MỤC LỤC
MỞ BÀI
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những quy định
của pháp luật (quy định những hậu quả pháp lý ngoài mong muốn của chủ thể)
không có sự thoả thuận trước của các bên và được phát sinh chỉ trên cơ sở hành vi
bất hợp pháp do lỗi cố ý hoặc vô ý.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ 4 điều
kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; người gây thiệt hại có
lỗi.
I. Những nội dung cơ bản về lỗi trong trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoại hợp đồng.
1. Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự.
Trong BLDS Việt Nam không có bất cứ định nghĩa nào về “lỗi”. Tuy nhiên,
chúng ta có thể hiểu đơn giản định nghĩa lỗi là tác phong của một người đã hành
động khác với người bình thường đặt trong cùng một trường hợp. Như vậy, để
thẩm định lỗi phải theo quan điểm trừu tượng so sánh, tác phong của đương sự với
một người có trí thông minh và sự cẩn trọng bình thường đặt trong cùng một
trường hợp, nếu người bình thường không hành động như đương sự thì như vậy
đương sự đã phạm lỗi. Mọi người sống trong xã hội đều có bổn phận hành động
một cách thận trọng và tránh gây thiệt hại cho người khác, hành động thiếu thận
trọng với một người bình thường là một lỗi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại. (Nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 1998)
2. Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoại hợp
đồng.
Khi nhận thức về lỗi, có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng lỗi
trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phải do pháp luât qui định về hình thức
và mức độ. Nhưng cũng có quan điểm lại cho rằng; lỗi trong trách nhiệm dân sự
vậy, không cần thiết phải đưa ra quan điểm trong việc nhận thức về lỗi trong trách
nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là do suy đoán. Nhận thức như trên không chuẩn xác
về mặt khoa học, bởi vì lỗi, hình thức lỗi đã được qui định rất rõ và đầy đủ tại Điều
308 BLDS. Những suy diễn ngoài nội dung Điều 308 BLDS, do vậy không cần
thiết và cũng không đúng.
Bàn về lỗi - một điều kiện xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là
cần thiết. Vì đối với ngành Toà án khi giải quyết những tranh chấp liên quan đến
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cần thiết phải hiểu rõ cơ sở lý luận về lỗi để áp
dụng chuẩn xác các qui phạm pháp luật về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, qua
đó đưa ra những nhận định và quyết định chuẩn xác, đúng pháp luật
Nói tới trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng tức là nêu lên vấn đề về bồi thường,
như vậy điều kiện đầu tiên là phải có một sự thiệt hại. Nhưng không phải trong mọi
trường hợp cứ có thiệt hại là phải bồi thường, mà còn cần phải có hai điều kiện
khác: một lỗi và một tương quan nhân quả giữa lỗi và sự thiệt hại. Nói khác đi, chỉ
người nào đã phạm một lỗi khiến ngừơi khác bị thiệt hại thì mới phải bồi thường.
Mọi trường hợp trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng đều tiên niệm có một thệt
hại, nhưng mọi sự thiệt hại đều phát sinh trách nhiệm không? Hay sự thiệt hại đó
còn cần phải do một lỗi gây ra? Về vấn đề này có hai quan điểm: một quan điểm cổ
điển cho rằng phải có lỗi mới có trách nhiệm, một quan điểm khác lại chủ trương
trách nhiệm khách quan không cần điều kiện lỗi.
Như vậy, để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không
thể thiếu yếu tố lỗi. Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả,
trong đó có các luật gia đã quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xác định
yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng nói riêng. Có nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức về yếu tố lỗi nhưng
nhìn chung các học giả đều thừa nhận lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức cố ý và
vô ý. Các học giả còn phân biệt mức độ lỗi trong hình thức lỗi vô ý gồm lỗi vô ý
nặng và lỗi vô ý nhẹ.
khác, mà rõ nét hơn cả là sự biến pháp lý tuyệt đối và sự biến pháp lý tương đối là
những căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Sự
biến pháp lý tương đối là một sự kiện pháp lý mà sự khởi phát của nó do hành vi
của con người tác động dưới hình thức lỗi vô ý, do vậy người có hành vi tạo ra sự
kiện đó phải bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Trong khoa học pháp lý các nhà luật học đều thừa nhận sự biến pháp lý tương đối
là sự biến do con người tác động, còn sự thay đổi và chấm dứt của nó con người
không kiểm soát được. Như vậy, hành vi tạo ra sự biến pháp lý tương đối là hành
vi có lỗi và là hành vi trái pháp luật. Theo khoản 2 Điều 308 BLDS, lỗi vô ý được
xác định là "trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả
năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc
thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ
không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được". Người gây thiệt hại đã không mong
muốn, không để mặc cho thiệt hại xảy ra mà là do không kiểm soát được diễn biến
của sự kiện do hành vi vô ý của mình tạo ra thì người có hành vi đó phải bồi
thường.
Khi xác định, phân tích sự biến pháp lý tức là làm rõ sự biến pháp lý tuyệt đối
không chứa đựng yếu tố lỗi dưới bất kỳ hình thức nào. Bởi vì theo nhận thức của
các nhà nghiên cứu luật học về mặt lý luận, thì sự biến pháp lý tuyệt đối là sự biến
của một sự kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt không phụ thuộc vào ý thức của con
người - ý thức của con người không kiểm soát được sự kiện đó. Sự biến pháp lý
tuyệt đối có ý nghĩa pháp lý đặc thù, bởi vì sự biến đó được đặt trong mối liên hệ
về không gian và thời gian cụ thể, theo đó trách nhiệm dân sự không phát sinh đối
với một hoặc hai bên chủ thể của quan hệ đó. Như vậy, có thể nhận định rằng lỗi
vô ý luôn tồn tại trong sự biến pháp lý tương đối, còn lỗi thuộc mọi hình thức
không thể tồn tại trong sự biến pháp lý tuyệt đối. Sự nhận thức trên có ý nghĩa về
mặt lý luận trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
4. Mức độ lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
hưởng tới mức độ và trách nhiệm bồi thường của người đó. Người gây thiệt hại dù
có lỗi cố ý hay có lỗi vô ý khi gây thiệt hại cho người khác thì người đó cũng phải
bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi có lỗi của mình gây ra. Không vì người gây
thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý trong khi gây thiệt hại mà mức bồi thường tăng hay
giảm tương ứng. Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt có điều kiện luật định,
thì người gây thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được miễn giảm mức bồi thường (do
Tòa án xem xét quyết định). Những trường hợp phổ biến trong việc miễn giảm
mức bồi thường cho người gây thiệt hại thường phát sinh trong các trường hợp sau
đây:
- Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh
tế trước mắt và lâu dài của mình (Khoản 2 điều 605);
- Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại thỏa thuận với nhau về mắc bồi
thường thấp hơn thiệt hại.
Trường hợp thứ nhất, pháp luật qui định người gây thiệt hại bồi thường thấp
hơn thiệt hại do hành vi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với điều kiện bồi
thường của người gây thiệt hại. Qui định này đã loại trừ người gây thiệt hại có lỗi
cố ý và pháp luật không qui định xem xét để giảm mức bồi thường. Tuy nhiên
trong trường hợp người gây thiệt hại có lỗi cố ý nhưng có sự thỏa thuận với người
bị thiệt hại về mức bồi thường thấp hơn thiệt hại, nếu thỏa thuận đó không trái
pháp luật và đạo đức xã hội và được Tòa án thừa nhận, thì người gây thiệt hại do
lỗi cố ý được miễn giảm phần bồi thường thiệt hại do mình gây ra, thuộc về trường
hợp thứ hai.
Thứ ba, Điều 617 BLDS qui định về trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp
người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại, thì người gây thiệt hại chỉ
phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trong BLDS của nước
CHXHCN Việt Nam không có qui định về mức độ lỗi, do vậy việc xác định trách
nhiệm hỗn hợp trong trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có
lỗi gây ra thiệt hại thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ
ở hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác thì người gây
thiệt hại không có trách nhiệm bồi thường.
Lỗi có thể là cố ý hay vô ý. Cố ý phạm lỗi là khi nào đã biết rõ hành vi của
mình sẽ gây ra thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện; vô ý phạm lỗi là khi nào
hành vi gây thiệt hại đã xảy ra ngoài ý muốn của mình hoặc không thấy trước hành
vi của mình có thể gây thiệt hại. Muốn biết một đương sự có cố ý phạm lỗi hay
không, cần phân tích tâm trạng của đương sự xem họ có ý muốn làm hành vi ấy
hay không. Đối với lỗi vô ý, tuỳ theo mức độ trầm trọng của nó, cũng có thể phân
chia thành lỗi nặng, lỗi nhẹ, lỗi rất nhẹ như trong trường hợp trách nhiệm hợp
đồng, nhưng đối với trách nhiệm ngoài hợp đồng, sự phân biệt này không có lợi
ích trên thực tế, vì trên nguyên tắc một lỗi rất nhẹ cũng đủ để phát sinh trách
nhiệm.
Bị đơn muốn khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, muốn khỏi bồi thường có
thể sử dụng một trong các biện pháp sau đây:
-
Bị đơn có thể dẫn chứng một nguyên nhân bất khả kháng.
-
Bị đơn có thể dẫn chứng rằng tuy sự thiệt hại đã xảy ra do tác động của nó,
nhưng họ đã không phạm một lỗi nào, vì họ ở trong tình trạng phòng vệ chính đáng
hay tình thế cấp thiết.
Phòng vệ chính đáng là khi một người đã gây thiệt hại để tránh một sự tổn thất
mà nhân định gây ra. Sự phòng vệ phải tương xứng với mức độ trầm trọng của sự
tấn công, và sự tấn công này phải bất hợp pháp. Gây thiệt hại trong trường hợp
phòng vệ chính đáng, thì không phải bồi thường, nhưng nếu vượt quá giới hạn của
mình, thì có phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra không? Một người ở
trong tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình trên
nguyên tắc không phải phạm lỗi và không chịu trách nhiệm về các thiệt hại gây ra.
Nhưng người đó cố ý uống rưọu hay dùng chất kích thích khác để đến nỗi lâm vào
tình trạng này, thì như vậy họ đã phạm lỗi trước khi lâm vào tình trạng vô tri thức,
lỗi này là nguyên nhân trực tiếp đã gây ra thiệt hại, do đó họ phải bồi thường
( Điều 615 khoản 1 BLDS). Nhưng nếu người này không tự ý uống rưọu hay dùng
chất kích thích, mà bị người khác ép buộc làm như vậy, thì sẽ không chịu trách
nhiệm về hành vi của mình ( Điều 615 khoản 2 BLDS)
1.4. Lỗi trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại.(Điều 616 BLDS).
Điều 616 BLDS 2005 quy định: “ Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt
hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách
nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xácđịnh tương ứng với
mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xácđịnh được mức độ lỗi thì họ phải bồi
thường thiệt hại theo phần bằng nhau”.
Khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, ngoài việc xem xét mặt khách quan
của hành vi gây thiệt hại, chúng ta cần xem xét mặt chủ quan của người thực hiện
hành vi đó. Nếu chúng ta chỉ xem xét mặt khách quan của hành vi vi phạm pháp
luật thì giá trị xã hội của hành vi không phản ánh đầy đủ bởi giá trị xã hội của hành
vi còn thể hiện ngay trong mặt chủ quan của người thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật. Dưới góc độ khoa học pháp lý, một người chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý,
một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của hành vi đó khi họ
có đầy đủ điều kiện để lự chọn một xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội (cả mặt
khách quan và mặt chủ quan), trừ nhhững trường hợp đặc biệt do pháp luật quy
định.
1.5. Lỗi của người bị thiệt hại. (Điều 617, BLDS 2005)
“Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt
hại thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của
viện, tổ chức quản lý người gây thiệt hại. Quy định này nhằm buộc trường học,
bệnh viện, tổ chức xã hội phải tăng cường công tác quản lý người chưa thành
niêndưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự.
Tuy nhiên, không phải bao giờ trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội khác đang
quản lý người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự có
lỗi trong việc quản lý khi những người này gây thiệt hại. Do đó, pháp luật quy
định: trường học, bệnh viện, tổ chức khác khi thực hiện nhiệm vụ quản lý người
chưa thành niên dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự để họ gây thiệt
hại và “nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có
lỗi trong quản lý thì cha, mẹ người giám hộ của người dưới 15 tuổi, người mất
năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.”.Quyy định naỳ cho thấy mặc nhiên nếu
người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt
hại mà những người này đang chịu sự quản lý của trường học, bệnh viện, tổ chức
xã hội thì các tổ chức này phải bồi thường và việc chứng minh mình không có lỗi
để làm cơ sở cho việc giải thoát khỏi trách nhiệm bồi thường thuộc về chính ttổ
chức đó. Nếu các tổchức này chứng minh được mình không có lỗi thì trách nhiệm
bồi thường thiệt hại thuộc về cha mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại đó.
1.8. Trách nhiệm của người chủ về các thiệt hại do người làm công, người
học nghề gây ra.
Điều 622 BLDS, cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt
hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được
giao. Điều luật này quy định trách nhiệm của các công ty hay doanh nghiệp sản
xuất có sử dụng công nhân; điều luật này cũng áp dụng cho các cá nhân làm nghề
thủ công có sử dụng người làm công và người học nghề.
Người chủ chỉ chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại của công nhân và người
học nghề, nếu đó là hành vi thuộc phận sự công việc của người ấy.
Trách nhiệm của người chủ đặt căn bản trên một sự suy đoán lỗi, lỗi trong việc
mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Như vậy, ở đây không đặt ra vấn đề lỗi, tuy nhiên có thể thấy lỗi trong trường
hợp này dù là lỗi cố ý hay vô ý thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường.
1.11. Lỗi do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. (Điều 630 BLDS): “ Cá
nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không đảm bảo chất lượng
hành hoá mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”.
Tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá tại Việt Nam được quy định bởi Pháp lệnh số
49-LCT/HĐNN8 ngày 27/12/1990. Theo Điều 14 Pháp lệnh này, tổchức, cá nhân
kinh doanh phải công bố theo quy định của pháp luật tiêu chuẩn chất lượng hàng
hoá của mình và có trách nhiệm bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã
công bố. Ngoài ra theo Điều 22 pháp lệnh, tổ chức, cá nhân bán hàng phải biết rõ
nguồn gốc và chất lượng hanhg hoá mà mình bán ra, và phải chịu trách nhiệm trực
tiếp với khách hàng về chất lượng hành hoá.
2. Lỗi trong bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
2.1 Lỗi trong bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều
623, BLDS 2005).
Theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (cho thuê, cho mượn…) phải bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra kể cả khi không có lỗi (trách nhiệm
nâng cao - điều này không đồng nghĩa với việc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra luôn luôn không có lỗi của chủ sở hữu, người được
giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Lỗi của chủ sở hữu, người được
giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là không tuân thủ việc trông
giữ, bảo quản, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, tuy nhiên nếu họ
không có lỗi vẫn phải bồi thường trừ trường hợp được quy định tại khoản 3, Điều
623 BLDS 2005). Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
phải là người bị thiệt hại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định cho
người có hành vi làm cho súc vật gây thiệt hại. Hành vi làm cho súc vật gây thiệt
hại là hành vi trái pháp luật dẫn đến thiệt hại xảy ra. Điều 625, BLDS quy định:
“Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại
cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và
chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thiệt hại”.
2.3 Lỗi trong bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra (Điều 626, BLDS 2005).
“Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gẫy gây ra, trừ trường
hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất
khả kháng”.
Theo quy định này, chủ sở hữu cây cối phải có ý thức trong việc đảm bảo sự an
toàn của cây cối (phát cành; nếu cây cối có nguy cơ đổ, gẫy thì phải chặt,
đốn…)Nếu cây cối đổ, gẫy gây thiệt hại thì mặc nhiên chủ sở hữu bị coi là có lỗi.
Tuy nhiên, nếu thiệt hại hoàn toàn do người bị thiệt hại (trèo cây và cây bị gẫy, đốn
trộm cây làm cây đổ vào người…) thì chủ sở hữu cây cối không phải bồi thường
thiệt hại. Ngoài ra, nếu thiệt hại do cây cối đổ, gẫy gây ra do sự kiện bất khả kháng
(động đất, bão…) thì chủ sở hữu cây côi không phải bồi thường.
2.4.Lỗi trong bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra (điều 627, BLDS)
“Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình
xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu nhà cửa, công trình khác đó bị sụp
đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra
hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.
Nhận xét:
Việc áp dụng khái niệm lỗi làm căn cứ để xác định trách nhiệm được quy định
tại Điều 308 BLDS 2005, trong đó nhấn mạnh lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm
dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Điều
từ 613 đến 630 là những quy định cụ thể, khi áp dụng phải đối chiếu với Điều 608
và Điều 615. Chính vì lẽ đó, với mục đích tăng cường bảo vệ quyền, lợi ích của
người bị thiệt hại cho nên Bộ luật dân sự đặt ra vấn đề suy đoán lỗi của người thực
hiện hành vi gây thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong mọi trường hợp nói tại mục này, việc chứng minh tính trái pháp luật của
hành vi, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả của nó với hành vi gây thiệt hại là yếu
tố đủ để buộc phải bồi thường. Người gây thiệt hại muốn giải trừ trách nhiệm, thì
pải chứng minh mình không có lỗi hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị
hại (khoản 3 Điều 308).
Thực tế cho thấy việc chứng minh lỗi (hoặc không có lỗi) là vấn đề cực kì phức
tạp, không phải lúc nào cũng thực hiện được. Không phải ngẫu nhiên mà khoản 3
Điều 308 nói trên quy định nghĩa vụ chứng minh về lỗi là thuộc về người gây thiệt
hại nư là một sự bổ sung nghĩa vụ của người đó. Trong trường hợp không đủ bằng
chứng, căn cứ để xác định yếu tố lỗi. Toà án xuất phát từ các quy định của Bộ luật
dân sự về suy đoán lỗi của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại mà buộc
người đó phải bồi thường.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
-
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2009
-
Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2009.