Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỨA THU HẰNG

YẾU TỐ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM VĂN TUYẾT

HÀ NỘI - 2014

Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Phạm Văn Tuyết người đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu, các thầy cô
giáo khoa sau đại học - Trường đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy

iii
MỤC LỤC
A. LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 1
3. Giới hạn của việc nghiên cứu............................................................................... 2
4. Cơ sở nghiên cứu đề tài ....................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 3
6. Điểm mới của luận văn ........................................................................................ 3
7. Kết cấu của luận văn............................................................................................ 3
B. NỘI DUNG ........................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN VỀ LỖI TRONG TN BTTHNHĐ.......................................................... 4
1.1 Khái quát chung về lỗi trong TN BTTHNHĐ .................................................... 4
1.1.1 Khái niệm lỗi .................................................................................................. 4
1.1.2 Hình thức lỗi................................................................................................... 10
1.2. Ý nghĩa của yêú tố lỗi trong việc xác định TN BTTHNHĐ .............................. 11
1.3 Mối liên hệ giữa lỗi và các yếu tố khác trong TN BTTHNHĐ ........................... 18
1.3.1 Mối liên hệ giữa lỗi và thiệt hại xảy ra ............................................................ 18
1.3.2 Mối liên hệ giữa lỗi và hành vi trái pháp luật .................................................. 19
1.4 Phân biệt ý nghĩa của yếu tố lỗi trong việc xác định TN BTTHNHĐ và
trong TN pháp lý khác ............................................................................................. 21
1.4.1 Phân biệt ý nghĩa của yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ và trong TN BTTH
do vi phạm hợp đồng ............................................................................................... 22
1.4.2 Phân biệt ý nghĩa của yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ với lỗi trong
trách nhiệm HS ......................................................................................................................23
1.5 Khái quát chung về sự phát triển của pháp luật dân sự về lỗi trong
TN BTTHNHĐ ....................................................................................................... 27
CHƯƠNG 2:
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BLDS HIỆN HÀNH VỀ LỖI TRONG TN BTTHNHĐ

: Bộ luật hình sự

BTTH

: Bồi thường thiệt hại

BTTHNHĐ

: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TN

: Trách nhiệm

TNDS

: Trách nhiệm dân sự

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


1
A. LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

nhiệm pháp lý khác. Đồng thời, luận văn phân tích chi tiết ý nghĩa của yếu tố lỗi
trong việc xác định TN BTTHNHĐ và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Về kết cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 2 chương
Chương I: Lý luận về lỗi trong TN BTTHNHĐ
Chương II: Những quy định của BLDS hiện hành về lỗi trong TN
BTTHNHĐ và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về lỗi.

Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


4
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ LỖI TRONG TN BTTHNHĐ
1.1 Khái quát chung về lỗi trong TN BTTHNHĐ
1.1.1 Khái niệm lỗi
Trong khoa học pháp lý, yếu tố lỗi là một trong những cơ sở phát sinh
TNDS. Xét riêng TN BTTHNHĐ, Điều 604 BLDS 2005 quy định:
"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi
thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó".
Mặc dù yếu tố lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm



7
biết trước. Trong trường hợp nào, yếu tố lỗi đều là hoạt động của tâm lý và nhận
thức bên trong của con người cụ thể. Còn việc người cho mượn xe có quan tâm
hay không, quan tâm như thế nào lại là vấn đề khác.
Theo T.S Phạm Kim Anh, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: "khác
với nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự trong nhiều
trường hợp được áp dụng do hành vi của người khác gây ra. Điều 621 BLDS quy
định rằng: Trường học, bệnh viện, các tổ chức khác nếu có lỗi trong việc quản lý
thì phải bồi thường thiệt hại do người chưa đủ 15 tuổi hoặc mất năng lực hành vi
dân sự gây ra cho người khác trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức
khác quản lý những người đó, nếu trường học, bệnh viện, các tổ chức khác
không có lỗi thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường. Theo điều luật này, việc
xác định lỗi của trường học, bệnh viện hay các tổ chức khác không thể dựa trên
cơ sở trạng thái tâm lý hay sự nhận thức của các tổ chức đó đối với hành vi của
người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự và hậu quả do hành
vi đó gây ra, mà lỗi của các tổ chức nói trên phải được xác định dựa trên cơ sở
mức độ quan tâm mà các tổ chức đó biểu hiện khi thực hiện nghĩa vụ quản lý
người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự”1.
Theo tôi, khi xác định lỗi là sự quan tâm của người gây thiệt hại thì sẽ đặt
ra một số câu hỏi như: Quan tâm được hiểu như thế nào đối với từng công việc,
từng hành vi cụ thể? Nếu quan tâm thì mức độ quan tâm ra sao để xác định mức
độ lỗi? Thiết nghĩ, về mặt lý luận cũng như Điều luật thực định đều đưa đến một
cách hiểu về yếu tố lỗi đó là trạng thái tâm lý và sự nhận thức của một con người
cụ thể. Chẳng hạn đối với trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự gây thiệt hại. Tại sao pháp luật không buộc những chủ thể đặc biệt
này có TN BTTH? Lý do là người chưa thành niên chưa có đầy đủ năng lực nhận
thức và khả năng lựa chọn hành vi xử sự; còn người mất năng lực hành vi dân sự
không có năng lực nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi của mình. Vì

lỗi của các thành viên pháp nhân khi thực hiện nghĩa vụ lao động nghề nghiệp
của mình. Ví dụ: lỗi của công ty kinh doanh trong việc chậm giao hàng do thiếu
nhân công hay máy móc bị hỏng được thể hiện trong hành vi có lỗi của người
lãnh đạo, người này đã không áp dụng kịp thời những biện pháp để khắc phục
những thiếu sót sai lầm trong hoạt động của công ty mình. Lỗi của pháp nhân
cũng có thể được thể hiện trong hành vi có lỗi của công nhân khi gia công những
sản phẩm không phù hợp.
Khi phân tích các quan điểm trên, ta thấy rằng chúng đều có một điểm
chung đó là lỗi của pháp nhân được xây dựng trên cơ sở trạng thái tâm lý, sự
nhận thức hoặc là của một cá nhân riêng biệt hoặc là của tập thể thống nhất, đối
với hành vi của mình và hậu quả của nó. Theo quan điểm của tôi, lỗi là trạng thái
tâm lý, sự nhận thức của một cá nhân riêng biệt, không tồn tại lỗi của một pháp
Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


9
nhân, cơ quan hay tổ chức. Đơn cử đối với trường hợp người của pháp nhân gây
ra thiệt hại. Ta thấy, pháp nhân có TN BTTH trong ba trường hợp sau: (1) Người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân (nhân danh pháp nhân thực hiện những
công việc vì lợi ích của pháp nhân, trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của người
đại diện theo pháp luật) gây ra thiệt hại; (2) người của pháp nhân nhân danh
pháp nhân thực hiện nhiệm vụ gây ra thiệt hại; (3) người được ủy quyền thực
hiện nhiệm vụ trong phạm vi ủy quyền gây ra thiệt hại. Đó là ba trường hợp phát
sinh TN BTTH của pháp nhân. Pháp luật buộc pháp nhân có TN BTTH không
phải vì pháp nhân có lỗi trong việc quản lý cán bộ, nhân viên dẫn đến xảy ra
thiệt hại mà bởi việc thực hiện nhiệm vụ là nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của
pháp nhân. Đồng thời, buộc pháp nhân có TN BTTH vi thiệt hại xảy ra cần phải
được bồi thường kịp thời đúng với nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy

nghĩ, các nhà làm luật cần nghiên cứu và đưa ra một định nghĩa thống nhất về
yếu tố lỗi trong TNDS nói chung để tránh những hiểu lầm và tranh cãi trong thực
tế áp dụng pháp luật cũng như trong nghiên cứu khoa học.
1.1.2 Hình thức lỗi
Từ xưa đến nay có nhiều học giả, trong đó có các luật gia đã quan tâm
nhận xét và đưa ra rất nhiều những quan điểm khác nhau trong việc xác định yếu
tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và TN BTTHNHĐ nói riêng. Có nhiều
quan điểm trong nhận thức về yếu tố lỗi nhưng nhìn chung các học giả đều thừa
nhận lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức cố ý và vô ý.
- Lỗi cố ý:
Khoản 2 Điều 308 BLDS 2005 quy định “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp
một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà
vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt
hại xảy ra”.
Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gây thiệt
hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực
hiện, cho dù người đó mong muốn hoặc không mong muốn nhưng đã có thái độ
để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi
có lỗi cố ý.
Về mặt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi luôn nhằm
mục đích thiệt hại xảy ra cho người khác.
Ví dụ: Vụ việc Công ty Vedan đổ chất thải ra sông Thị Vải ở Đồng Nai
gây xôn xao dư luận năm 2009. Công ty Vedan nhận thức rõ hậu quả của việc đổ
chất thải sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường cũng như cuộc sống của
Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


11

hiểm cao độ gây ra và do làm ô nhiễm môi trường. Đây là trường hợp ngoại lệ
không có lỗi vẫn phải BTTH. Pháp luật quy định như vậy với mục đích bảo vệ
triệt để quyền của người có lợi ích bị xâm phạm, bảo vệ lợi ích chung của toàn
xã hội. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ dù
không có lỗi vẫn phải bồi thường (Điều 623 BLDS 2005); cá nhân, pháp nhân,

Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


13
chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường dù không có lỗi vẫn phải BTTH (Điều 624
BLDS 2005).
Ngoài ra, các trường hợp BTTH do xâm phạm thi thể (Điều 628 BLDS
2005), mồ mả (Điều 629 BLDS 2005), BTTH do xâm phạm quyền lợi của người
tiêu dùng (Điều 630 BLDS 2005) không đề cập đến yếu tố lỗi. Đây không phải là
trường hợp không có lỗi nhưng vẫn phát sinh TN BTTH theo quy định của pháp
luật mà là không xét yếu tố lỗi trong TN BTTH. Tại sao lại nói như vậy? Bởi thi
thể, mồ mả của người đã khuất và lợi ích của người tiêu dùng là những khách thể
được bảo vệ tuyệt đối trong quan hệ pháp luật dân sự. Điều này phù hợp với
truyền thống đạo đức, phong tục tập quán của người Việt Nam và điều kiện kinh
tế thị trường hiện nay. Khi có hành vi xâm phạm đến các khách thể này thì TN
BTTH sẽ được đặt ra, bất kể có lỗi hay không có lỗi, lỗi cố ý hay vô ý.
Thứ hai, lỗi là căn cứ xác định chủ thể có TN BTTHNHHĐ
Về nguyên tắc, khi có sự xâm phạm đến tính mạng, tài sản, sức khỏe,
danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác, thì TN BTTHNHĐ sẽ đặt ra với chủ
thể có lỗi. Tuy nhiên, để hiểu một cách cụ thể và chính xác yếu tố lỗi có ảnh
hưởng như thế nào đến việc xác định chủ thể chịu TN BTTHNHĐ thì ta xét các
trường hợp sau:

bời hành vi gây thiệt hại là nhân danh cơ quan, pháp nhân. Hơn thế nữa, thiệt hại
phải được bồi thường kịp thời, do đó khi có quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thì TN
BTTH của cơ quan nhà nước, pháp nhân được đặt ra. Yếu tố lỗi như đã phân tích
là trạng thái tâm lý của con người nhận thức được hành vi và hậu quả của hành
vi. Lỗi gắn với con người cụ thể và trong trường hợp này là cán bộ, công chức
của cơ quan nhà nước, người của pháp nhân. Trong quá trình thi hành công vụ,
người của cơ quan nhà nước, pháp nhân cố ý hoặc vô ý vi phạm quy tắc nghề
nghiệp gây ra thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi hoàn lại cho cơ quan nhà
nước, pháp nhân. Tương tư như vậy đối với trường hợp thiệt hại do người làm
công, người học nghề gây ra.
- Nếu thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết thì theo quy định tại Điều
614 người gây ra tình thế cấp thiết phải BTTH cho người bị thiệt hại. Còn người
gây ra thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế.
Việc buộc người gây ra tình thế cấp thiết phải BTTH căn cứ vào lỗi của người đó
khi gây ra tình thế cấp thiết, đưa người khác vào tình huống buộc phải gây ra
một thiệt hại nào đó để làm giảm bớt một nguy cơ thiệt hại lớn hơn có thể xảy ra.
Trường hợp 2: Thiệt hại do tài sản gây ra
Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


15
Tài sản được nhắc tới ở đây có thể là súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình,
vật xây dựng khác, nguồn nguy hiểm cao độ (phương tiện giao thông vận tải cơ
giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ,
chất cháy, thú dữ,...). Tùy từng trường hợp mà pháp luật có quy định riêng phù
hợp với thực tại khách quan, tuy nhiên về nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản, người
được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng chịu TN BTTH khi thiệt hại do tài sản

Đồng thời theo quy định tại Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005" Người gây
thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá
lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình". Như vậy, khi xét xử
tại Tòa án, "lỗi vô ý" là một trong hai điều kiện để Tòa án xét giảm mức BTTH
cho người gây thiệt hại.
Thứ tư, lỗi là căn cứ xác định loại trách nhiệm mà các chủ thể gây thiệt
hại phải gánh chịu.
Loại trách nhiệm mà luận văn muốn nói đến ở đây là TNDS liên đới,
riêng rẽ, hỗn hợp, độc lập. Về các quy định của pháp luật liên quan đến lỗi và
loại trách nhiệm thì luận văn xin trình bày cụ thể tại chương II. Tuy nhiên, phải
khẳng định rằng trong TN BTTHNHĐ từ nhận thức đến trạng thái tâm lý đến
việc lựa chọn hành vi xử sự của con người quyết định loại trách nhiệm mà chủ
thể đó phải gánh chịu.
Qua những phân tích ở trên, ta có thể thấy yếu tố lỗi có một ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong TN BTTHNHĐ. Nó có vai trò lớn trong việc xác định chủ
thể phải chịu TH BTTH và mức BTTH. Do vậy việc nghiên cứu và phân tích để
hiều đúng và đầy đủ về yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ là hết sức cần thiết.
Về yếu tố lỗi trong TNDS, có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm
cho rằng lỗi trong TNDS ngoài hợp đồng phải do pháp luật quy định về hình thức
và mức độ. Nhưng cũng có quan điểm lại cho rằng lỗi trong TNDS ngoài hợp
đồng là lỗi suy đoán. Hai quan điểm khác nhau trong việc xác định lỗi vẫn tồn tại.
Quan điểm cho rằng "lỗi trong TN BTTHNHĐ là lỗi suy đoán" bởi hành
vi gây thiệt hại là trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có
lỗi. Điều này thể hiện ở khoản 3 Điều 606 BLDS “nếu người giám hộ chứng
minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của
mình để bồi thường” hoặc khoản 3 Điều 621 BLDS "nếu trường học, bệnh viện,
tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ,
người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân
sự phải bồi thường". Như vậy, chủ thể gây thiệt hại muốn thoát khỏi TN BTTH
thì phải chứng minh rằng mình không có lỗi.

cần thiết. Vì đối với ngành Toà án khi giải quyết những tranh chấp liên quan đến
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cần thiết phải hiểu rõ cơ sở lý luận về lỗi để
áp dụng chuẩn xác các quy phạm pháp luật về trách nhiệm dân sự ngoài hợp
đồng, qua đó đưa ra những nhận định và quyết định chuẩn xác, đúng pháp luật.

2

TS Phùng Trung Tập, “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí Luật học số
10/2004

Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033


18
1.3 Mối liên hệ giữa lỗi và các yếu tố khác trong TN BTTHNHĐ
Các điều kiện phát sinh TN BTTHNHĐ không tách biệt mà có mối liên hệ
thống nhất với nhau. Do đó, để đánh giá đúng, chính xác về lỗi của chủ thể, đồng
thời làm sáng tỏ được TN BTTHNHĐ thì luôn phải đặt lỗi trong mối liên hệ với
các căn cứ khác làm phát sinh TN. Trong đó, mỗi liên hệ giữa lỗi và thiệt hại xảy
ra, mối liên hệ giữa lỗi và hành vi trái pháp luật thể hiện rõ nét hơn cả.
1.3.1 Mối liên hệ giữa lỗi và thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra là tiền đề, là điều kiện tiên quyết của TN BTTH bởi mục
đích của loại TN này là nhằm khắc phục thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây
ra, khôi phục lại tình trạng như ban đầu cho chủ thể bị vi phạm. Thiệt hại là sự
suy giảm, sự mất mát, giảm sút (sự biến thiên theo chiều hướng xấu) của tài sản,
của các giá trị nhân thân được pháp luật bảo vệ. Tất cả các thiệt hại xảy ra hoặc
chắc chắn xảy ra được xem là thiệt hại thực tế. Theo Nghị quyết số
03/2006/HĐTP ngày 8/7/2006 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS

chịu trách nhiệm về những thiệt hại có thể xảy ra khi thực hiện hành vi của mình.
Đồng thời, về mặt lý luận, mức độ thiệt hại thực tế xảy ra cũng có khả
năng phản ánh mức độ lỗi. Trong thực tế, thông thường, thiệt hại càng lớn thì có
thể suy đoán mức độ lỗi là lớn. Chủ thể thực hiện hành vi có thể lường trước
được thiệt hại xảy ra nhưng vẫn xử sự gây thiệt hại. Tuy nhiên, nhiều trường hợp
thiệt hại thực tế xảy ra rất lớn nhưng người gây thiệt hại lại thực hiện hành vi với
lỗi vô ý do cẩu thả, khi thực hiện hành vi không lường trước được hậu quả xảy ra
mặc dù buộc phải nhận thức được điều đó. Ngược lại, trong nhiều trường hợp,
do yếu tố khách quan mà thiệt hại xảy ra không lớn không lớn tương đương với
mức độ lỗi. Nhưng dù với hình thức lỗi thế nào thì người gây thiệt hại vẫn phải
bồi thường cho thiệt hại thực tế xảy ra. Điều đó cho thấy hình thức lỗi không ảnh
hưởng lớn đến mức BTTH ngoài hợp đồng, mức BTTH chỉ phụ thuộc vào thiệt
hại thực tế xảy ra. Còn việc chứng minh có lỗi hay không, mức độ lỗi như thế
nào thuộc về người gây thiệt hại. Trong hoạt động xét xử, Tòa án căn cứ vào
chứng cứ, chứng minh của đương sự để xác định mức BTTH.
Tóm lại lỗi và thiệt hại thực tế xảy ra không tồn tại độc lập mà có mối liên
hệ với nhau. Nếu lỗi thuộc về ý thức thì thiệt hại xảy ra là kết quả của sự thể hiện
ý thức đó ra bên ngoài.
1.3.2 Mối liên hệ giữa lỗi và hành vi trái pháp luật
Trước tiên, ta cần hiểu thế nào là hành vi trái pháp luật để từ đó xác định
được mối liên hệ giữa yếu tố lỗi và hành vi trái pháp luật. Như ta đã biết, quyền
được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là quyền tuyệt đối của
Yếu tố lỗi trong TN BTTHNHĐ

Hứa Thu Hằng - CH20033



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status