thừa kế theo bộ luật dân sự ở việt nam năm 2005 - Pdf 34

MỤC LỤC
trang

LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................... 5

CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG........................................................6

CHƯƠNG II CÁC KHÁI NIỆM..........................................................................9

CHƯƠNG III THỪA KẾ THEO DI CHÚC..........................................................9

CHƯƠNG IV THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT....................................................11

CHƯƠNG V NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN....12
CHƯƠNG VI THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ..................................................12

CHƯƠNG VII KẾT LUẬN...................................................................................17

CHƯƠNG VIII CÁC TÌNH HUỐNG MINH HỌA..............................................18

CHƯƠNG IX CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................20

1


LỜI MỞ ĐẦU :

 Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn
luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm,theo dõi và bảo hộ. Việt
Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền văn hóa với các truyền
thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác. Do đó đối với người

hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà
án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định
tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này.
 Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không
xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc
phần lớn di sản.
 Di sản
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản
chung với người khác.
 Người thừa kế
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra
và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản
chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ
quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
 Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

3


Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do
người chết để lại.
 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm
vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.
 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ
tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà


4













Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo
yêu cầu của người thừa kế.
Quyền của người quản lý di sản
Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 638 của Bộ luật này
có các quyền sau đây:
Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di
sản thừa kế;
Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế.
Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 638
của Bộ luật này có các quyền sau đây:
Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di
sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;
Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế.
Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời
điểm

Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế:
Điều 635-BLDS 2005 đã qui định " Người thừa kế là cá nhân phải là người còn
sống vào thời điểm mở thừa kế..." Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp
nối về sở hữu tài sản giữa người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản
đương nhiên phải là người còn sống.Việc dịch chuyển di sản từ người chết này
sang người chết khác là không thực hiện được.Tiếp đó là việc người còn sống đó
phải còn sống ở thời điểm mở thừa kế.Có thể người thừa kế đã chết nhưng khi mở
thừa kế thì ông ta còn sống hoặc đã chết hay mất tích nhưng chưa bị tuyên bố là đã
chết hoặc ngày tuyên bố nguời đó chết là sau ngày mở thừa kế, khi đó ông ta việc
chuyển giao di sản cho ông ta vẫn được thực hiện và nó sẽ được tính vào tài sản
của người đó.

CHƯƠNG II
CÁC KHÁI NIỆM
I Khái niệm quyền Thừa Kế:( chương 22-điều 631-645 Bộ luật dân sự )
- Quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm các quy phạm pháp luật
điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc
theo trình tự do pháp luật quy định.
II Di Sản Thừa Kế: (Theo khoản 1 điều 637- bộ luật Dân Sự )
 Di sản thừa kế bao gồm: tài sản riêng, phần tài sản cảu ngưòi chết trong tài sản
chung với người khác, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại
thừa kế.
 Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tên
lúc còn sống. Tài sản chung với ngưòi khác là phần tài sản do lúc còn sống ngưòi
chết đã đồng tao ra cùng chung với một người khác, thì lúc chết phần tài sản đó
cũng được đua vào di sản của ngưòi chết.

CHƯƠNG III
THỪA KẾ THEO DI CHÚC
(Chương 22 – Điều 646 đến Điều 673 – Bộ luật dân sự )

có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người
lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm
chứng; những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và
kí vào bản di chúc. Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng
nhận hoặc uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản di chúc. Di chúc có
hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.
 Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác
nhau, thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích
nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem
xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những
người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc, thì coi như không có di
chúc và di sản được thừa kế theo pháp luật.

7


CHƯƠNG IV
THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
( Chương 24 – Điều 674 đến Điều 680 – Bộ luật dân sự )
I Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp
- Người chết không để lại di chúc.
- Di chúc không hợp pháp.
- Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với
người lập di chúc; cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời
điểm mở thừa kế.
- Những người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc mà không có quyền
hưởng di sản hoặc từ chối hưởng quyền di sản.
II Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực.

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi
ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh
dự, nhân phẩm của người đó.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc
lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần
hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản

Những người này vẫn được hưởng di sản thừa kế nếu người để lại di sản đã
biết các hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di
chúc.

Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước trong trường hợp
không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không
được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực
hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế sẽ thuộc Nhà nước.

CHƯƠNG VI
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
I Nhiều quy định pháp luật còn mâu thuẫn
1 . Thực trạng
Hiện nay, trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xảy ra tình trạng các
luật quy định một nội dung giống nhau nhưng lại không thống nhất với nhau. Việc không
thống nhất giữa quy định của pháp luật dẫn đến khó khăn khi vận dụng vào thực tiễn.

9



Như vậy, có thể thấy rằng với quy định trên, Luật Công chứng đã phủ nhận hoàn toàn
tính hợp pháp của loại hình di chúc miệng và, với quy định đó thì chỉ tồn tại duy nhất một
loại hình di chúc, đó là di chúc bằng văn bản.

2 . Kiến nghị
Từ những phân tích trên cho thấy, giữa các luật quy định về cùng một nội dung đã xảy
ra những sự mâu thuẫn với nhau. Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn đến tình trạng vô hiệu
hóa các quy định pháp luật trong các luật khác nhau, gây ra tình trạng khó áp dụng trong
thực tiễn những quy định của pháp luật. Đây là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng trong
quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính thống nhất và đồng

10


bộ của hệ thống pháp luật hiện nay . Từ đó nhóm tôi có đề xuất là phải làm rõ những quy
định có nội dung tương tự nhau để áp dụng vào thực tiễn cho hợp lí hơn

II Pháp luật còn nhiều vướng mắc
1 . Thực trạng
Chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (có một số sửa đổi, bổ sung so với Bộ
luật Dân sự năm 1995), thì có lẽ do đây là một chế định tương đối cụ thể, rõ ràng nên
hiện nay vẫn chưa có kế hoạch khi đó, việc áp dụng chế định này trong thực tiễn vẫn còn
nhiều vấn đề gây tranh cãi như sau:
 Người thừa kế
Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức. Điều 638 BLDS quy định:
 Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc
sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết.
 Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ
quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế ” .

Điều luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên có nhiều cách hiểu khác nhau trong
quá trình áp dụng. Theo chúng tôi, nên vận dụng quy định của Nghị định 83/1998/NĐ-CP
ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch: đứa trẻ sinh ra và còn sống được 24 giờ rồi chết thì
phải khai sinh và khai tử để từ đó xác định khoảng thời gian được coi là sinh ra và còn
sống của đứa trẻ (24 giờ). Tuy nhiên, điều này cũng cần được ghi nhận rõ ngay trong bộ
luật dân sự.
Thứ ba: Quyền thừa kế của các tổ chức (pháp nhân) đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,
giải thể, phá sản.
- Theo quy định của pháp luật dân sự, các pháp nhân cùng loại có thể bị chấm dứt khi sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách. Nhưng trong những trường hợp này, pháp nhân không chấm
dứt tuyệt đối mà quyền và nghĩa vụ của nó được chuyển giao cho các pháp nhân khác.
Vậy những pháp nhân này có được thừa kế không?
- Pháp nhân cũng có thể bị chấm dứt theo quy định về giải thể hoặc phá sản. Khi này,
pháp nhân chấm dứt “tuyệt đối”. Sau khi pháp nhân chấm dứt, một thời gian sau mới phát
sinh vụ việc tranh chấp thừa kế mà pháp nhân đó được chỉ định là người thừa kế và tại
thời điểm mở thừa kế pháp nhân chưa bị giải thể hoặc phá sản thì ai, cơ quan nào sẽ thay
mặt pháp nhân để nhận di sản hay khi này tài sản được coi là tài sản vô chủ và thuộc về
nhà nước?
- Mặt khác, theo quy định của pháp luật dân sự, pháp nhân đã bị giải thể, bị tuyên bố phá
sản có thể được thành lập lại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy,
trường hợp pháp nhân đó bị giải thể, bị tuyên bố phá sản trước thời điểm mở thừa kế,
nhưng sau thời điểm mở thừa kế lại được thành lập lại thì pháp nhân đó có được quyền
thừa kế di sản không?
 Từ chối nhận di sản:
Điều 645 bộ luật dân sự quy định: ” 1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ
trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với
người khác.2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải
báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, Công
chứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế
về việc từ chối nhận di sản. 3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở

nhận cho họ nhận di sản?
Đây là những vấn đề hết sức bức thiết cần phải sửa đổi, bổ sung trong bộ luật dân sự.
Quan điểm của chúng tôi là: trong trường hợp di sản chưa chia thì cho phép người từ chối
nhận di sản có quyền thay đổi ý kiến; trường hợp di sản đã phân chia thì để bảo vệ quyền
lợi cho những người thừa kế khác, thúc đẩy quan hệ dân sự phát triển, thì không cho phép
người đã từ chối nhận di sản thay đổi ý kiến.
 Về thời hiệu khởi kiện :
“ Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế ” .
Trong thực tiễn, khi áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, có nhiều cách hiểu
khác nhau về vấn đề này, nếu không có hướng dẫn cụ thể sẽ tạo tình trạng áp dụng không
thống nhất khi xét xử các vụ án tranh chấp về thừa kế, đặc biệt là thừa kế quyền sử dụng
đất.
Điều 165 bộ luật dân sự quy định: ” thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày
đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu “. Do đó, quy
định này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

13


Ví dụ: ông A chết hồi 15h00? ngày 1/1/1992. Vậy thời hiệu khởi kiện được tính như thế
nào? Có 2 cách xác định như sau:
Cách thứ nhất: thời hiệu khởi kiện được xác định từ 0h00? ngày 2/1/1992 3 và kết thúc
vào 24h00? ngày 2/1/2002 (ngày 2/1/1992 là ngày đầu tiên tiếp sau ngày xảy ra sự kiện
ông A chết).
Như vậy trong trường hợp này, thời điểm mở thừa kế được tính lùi là 0h00? ngày
2/1/1992. Nếu vậy, những người thừa kế của ông A chết sau 15h00? ngày 1/1/1992 đến
trước 0h00? ngày 2/1/1992 đều không có quyền hưởng di sản của ông A vì không bị coi
là chết trong cùng một thời điểm 4 .
Cách thứ hai: Thời hiệu khởi kiện quyền thừa kế được xác định theo giờ người để lại di
sản chết.


cha con, vợ chồng, anh em gắn bó keo sơn…đã khiến cho không ít người bỏ qua việc
đảm bảo quyền để lại thừa kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc. Bên cạnh đó có
những người đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di
chúc này không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật phân xử hộ
(đưa ra tòa) làm giảm sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có. Do đó,việc nghiên
cứu các chế định về thừa kế nhằm nắm bắt được thực trạng của chế định này trong xã hội
đồng thời có các biện pháp hoàn thiện là rất cần thiết, để mọi công dân điều được đảm
bảo quyền lợi công bằng trong các mối quan hệ về tài sản nói chung và quyền thừa kế nói
riêng....hướng đến công bằng ổn định xã hội...

CHƯƠNG VIII
CÁC TÌNH HUỐNG MINH HỌA

 Tình huống 1:
- Vợ A có hai đưá con riêng .A và vợ A có hai đưá con nữa. nay vợ A mất nhưng
không để laị di chúc.Vâỵ xin hỏi ngôi nhà A đang ở (đứng tên A) nếu bán, có chia tài
sản cho các con riêng của vợ A không ?
- Theo pháp luật về quyền thừa kế thì con riêng và bố dượng và mẹ kế khôngđược
hưởng thừa kế của nhau nhưng điều 679 bộ luật dân sự năm 2005 qui định thì con
riêng và bố dượng,mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc như cha con,mẹ con thì được thừa
kế theo pháp luật(điêu 676,677) theo thứ tự các hàng thừa kế…căn cứ vào điều
luật,nếu ngôi nhà trên là của riêng A thì A có toàn quyền định đoạt.Nếu là sở hữu
chung của 2 vơ chồng thì ½ ngôi nhà thuộc quyền định đoạt của A,1/2 ngôi nhà thuộc
quyền định đoạt chia đều cho 2 người con riêng của vợ A,2 người con chung của A bà
và một phần của A(1/5)
 Tình huống 2:
- Khi còn sống ,bố mẹ B phân chia đất đai cho các em B đâu vào đấy riêng mảnh
dất và ngôi nhà bố mẹ B ở trước khi qua đời , bố mẹ B di chúc lại để cho B là trai cả
để làm nơi thờ cúng và nuôi dưỡng đứa em út bị tâm thần từ bé.Nay anh em B nảy

 Tình huống 4:
- Anh cả ông A chết cách đây 5 năm.Anh của ông không có con trai chỉ có 2 đứa
con gái đã đi lây chồng.năm ngoái cha ông mất nhưng không để lại di chúc.Nay anh
em ông muốn chia thừa kế phần tài sản của cha để lại cho con cháu nhưng mà bà chị
dâu không chấp nhận đòi giữ tài sản,vì khi còn sống cha ông ở với anh cả.Hỏi bà chị
dâu có quyền như vậy không?
- Theo điều 676 thì con dâu không được hưởng quyền thừa kế của cha mẹ chồng.Di
sản của người đã khuất phải được chia theo pháp luật…Vậy anh em của ông A đều
được hưởng một phần bằng nhau số di sản thừa kếdo cha mẹ để lại .Riêng ông anh cả
đã chêt theo điều 677 thì trong trường hợp, con của người để lại di sản đã chết trước
người để lại đi sản thì cháu được hưởng một phần mà cha mẹ của cháu được hưởng
nếu còn sống…Theo qui định thì 2 đứa con gái của ông anh cả sẻ được hưởng 1 phần
di sản thừa kế.
 Tình huống 5:
- Cha mẹ chị B sinh được 4 người con,khi còn sống ông bà đã xây dựng được 2 căn
nhà trên diện tích 500 mét vuông (cả vườn). Khi cha mẹ chị mất không để lại di chúc
thì em trai thứ1 của chị đã đem bán một căn nhà và môt phần diận tích đất vườn mà
không hề cho chị va những người còn lại biết.Một đứa em trai khác của chị không may
mắn đã chết khi chưa lập gia đình.Nay em trai chị nói 2 chị gái lấy chồng rồi thì không
được đòi hỏi gì.Vậy chị có được hưởng giá trị tài sản của cha mẹ để lại hay không?
Đứa em trai đã chết có được chia tài sản không?

16


- Những người có quan hệ huyết thống ,họ hàng với người đã chết đều có thể được
hưởng quyền và nghĩa vụ về tài sản của người đã chết theo qui định của pháp luật Việc
em trai nói 2 chị không được hưởng tài sản là không đúng .Theo luật định thì cả 4
người con của cha mẹ đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất(điều 676) .Như vậy cả 2 chị và
2 người con trai đều được hưởng toàn bộ di sản thừa kế của cha mẹ để lại.Tuy nhiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status