1080 1105
1999 35 1107 1142
2000 34 1205 1239

2005 27 641 668
2006 44 625 669
2007 34 691 725
Qua đó ta thấy bằng độc quyền được cấp của các Doanh nghiệp Việt
Nam là nhiều nhưng chính các doanh nghiệp lại không đăng kí nhãn hiệu
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status