đặc san về sửa đổi, bổ sung bộ luật dân sự
Tạp chí luật học 35 ThS. Lê Đình Nghị *
1. iu 23 cú quy nh v ngi
khụng cú nng lc hnh vi, quy nh ti
điu lut ny tng ng vi vic phõn
bit cỏc mc nng lc hnh vi ca cỏ
nhõn, theo ú thỡ ngi di 6 tui khụng
cú nng lc hnh vi dõn s v mi giao
dch dõn s ca ngi di 6 tui do
ngi i din theo phỏp lut xỏc lp,
thc hin. Thit ngh iu 23 nờn sa t
khụng cú thnh cha cú bi l
ngi di 6 tui cú kh nng cú nng
lc hnh vi dõn s khi h t n tui
nht nh do phỏp lut quy nh. Mt
khỏc, cng ti điu ny nờn thay cm t
cha 6 tui thnh cm t di 6
tui thỡ cõu vn s trong sỏng hn. Nh
vy, iu 23 nờn sa nh sau:
iu 23: Ngi cha cú nng lc
hnh vi dõn s.
Ngi di 6 tui thỡ cha cú nng lc
b tm dng nng lc hnh vi dõn s trờn
c s kt lun ca t chc giỏm nh cú
thm quyn.
Khi khụng cũn cn c tuyờn b mt
ngi tm dng nng lc hnh vi dõn s
thỡ theo yờu cu ca chớnh ngi ú hoc
ca ngi cú quyn v li ớch liờn quan,
to ỏn ra quyt nh hu b quyt nh tm
dng nng lc hnh vi dõn s.
2. Mi giao dch dõn s ca ngi b
* Trng i hc lut H Ni
đặc san về sửa đổi, bổ sung bộ luật dân sự
36 Tạp chí luật học
tm dng nng lc hnh vi dõn s u do
ngi i din theo phỏp lut xỏc lp,
thc hin.
cú c s phỏp lớ ỏp dng mt cỏch
thng nht liờn quan n vic to ỏn ra
quyt nh tuyờn b tm dng nng lc
hnh vi dõn s ca cỏ nhõn, c quan nh
nc cú thm quyn cn cú vn bn hng
dn c th. Trong vn bn hng dn ny
cn quy nh rừ t chc giỏm nh cú thm
quyn no s cú thm quyn kt lun v
tỡnh trng khụng nhn thc, lm ch c
cói, chng hn mt ngi gi th cho
ngi khỏc thỡ ngi c nhn bc th cú
quyn cụng b bc th ú khụng? Xut
phỏt t lớ do nh vy m iu 34 cn thit
phi b sung khỏi nim v bớ mt i t.
Theo quan im ca chỳng tụi, khon 1
iu 34 nờn sa nh sau:
iu 34. Quyn i vi bớ mt i t
1. Bớ mt i t ca cỏ nhõn l nhng
thụng tin liờn quan n bn thõn cỏ nhõn
ú m ngi ny khụng mun tit l cho
ngi khỏc bit. Quyn i vi bớ mt
i t ca cỏ nhõn c tụn trng v
c phỏp lut bo v.
- iu 32 BLDS cú quy nh v quyn
c bo m an ton v tớnh mng, sc
kho, thõn th. Quy nh ny ht sc cn
thit, trỏnh cỏc hnh vi trỏi phỏp lut ca
ngi khỏc xõm phm ti tớnh mng, sc
kho, thõn th ca con ngi. Tuy nhiờn,
cú vn t ra l nu l mt cỏ nhõn bỡnh
thng, h cú y nng lc hnh vi dõn
s thỡ h cú ton quyn nh ot i vi
cỏc b phn trờn c th ca h hay khụng?
Hin nay, trờn th gii ó xut hin nhiu
vn liờn quan n lnh vc t nh ny
nh cho (hoc bỏn) trng, tinh trựng, hin
tng (hoc bỏn) cỏc c quan ni tng, dựng
c th ca mỡnh cho mt s hóng dc
phm th nghim thuc, chuyn i gii
4. Điều 49 BLDS có quy định về nơi
cư trú của người chưa thành niên. Việc xác
định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa rất
lớn đối với cá nhân trong giao dịch dân sự
cũng như trong các quan hệ khác. Nếu
người chưa thành niên còn cả cha mẹ
nhưng cha mẹ lại có nơi cư trú khác nhau
vì nhiều nguyên nhân thì cần phải lựa chọn
cho người chưa thành niên có một nơi cư
trú nhất định, tuy nhiên phải đảm bảo
thuận lợi cho người chưa thành niên đó
trong việc học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải
trí Do đó, theo chúng tôi thì khoản 1 của
điều luật này cần được sửa đổi như sau:
“Điều 49: Nơi cư trú của người chưa
thành niên
1. Nơi cư trú của người chưa thành
niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ
có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của
người chưa thành niên là nơi cư trú của cha
hoặc mẹ nhưng phải vì lợi ích tốt nhất cho
người chưa thành niên đó”
5. Điều 70 quy định về người giám hộ
đương nhiên của người chưa thành niên.
Chúng ta biết rằng nếu một người chưa
thành niên thì đương nhiên em cña họ cũng
sẽ là người chưa thành niên. Do đó, để đảm
bảo sự logic của điều luật thì khoản 2 của
điều này không thể đưa “em” của người
chưa thành niên vào khi lấy căn cứ anh,
“cử” trong ngữ cảnh này mà nên dùng
thuật ngữ “đề nghị”. Như vậy, đoạn 1 của
Điều 72 sẽ sửa như sau:
“Điều 72. Cử người giám hộ
Trong trường hợp người chưa thành
niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các
bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ
được hành vi của mình không có người giám
hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 70 và
Điều 71 của Bộ luật này thì những người
thân thích của người đó cử một người trong
số họ làm người giám hộ; nếu không có ai
trong số người thân thích có đủ điều kiện
làm người giám hộ thì họ có thể đề nghị
người khác làm người giám hộ ”.
7. Theo quy định tại Điều 92 thì khi
một người bị tuyên bố là đã chết thì tài sản
của người này sẽ được giải quyết theo quy
định của pháp luật về thừa kế. Tuy nhiên
khi người bị tuyên bố là đã chết còn sống
và trở về thì họ có quyền yêu cầu người
thừa kế trả lại tài sản hiện còn. Thực tế thì
khi một người được hưởng di sản của
người chết, họ có thể đưa di sản đó vào
làm đối tượng trong giao dịch dân sự với
người khác (cho thuê, cầm cố, thế chấp )
và như vậy thì việc giải quyết quan hệ này
sẽ rất phức tạp. Để tránh sự xáo trộn của
các quan hệ xã hội đã được thiết lập, theo
chúng tôi nên bổ sung vào Điều 93 một
được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng của
người bị tuyên bố và phải được thông báo
công khai trên các phương tiện thông tin
đại chúng theo quy định của pháp luật”./.