76 Tạp chí luật học
đặc san về sửa đổi, bổ sung bộ luật dân sự ra i ca B lut dõn s c coi l
bc ngot ln trong quỏ trỡnh hon thin
phỏp lut núi chung v phỏp lut dõn s núi
riờng ca Nh nc ta. Tuy nhiờn, sau mt
thi gian ỏp dng v kim nghim thc tin,
BLDS ó bc l khỏ nhiu thiu sút v bt
cp. Trong phm vi bi vit ny chỳng tụi xin
nờu nhng bt cp trong quy nh v tha k
ca BLDS v a ra hng hon thin nhng
bt cp ú.
1. V thi im m tha k
Xỏc nh thi im m tha k l cụng
vic quan trng liờn quan trc tip n quyn
li ca ngi tha k. Vỡ vy, khon 1 iu
636 BLDS quy nh: Thi im m tha k l
thi im ngi cú di sn cht. Trong trng
hp to ỏn tuyờn b mt ngi l ó cht thỡ
thi im m tha k l ngy c xỏc nh ti
khon 2 iu 91 ca B lut ny.
Theo quy nh trờn ca BLDS thỡ thi
im m tha k c xỏc nh bt u t khi
ngi li di sn cht. Tuy nhiờn, trong thc
ngi ú trong quyt nh ca mỡnh. Tuy
nhiờn, quy nh ti khon 2 iu 91 BLDS
cha tht c th v hin nay cng cha cú vn
bn hng dn thi hnh vn ny nờn vic
xỏc nh ngy cht ca ngi b tuyờn b l ó
cht cũn cha c thng nht. Chng hn,
i vi cỏ nhõn b tuyờn b l ó cht do b tai
S
* Ging viờn chớnh Khoa lut dõn s
Trng i hc lut H Ni
Ts. Phạm văn Tuyết * T¹p chÝ luËt häc 77
®Æc san vÒ söa ®æi, bæ sung bé luËt d©n sù
nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai thì ngày chết của
họ được xác định là ngày nào trong ba ngày
sau: Ngày xảy ra tai nạn, thiên tai, thảm hoạ;
ngày kết thúc tai nạn, thiên tai, thảm hoạ; ngày
tròn một năm kể từ ngày tai nạn, thiên tai,
thảm hoạ đó chấm dứt?
- Trường hợp thứ hai: Là ngày quyết định
tuyên bố cá nhân đã chết của toà án có hiệu
lực pháp luật. Xác định ngày chết của người bị
tuyên bố là đã chết theo cách này thường được
áp dụng trong những trường hợp không có cơ
sở để xác định một cách cụ thể về ngày chết
của người đó vì sự biệt tích của họ không rõ lí
do. Thông thường đó là trường hợp một cá
việc là chính anh M yêu cầu toà án tuyên bố
về cái chết của ông A nhưng lại bị coi là người
đã chết trước ông A.
Qua ví dụ trên chúng tôi thấy rằng nếu
ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết
được xác định theo ngày có hiệu lực pháp luật
của quyết định tuyên bố chết sẽ gây ra bất cập
trong nhiều trường hợp tương tự.
Để khắc phục tình trạng bất cập trên,
chúng tôi cho rằng ngày chết của người bị
tuyên bố là đã chết phải được xác định cụ thể
trong mọi trường hợp, không nên coi ngày có
hiệu lực pháp luật của quyết định là ngày chết
của họ. Trong thực tế có rất nhiều nguyên
nhân khác nhau làm cho các cá nhân bị biệt
tích dẫn đến việc toà án ra quyết định tuyên bố
là đã chết đối với họ nhưng nếu tựu trung lại
thì chỉ có ba trường hợp sau: Cá nhân biệt tích
lâu ngày mà không rõ lí do; cá nhân mất tích
trong vụ tai nạn, thiên tai, thảm hoạ; cá nhân
mất tích trong chiến tranh. Vì vậy, để có sự
thống nhất cho các toà án trong việc xác định
ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết
nhằm tránh tình trạng bất cập nói trên, chúng
tôi mong rằng các cơ quan có thẩm quyền cần
sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về
vấn đề này theo hướng sau đây:
Đối với người bị tuyên bố là đã chết vì biệt
tích quá lâu ngày mà không rõ lí do thì ngày
chết của họ được xác định là ngày tròn năm
đánh giá vấn đề một cách chính xác khi có
tranh chấp xảy ra. Ví dụ: Ông A để lại di chúc
cho người con là B hưởng di sản của mình
nhưng hai người cùng bị chết trong một vụ tai
nạn giao thông. Khi tranh chấp về thời điểm
chết của hai người thì một bên (những người
thừa kế của anh B) nói rằng vì vụ tại nạn xảy
ra gần nơi họ ở nên khi ra đến nơi xảy ra tai
nạn họ đã chứng kiến ông A chết trước anh B
khoảng năm phút. Một bên là những người
cùng hàng thừa kế với anh B lại nói rằng anh
B chết trước ông A khoảng năm phút.
Trong vụ việc trên, nếu xác định ông A
chết trước anh B thì những người thừa kế của
anh B sẽ được hưởng số di sản của ông A nếu
xác định anh B chết trước ông A thì họ sẽ
không được hưởng di sản mà ông A đã định
đoạt bằng di chúc cho anh B và những người
cùng hàng thừa kế với anh B sẽ hưởng số di
sản của ông A theo pháp luật. Tuy nhiên, trong
trường hợp này toà án khó có thể xác định bên
nào là người nói đúng sự thật. Và căn cứ vào
Điều 644 BLDS thì toà án phải xác định hai
người nói trên là chết cùng thời điểm, Điều
644 BLDS quy định: “Trong trường hợp
những người có quyền thừa kế di sản của nhau
đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được
coi là chết trong cùng một thời điểm do không
thể xác định được người nào chết trước thì họ
không được thừa kế di sản của nhau và di sản
lại di sản) theo ngày.
2. Di chúc bằng văn bản không có người
làm chứng
Điều 658 quy định di chúc bằng văn bản
không có người làm chứng phải do người lập
di chúc tự tay viết và kí vào bản di chúc.
Trong khi đó, di chúc lập tại công chứng nhà
nước hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn cũng có thể là loại di chúc không có
người làm chứng (chỉ phải có người làm
chứng nếu người lập di chúc không đọc được
hoặc không nghe được) nhưng di chúc lại do
công chứng viên hoặc người có thẩm quyền
ghi lại. Như vậy, thủ tục lập di chúc tại công
chứng nhà nước hoặc ủy ban nhân dân mà
không có người làm chứng sẽ mâu thuẫn với
quy định tại Điều 658. Mặt khác, khoản 4,
Điều 655 BLDS cũng đã quy định: "Di chúc
bằng văn bản không có chứng nhận, chứng
thực như quy định tại Điều 660 của Bộ luật
này chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ điều
kiện được quy định tại khoản 1 Điều này".
Điều đó chứng tỏ rằng nếu một người tự lập di
chúc dù không có người làm chứng, không có
chứng nhận, chứng thực thì di chúc đó vẫn
được coi là hợp pháp nếu họ tự mình lập di
chúc một cách tự nguyện trong khi minh mẫn,
sáng suốt.
Với những lí do trên chúng tôi đề nghị sửa
lại Điều 658 như sau:
công chứng nhà nước hoặc chứng thực của ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân
theo thủ tục sau đây:
a) Người lập di chúc tuyên bố nội dung
của di chúc trước công chứng viên hoặc người
có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên
hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải 80 T¹p chÝ luËt häc
®Æc san vÒ söa ®æi, bæ sung bé luËt d©n sù
ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã
tuyên bố. Người lập di chúc kí vào bản di chúc
sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép
chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình.
Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền
chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn kí vào bản di chúc.
b) Trong trường hợp người lập di chúc
không đọc được hoặc không nghe được bản di
chúc, không kí, không điểm chỉ được thì phải
nhờ người làm chứng và người này phải kí xác
nhận trước mặt công chứng viên hoặc người
có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên,
người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản
di chúc trước mặt người lập di chúc và người
hiện nghĩa vụ đó trong phần phạm vi di sản mà
họ được nhận.
5. Về thay thế di chúc
Khoản 3 Điều 665 BLDS quy định:
"Trong trường hợp người lập di chúc thay thế
di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị
hủy bỏ" nhưng BLDS không định nghĩa thay
thế di chúc là gì. Vì vậy, sẽ hết sức khó khăn
trong việc xác định người để lại di sản có thay
thế di chúc hay không, di chúc nào thay thế di
chúc nào, nếu sau khi họ chết lại phát hiện
được nhiều bản di chúc khác nhau. Bản chất
của việc thay thế di chúc là gì, trường hợp nào
được coi là thay thế di chúc là những vấn đề mà
trong thực tế còn nhiều cách hiểu khác nhau.
Mặt khác, việc hiểu rõ bản chất để xác
định trường hợp nào mới được coi là thay thế
di chúc có một ý nghĩa hết sức quan trọng và
thiết thực trong việc giải quyết đúng đắn một
vụ án.
Trước hết, cần thống nhất nhận thức về bản
chất của thay thế di chúc là việc một người
bằng ý chí tự nguyện được thể hiện trong bản di
chúc sau của mình để phủ nhận toàn bộ ý chí tự
nguyện đã thể hiện trong bản di chúc trước đó
về việc định đoạt di sản thừa kế.
Trong thực tế có thể có người để lại nhiều T¹p chÝ luËt häc 81
phải giải quyết theo luật (vì di chúc sau không
có hiệu lực, di chúc trước đã bị hủy bỏ).
Ví dụ 2: Trường hợp không được coi là
thay thế di chúc.
Năm 1953 Ông A có hai vợ (B và C đều
đã chết) M và N là con của ông A với bà vợ
đầu (bà B), P và Q là con của ông A với bà vợ
kế (bà C). Trước khi chết ông A lập di chúc
chia di sản của mình là 120 triệu đồng cho ba
người con là N, M, P hưởng ngang nhau
(không cho Q hưởng).
Sau đó một thời gian, ông T (em bà C) với
mục đích muốn để cho hai cháu của mình (con
bà C) được hưởng phần di sản nhiều hơn nên
đã lừa dối để ông A tin rằng người con đầu
của mình là M (đang đi hợp tác lao động ở
nước ngoài) đã bị chết. Vì thế, ông lập di chúc
thứ hai để chia đều 120 triệu đồng cho N, P, Q
(mỗi người 40 triệu đồng).
Ở ví dụ này, di chúc thứ hai được lập ra do
sự lừa dối của người khác, không phải là ý chí tự
nguyện của ông A. Do đó, không phải là việc
ông A dùng ý chí tự nguyện sau của mình để
thay thế ý chí tự nguyện trước và vì vậy, trong
trường hợp này không được coi là thay thế di
chúc mặc dù ông A có để lại nhiều bản di chúc.
Trường hợp này sẽ dẫn đến hệ quả khác
hẳn với hệ quả nêu trong ví dụ thứ nhất là:
Phải căn cứ vào di chúc trước để phân chia di
sản vì khi di chúc thứ hai không phải là ý chí
người kia nếu người này sửa đổi, bổ sung, thay
thế, hủy bỏ toàn bộ di chúc chung. Vì thế, dù
không có sự đồng ý của người kia nhưng nếu
họ sửa đổi phần di chúc liên quan đến phần tài
sản của mình thì việc sửa đổi đó vẫn có hiệu
lực pháp luật. Nếu việc sửa đổi, bổ sung, thay
thế, hủy bỏ di chúc có liên quan đến cả tài sản
của người kia và không được họ đồng ý thì chỉ
phần sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di
chúc liên quan đến tài sản của người đã sửa
đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc mới có
giá trị pháp luật. Chúng tôi cho rằng cần phải
hiểu điều luật trên theo cách hiểu thứ hai mới
phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật dân sự
là tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể.
Vì vậy, điều luật trên cần sửa lại như sau:
1. Vợ chồng có thể thỏa thuận để sửa đổi, bổ
sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.
2. Vợ hoặc chồng có quyền tự mình thay
đổi phần di chúc liên quan đến phần tài sản
của mình.
7. Giải thích di chúc
Điều 676 BLDS đã quy định:
"Trong trường hợp nội dung di chúc không
rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì
người công bố di chúc và những người thừa kế
phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc
dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của
người chết, có xem xét đến mối quan hệ của
người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi
chấp giữa những người thừa kế với nhau./.