Thực trạng tổ chức và hoạt động của Quốc hội - Pdf 34

M ỤC L ỤC
TRANG
A. MỞ ĐẦU.................................................................................................................2
B. NỘI DUNG..............................................................................................................2
I. Khái quát về Quôc hội. ..............................................................................................2
1. Quá trình hình thành phát triển của Quốc hội........................................................2
2. Vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội...........................................................2
II. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Quốc hội........................................................3
1. Tổ chức Quốc hội...................................................................................................3
1.1 Cơ cấu tổ chức Quốc hội..............................................................................3
1.2 Thực trạng tổ chức hoạt động Quốc hội.......................................................4
2. Hoạt động của Quốc hội.........................................................................................5
2.1 Tổ chức Quốc hội.........................................................................................5
2.2 Thực trạng hoạt động Quốc hội....................................................................6
III. Phương hướng giải pháp đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động Quốc Hội ............6
1. Hoàn thiện cơ cấu Quốc hội...................................................................................9
2. Hoàn thiện hoạt động Quốc hội.............................................................................9
IV. Đánh giá nhận xét...................................................................................................9
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ............................................................................................9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................10
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI.

UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc hội.
HĐDT : Hội đồng dân tộc.
ĐBQH : Đai biểu Quốc hội.
TW : Trung ương.
UB : Ủy ban.
1


A. MỞ ĐẦU

tránh tình trạng tranh luận suông. Cũng như đặc tính chung của Quốc hội nước khác,
với tính chất là cơ quan hoạt động theo chế độ hội nghị trong tổ chức và hoạt động
của Quốc hội nước ta cần phải có đầy đủ cơ cấu cần thiết.
- Cơ quan Quốc hội:Quốc hội nước ta gồm các cơ quan : UBTV, HĐDT và các
ủy ban Quốc hội ( bao gồm 9 UB (UB pháp luật, UB tư pháp, UB chuyên trách, UB
đối ngoại, UB kinh tế, UB tài chính ngân sách, UB các vấn đề xã hội, UB khoa hoc –
công nghệ - môi trường, UB thanh thiếu niên nhi đồng )
- ĐBQH :là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước
và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm. Số ĐBQH được tính trên cơ sơ dân số
của cả nước và được chia theo đơn vị hành chính. Việc bầu cử ĐBQH được tiến hành
theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những khóa Quốc hội
gần đây số lượng và cơ quan Quốc hội do UBTVQH dự kiến trên cơ sở mối tỉnh,
thành phố trực thuộc TW ít nhất có 3 đại biểu cư trú và làn việc tại địa phương. Số đại
biểu tiếp theo được tính theo dân số và đăc điểm của mỗi địa phương. Đăc biệt luật
bầu cử ĐBQH nước ta ghi rõ ưu tiên về số lượng ĐBQH cho các dân tộc thiểu số và
phụ nữ.
- Về lãnh đạo Quốc hội : Do đặc điểm hoạt động không thường xuyên, từ đó
đặt ra yêu cầu phải có một cơ quan chịu trách nhiệm chuẩn bị, triệu tập, chủ trì các
hoạt động của Quốc hội và thực hiện những nhiệm vụ quyền hạn mà lẽ ra phải thuộc
về Quốc hội. Trừ hiến pháp 1946 quy định ban lãnh đạo của Quốc hội là ban thường
trực Quốc hội, các hiến pháp 1959, 1992 đều quy đinh ban lãnh đạo Quốc hội là
UBTVQH hoặc hội đồng nhà nước kết hợp với chủ tịch và các phó chủ tịch Quốc hội
(hiến pháp1980).
3


1.2 Thực trạng tổ chức Quốc hội.
a. Những thành tựu đã đạt được .
- Đổi mới tư duy trong việc quy định một số nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc
hội phù hợp với định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của

trách. Vì thế, ĐBQH không chỉ hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội
mà còn hoạt động chuyên trách tại 63 tỉnh, thành phố thuộc TW ở địa phương .
b. Những tồn tại trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước.
Bên cạnh những điểm tiến bộ, sự đổi mới trong tổ chức ta thấy còn rất nhiều
tồn tại yếu kém mà chúng ta cần phải xem xét cụ thể. Đó là sự hạn chế của các UB
hiện nay được nhiều người cho là số lượng chưa bao quát các mặt hoạt động của Quốc
hội (nhất là lĩnh vực hoạt động giám sát tối cao với chính phủ và các cơ quan khác.)
4


Chức năng của các UB còn chưa được xác định rõ, còn có sự chồng chéo, hình thức
và chưa có những đảm bảo thực hiện (như quyền giám sát quy định cho HĐDT và các
UB là quyền riêng của Hội đồng; UB hay chỉ là giúp Quốc hội UBTVQH giám sát),
việc chỉ đạo, phối hợp hoạt động của UBTVQH còn chưa sâu sát, thường xuyên.
2. Hoạt động Quốc hội.
2.1 Hoạt động Quốc hội.
Về phương thức hoạt động, xuất phát từ tính chất đặc thù củ cơ quan hoạt động
theo chế độ hội nghị. Vì vậy phương thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội được thể
hiện qua những hình thức chủ yếu là các kì họp, phiên họp. Trừ Quốc hội khóa I là
Quốc hội có tổ chức và hoạt động trong điều kiên đặc biệt về mặt lịch sử, Quốc hội kỳ
sau đều tiến hành mỗi năm hai kỳ họp thường lệ. Tại các kỳ họp, Quốc hội tiến hành
xem xét, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thông qua
việc sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới các luật; thực hiện quyền giám sát tối cao
thông qua việc xem xét báo cáo và chất vấn các cơ quan lãnh đạo cấp cao của nhà
nước do Quốc hội bầu ra.
- Kỳ họp thường lệ Quốc hội do UBTVQH chuẩn bị, triệu tập và chủ trì. Kỳ
họp bất thường của Quốc hội được triệu tập theo quyết định của UBTVQH, theo yêu
cầu của Chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ hoặc khi có ít nhất 1/3 tổng số đại biểu
Quốc hội yêu cầu để giải Quyết những vấn đề cấp bách, nảy sinh không thuộc chương
trình dự kiến của Quốc hội hoặc của UBTVQH. Kỳ họp của Quốc hội được xác định

thế cùng với quy trình lập pháp, phương thức và cách thức tiến hành kì họp càng sôi
nổi, dân chủ và được nhân dân ngày càng ủng hộ. Đăc biệt là hoạt động chất vấn được
truyền hình trực tiếp, góp phần nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động của
Quốc hội lẫn các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thuộc đối tượng chịu sự giám sát
của Quốc hội. Lần đầu tiên ở nước ta có luật giám sát của Quốc hội. Nhờ đó mà hoạt
động giám sát của Quốc hội đi vào nề nếp.
b Những tồn tại trong hoạt động của Quốc hội.
Ngoài những điểm mới nêu trên bên cạnh đó hoạt động Quốc hội còn có một
số mặt hạn chế như sau:
- Thứ nhất hoạt động giám sát Quốc hội của Quốc hội hoạt động còn kém hiệu
quả. Các cơ quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội, chính phủ, các bộ… đều nhận thức
không đúng đắn và đầy đủ về vai trò giám sát. Chưa coi giám sát là một phương tiện
để hạn chế sự tha hóa của Quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân; phạm vi giám sát tối cao chưa hợp lí. Quốc hội hoạt động không chuyên
trách, phần lớn đại biểu kiêm nhiệm, việc mở rộng phạm vi giám sát sang cả lĩnh vực
tư pháp và ban hành văn bản pháp quy của hành pháp là quá rộng không phù hợp với
tổ chức Quốc hội nước ta. Đối tượng Quốc hội chịu giám sát của Quốc hội phổ biến là
những người giữ chức cao trong Đảng và nhà nước. Họ vừa quyết định thân phận
chính trị của ĐBQH lại vừa quyết định lợi ích kinh tế của địa phương nơi đại biểu tổ
chức thành đoàn. Vì thế không thể đảm bảo cho ĐBQH thực hiện được quyền giám
sát của mình.
- Thứ hai là trong hoạt động của UBTVQH: UBTVQH có nhiệm vụ giải thích
chính thức Hiến pháp, luật và pháp lệnh mà trên thực tế không thực hiện được.
- Thứ ba: Quốc hội giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước mặc dù đã
có một số đổi mới nhưng vẫn còn hình thức, chưa thực quyền. Nguyên nhân là do quy
trình quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước ta chưa thực sự coi trọng việc
phát huy trí tuệ của đông đảo nhân dân. Với vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội Đảng
ta thương khởi xướng và quyết định trước những vấn đề trọng đại của nhà nước.
- Thứ tư : Hoạt động Quốc hội chưa ngang tầm với sự mong mỏi của cử tri cả
nước một phần là do chất lượng ĐBQH. Luật bầu cử nước ta không được đổi mới căn

tư nguyện vọng của nhân dân dám đứng lên trình bày ý kiến của dân. Thay mặt nhân
dân thể hiện ra trước Quốc hội.
+ Nên giảm tỉ lệ ĐBQH là công chức nhà nước, cán bộ trong tổ chức chính trị
nhằm đảm bảo tốt hơn quyền cử tri trong việc lựa chọn bầu ra những người thuộc
thành phần xã hội đại diện cho mình, cho các nhóm những người có cùng lợi ích tham
gia Quốc hội. Hiện nay với thành phần ĐBQH chủ yếu là công chức nhà nước, là cán
bộ trong các cấp lao động sẽ khó khăn trong vai trò là cơ quan “Đại biểu cao nhất của
nhân dân” thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Khi mà có sự kiện kiêm
nhiều chức danh thì người ĐBQH sẽ không thể toàn tâm toàn lực được trong nhiệm
vụ của nhân dân.
+ Cần tạo điều kiện để họ thực quyền hơn và có đủ điều kiện cần thiết để làm
tròn mọi nhiệm vụ của của người đại biểu nhân dân. Hiện nay ĐBQH được rất nhiều
quyền nhưng pháp luật chưa quy định đầy đủ cụ thể của quyền này cùng với phương
thức, cơ chế đảm bảo thực hiện cũng như chưa có đủ điều kiện vật chất cần thiết như :
bộ máy, nhân sự giúp việc, phương tiện giúp việc…
- Thứ hai: Tăng số lượng hợp lí ĐBQH chuyên trách ở các cơ quan của Quốc
hội và các đoàn đại biểu Quốc hội phù hợp với đặc điểm và yêu cầu tổ chức, hoạt
động Quốc hội nước ta. Hiện nay số lượng đại biểu chuyên trách của Quốc hội khóa
XII mặc dù đã tăng đáng kể so với các khóa trước nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ dặt
ra là còn quá ít. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Quốc
hội, các cơ quan Quốc hội khó thực hiện tốt các yêu cầu nhiệm vụ ngày càng lớn mà
thực tiễn đặt ra. Vì thế, nhiệm kì Quốc hội khóa XIII nên thành lập các UB với các ủy
viên chuyên trách là chủ yếu, hạn chế số ủy viên kiêm nhiệm. Đăc biệt phải quan tâm
đến đổi mới cơ chế hoạt động và điều kiện làm việc của ĐBQH chuyên trách, tạo môi
7


trường hoạt động thực sự chủ động, dân chủ để người đại biểu phát huy được vai trò
đại diện cho cử tri.
- Thứ ba: Thành lập thêm các UB mới do sự hạn chế của các UB hiện nay là

năm về hoạt động của các cơ quan nhà nước theo hướng xác định rõ vấn đề cần báo
cáo với Quốc hội. Tổ chức giám sát theo chuyên đề và bỏ phiếu tín nhiệm đối với
những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để nâng cao hiệu lực của việc giám sát.
- Đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm, tuy được coi là phương thức cụ thể thực
hiên quyền giám sát Quốc hội và ĐBQH nhưng với thủ tục như hiên nay rất khó thực
hiện (vì khi các kiến nghị của đại biểu- ít nhất 20% tại một kỳ họp, hoặc kiến nghị của
HĐDT, UB của Quốc hội thì còn qua sự xem xét của UBTVQH rồi mới quyết định).
Hơn nữa, khi người được bỏ phiếu tín nhiệm không đạt tín nhiệm quá bán nữa tổng số
đại biểu thì phải tiến hành bãi nhiệm, miễn nhiệm theo quy định chung thì phải lại
thêm một lần xem xét. Vậy nên quy định lại là bỏ phiếu bất tín nhiệm. Các chức danh
do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn trong hoạt động của mình không hoàn thành nhiệm
vụ, để xảy ra sai phạm sẽ bị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm. Người bị bất tín nhiệm
8


đương nhiên bị bãi nhiệm, miễn nhiệm theo hình thức trách nhiệm tương ứng mà
không cần qua thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm nữa. Còn bỏ phiếu tín nhiệm là do
phiếu tín nhiệm theo định kỳ hàng năm mà không cần điều kiện gì và cũng không cần
chờ ai đó quyết định. Người không vượt qua được kỳ bỏ phiếu tín nhiệm này cũng
đương nhiên phải từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
- Tại kỳ họp, cần cải tiến hơn nữa cách thức xem xét các báo cáo của chính
phủ và cơ quan tư pháp; thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn, trình tự bỏ phiếu tín
nhiệm, bãi nhiêm, miễn nhiệm những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Đối với
việc báo cáo xem xét thực trạng hoạt động, cách thức hoạt động, cách thức điều hành,
thực hiện của các cơ quan báo cáo để qua đó uốn nắn hoạt động của họ chứ không
phải nghe báo cáo thành tích về ngành hoặc lĩnh vực .
Bên cạnh đó cần có sự nghiên cứu xác lập những phương thức làm việc mới
của Quốc hội. Chẳng hạn, tại Quốc hội khóa XII, do việc thiết lập chế độ đại biểu
chuyên trách( chiếm 1/4 tổng số đại biểu Quốc hội) nên đã hình thành hình thức hoạt
động của của số đại biểu này là Hội nghị đại biểu chuyên trách. Hình thức hoạt động

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, NXB CAND,
Hà Nội,2009.
2. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, NXB
ĐHQG, Hà Nội, 2005.
3. Viên nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Bình luận khoa học hiến pháp Cộng hòa
xã XHCN Việt Nam.NXB . CTQG, Hà Nội, 1995.
4. Luật tổ chức Quốc hội.
5. Tạp chí nhà nước và pháp luật tháng 9 / 2009. tháng 6/2005.

10


11


12


13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status