BÀI LÀM
MỞ ĐẦU
Qua nhiều năm sửa đồi và hoàn thiện, vào năm 2004 Luật phá sản đã được Quốc
Hội khóa XI thông qua và có hiệu lực vào ngày 15 tháng 6 năm 2004. Vậy thực tiễn
thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã đã đạt được những thành tựu
như thế nào, và hạn chế của pháp luật thông qua quá trình thực hiện ra sao. Bài viết
dưới đây xin tìm hiểu đề tài : Thực tiễn thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp,
hợp tác xã.
NỘI DUNG
I.
Sự ra đời của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
1. Lý do ra đời của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
là hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại khách quan. Tính tất yếu khách quan của hiện
tượng phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được lý giải bằng các lý do cơ bản sau: Thứ
nhất, về thực chất doanh nghiệp, hợp tác xã cũng chỉ là thực thể xã hội và như vậy,
cũng như các thực thể khác, doanh nghiệp, hợp tác xã cũng có quá trình sinh ra, phát
triển và diệt vong. Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn là mục đích tối
cao mà mọi doanh nghiệp, hợp tác xã đều hướng tới, là cơ sở cho sự tồn tại của mỗi
doanh nghiệp, hợp tác xã đồng thời là động lực cơ bản thúc đẩy để lao vào quá trình
cạnh tranh nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Do vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan.
Khi tồn tại quyền tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ sở pháp lý để
tham gia vào các cuộc cạnh tranh nhằm dành thị trường, khách hàng, lợi nhuận. Trong
cuộc chiến trên thương trường đó, có sự phân hoá mạnh yếu, những doanh nghiệp, hợp
tác khác kinh doanh kém hiệu quả, không đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính
buộc phải chấm dứt hoạt động, rút khỏi thị trường. Thứ ba, kinh doanh là chấp nhận rủi
ro, vì trong kinh doanh rủi ro là rất lớn. Thậm chí có những doanh nghiệp, hợp tác xã
chịu sự rủi ro ngay khi mới thành lập và bị phá sản. Hơn nữa, sự đa dạng của các lý do
thất bại trong kinh doanh còn thể hiện ở việc: sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý
và Đà Nẵng đã tiếp nhận được 45 hồ sơ (TP.HCM 22 hồ sơ, Hà Nội 11 hồ sơ, Đà Nẵng
12 hồ sơ). Luật Phá sản được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2004 có nhiều điểm
thông thoáng so với trước đây, tạo điều kiện cho các cơ quan thực thi pháp luật giải
quyết được nhanh chóng thủ tục phá sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã.
2
Luật Phá sản năm 2004 quy định khá cụ thể về khiếu nại, kháng nghị quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã bị
phá sản, các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản có
quyền khiếu nại; Viện Kiểm sát Nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Thời hạn khiếu nại, kháng nghị là 20
ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị phá sản. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị,
tòa án đã ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản phải gửi hồ sơ về
phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị cho tòa án cấp trên trực tiếp để
xem xét, giải quyết. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản không bị
khiếu nại, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng
nghị.
2. Những hạn chế vướng mắc còn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về phá
sản doanh nghiệp, hợp tác xã
2.1.
Những bất cập của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Luật Phá sản được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày
15/6/2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2004 và thay thế Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý nhằm tạo điều kiện cho ngành Tòa án nhân dân
giải quyết hậu quả pháp lý của các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản. Tuy nhiên, khi áp dụng Luật Phá sản vào thực tiễn đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất
trụ sở làm việc, nhà xưởng… để sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong hoạt động sản
xuất kinh doanh nếu gặp rũi ro, sẽ đưa doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ kéo dài,
đã có nhiều phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng không khắc phục được
và các chủ nợ yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản để thu hồi
lại vốn cho vay. Trong thời gian Tòa án đang giải quyết, UBND có thẩm quyền thu hồi
lại đất cho doanh nghiệp thuê xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho, nhà xưởng phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn, Công ty Vật tư nông nghiệp tỉnh
Quảng Nam ( viết tắt là VTNN) là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động kinh doanh
những mặt hàng phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp cho các địa phương
4
trong tỉnh, nhưng việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài và mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn cho các chủ nợ. Cuối năm 2005, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Nam mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của các chủ nợ và Tổ quản lý, thanh lý tài sản
kiểm kê, định giá tài sản với tổng số tiền trên 2,8 tỷ đồng. Đến đầu năm 2008, UBND
tỉnh Quảng Nam ban hành quyết định thu hồi lại 648m 2 đất của Công ty VTNN thuê
xây dựng nhà làm việc, đồng thời quyết định phê duyệt giá khởi điểm nhà làm việc, vật
kiến trúc trên đất của Công ty VTNN là 875.000.000 đồng và quy định tổ chức, cá
nhân trúng đấu giá nhà, vật kiến trúc trên đất được lựa chọn hình thức giao đất nộp tiền
sử dụng đất một lần hoặc thuê đất trả tiền thuê hằng năm theo quy định của pháp luật.
Trên thực tế, UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi lại đất cho doanh nghiệp thuê để giao
cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh quản lý, sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, không có tổ chức, cá nhân nào đấu
giá mua tài sản trên đất này để phải tháo dỡ lấy phế liệu. Vì vậy, giá khởi điểm tài sản
của Công ty VTNN cũng là giá mua của Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh từ nguồn
vốn ngân sách nhà nước địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại
cổ phần ngoại thương tỉnh Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua nhà làm
việc, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất để trừ nợ Công ty VTNN vay
1.138.931.374 đồng và trên 258 ngàn USD (tương đương 5,272 tỷ đồng theo thời giá
Cửa Việt yêu cầu hoàn trả lại thuế giá trị gia tăng trong lô hàng mua đấu giá nêu trên.
Tổ Thẩm phán – TAND tỉnh Quảng Nam có Quyết định số 01/2009/QĐ-TTP ngày
09/11/2009 giải quyết: Chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần xây dựng thương mại
Cửa Việt; buộc Chi nhánh NHNo&PTNT thành phố Đà Nẵng hoàn trả số tiền
909.377.410 đồng; Chi nhánh Ngân hàng phát triển Quảng Nam hoàn trả số tiền
727.651.003 đồng cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản Công ty Mía đường Quảng Nam, để
hoàn trả thuế giá trị gia tăng cho Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Cửa Việt. Tuy
nhiên, việc hoàn thuế giá trị gia tăng có nhiều quan điểm khác nhau: Về phía Ngân
hàng cho rằng tài sản hình thành từ vốn vay, khi thanh lý bán tài sản đó để thu hồi lại
vốn thì không phải chịu thuế giá trị gia tăng. Ngược lại, về phía doanh nghiệp mua đấu
6
giá tài sản bao gồm cả thuế giá trị gia tăng. Do đó, người trúng đấu giá tài sản yêu cầu
phải hoàn thuế giá trị gia tăng đã nộp cho Nhà nước. Sự việc mãi dằng co từ cuối năm
2009 đến nay vẫn chưa ngã ngũ, nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam chưa thể tuyên
bố phá sản đối với Công ty Mía đường Quảng Nam.
e. Những bất cập công tác thu hồi nợ đối với doanh nghiệp bị mở thủ tục phá
sản
Khi doanh nghiệp được thành lập luôn tạo nhiều mối quan hệ liên doanh, liên kết,
hợp đồng mua bán, trao đổi hàng hóa qua lại ở nhiều địa phương trong cả nước. Trong
mối quan hệ thương mại, các doanh nghiệp, cá nhân có thể là chủ nợ hoặc con nợ của
nhau. Nếu doanh nghiệp, cá nhân là chủ nợ thì họ có quyền và trách nhiệm báo cáo cho
Tổ quản lý, thanh lý tài sản biết liệt kê vốn vào danh sách chủ nợ và chờ khi có phương
án phân chia tài sản để được nhận lại toàn bộ hoặc một phần tài sản mà doanh nghiệp,
cá nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản. Ngược lại, nếu con
nợ là doanh nghiệp thì công tác thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn, bởi các con nợ thường
tìm mọi cách tránh công nợ phải trả như là Giám đốc Công ty đi công tác xa không biết
khi nào về, hoặc doanh nghiệp đang đầu tư vào các dự án lớn, nên chưa tính đến việc
thanh toán nợ phải trả, v.v.. Đối với con nợ là cá nhân làm đại lý và chủ yếu là cán bộ,
hiện vô hiệu; doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện hoặc
không thực hiện những hành vi nhằm bảo toàn tài sản; thu hồi tài sản hay phần chênh
lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản. Tổ
trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ được phép quyết định áp dụng các biện pháp
cưỡng chế thi hành án theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự, nhưng Luật Thi
hành án dân sự không cho phép Chấp hành viên ra các quyết định về thi hành án. Do
đó, Chấp hành viên làm Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản không thể tự mình thực
hiện công vụ ngoài phạm vi pháp luật cho phép.
-
Trong thực tiễn, cá nhân, doanh nghiệp trước khi vay tiền của các tổ chức tín
dụng, đã thế chấp bất động sản là nhà ở, đất ở, máy móc, thiết bị…Khi doanh nghiệp,
cá nhân kinh doanh thua lỗ, không trả được nợ cho Ngân hàng và xảy ra tranh chấp
phải đệ đơn hầu Tòa giải quyết. Đến lúc này mới thấy nhiều tổ chức tín dụng “lách
luật” bằng cách xác định giá trị tài sản thế chấp tăng gấp nhiều lần so với thực tế, để
cho khách hàng vay vốn không vượt quá 70% giá trị tài sản thế chấp, cho nên việc kê
biên tài sản bán đấu giá để thi hành án thu hồi nợ cho chủ nợ đã gặp nhiều khó khăn.
8
Thế nhưng, Bộ Luật dân sự năm 2005 (Điều 342) và Luật Kinh doanh bất động sản
(Điều 7) quy định “Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai”,
bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ hợp
pháp chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật đối với
nhà, công trình đã có sẵn; giấy phép xây dựng hoặc hồ sơ dự án và thiết kế, bản vẽ thi
công đã được phê duyệt đối với nhà, công trình xây dựng… Do đó, các doanh nghiệp,
cá nhân đem những loại giấy tờ này thế chấp cho các tổ chức tín dụng để vay vốn,
nhưng đằng sau việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp, cá nhân có đúng mục đích
theo giấy tờ thế chấp hay không là một vấn đề nan giải.
trách nhiệm cá nhân, phải bồi thường thiệt hại khi thực hiện các biện pháp giải quyết
việc phá sản. Hơn nữa, thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản là những người đại
diện cho chủ nợ, đại diện cho doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản thực hiện nhiệm vụ
kiêm nhiệm theo sự phân công của người quản lý trực tiếp, nhưng công việc kiêm
nhiệm không phải là nhiệm vụ chuyên môn chính của họ, nên sự phối hợp tham gia của
những thành viên này thiếu nhiệt tình cùng Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong công tác
thu hồi giải quyết công nợ. Và suy cho cùng, hậu quả kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá
sản không phải bản thân của những người đại diện gây ra, mà do nhiều nguyên nhân
“tế nhị” trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp đẻ ra.
- Ngoài ra, Kinh phí hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản chủ yếu sử dụng từ
nguồn kinh phí của cơ quan thi hành án dân sự, nhưng công tác thu hồi nợ của con nợ
quá nhiều và nằm rải rác ở nhiều tỉnh, thành khác nhau, do đó nguồn kinh phí của cơ
quan thi hành án dân sự không thể đáp ứng yêu cầu phục vụ cho Tổ quản lý, thanh lý
tài sản. Và chế độ thù lao cho những người làm công tác này quá khiêm tốn, cho nên
công tác đi thu hồi nợ còn nhiều hạn chế nhất định.
Vì vậy Quốc hội cần quan tâm sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004, nhằm khắc
phục sự chồng chéo, bất cập giữa các văn bản pháp luật, tạo sự đồng bộ giữa các quy
định của Luật Phá sản, Luật Thi hành án dân sự và những văn bản pháp luật khác liên
quan đến lĩnh vực phá sản. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các ngành, tổ chức, cá
nhân phối hợp giải quyết tốt việc phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã.
2.2.
Những hạn trong việc thực hiện pháp luật về phá sản từ phía doanh
nghiệp, hợp tác xã
10
Do quy định của pháp luật còn thiếu tính khả thi nên tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã
được tuyên bố phá sản theo đúng quy định của pháp luật còn chiếm tỷ lệ rất thấp so với
không đáng kể. Có như vậy thủ tục tiến hành "khai tử" một doanh nghiệp, hợp tác xã
11
mới có thể tiến hành nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các đương sự, cơ
quan tiến hành tố tụng cũng như cho cả xã hội.
- Bổ sung một số loại tài sản, quyền tài sản vào tài sản phá sản của doanh nghiệp
mắc nợ như: Tàisản và quyền tài sản được thu hồi từ các giao dịch không công bằng
của doanh nghiệp; Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ các giao dịch vô hiệu
của doanh nghiệp; Tài sản và quyền tài sản có được do chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc
thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thừa kế; Tài sản và quyền tài sản có được
sau ngày mở thủ tục phá sản.
Theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì sau khi mở thủ tục phá sản, hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp vẫn có thể được tiến hành một cách bình thường. Vì vậy,
việc doanh nghiệp có thêm tài sản và quyền tài sản sau ngày bắt đầu vụ kiện là điều
hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó, việc đưa tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp có
được sau ngày mở thủ tục phá sản vào tài sản phá sản là cần thiết.
- Bổ sung quy định về tài sản phá sản của doanh nghiệp những tài sản như: Tài
sản và quyền tài sản do chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh trong
trong công ty hợp danh được tặng cho, thừa kế riêng.
- Bổ sung vào Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 khoản 3, trong đó quy định về các
loại tài sản được miễn trừ khỏi tài sản phá sản. Hiện nay, theo quan điểm nhân đạo,
nhiều nước trên thế giới đã cho phép người mắc nợ là cá nhân được giữ lại một số tài
sản, chủ yếu là những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày nếu họ không có hành vi
vi phạm pháp luật hoặc không có hành vi gian lận trong quá trình quản lý, điều hành
doanh nghiệp. Theo thông lệ của các nước thì các tài sản, quyền về tài sản được miễn
trừ bao gồm: các đồ vật phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày mang tính chất tối thiểu của
người mắc nợ và các khoản trợ cấp cho người mắc nợ do không còn khả năng lao
động, do bệnh tật, do mất việc làm; tiền lương hưu, các khoản nhận được từ hợp đồng
Hai là, công nhận một phần hoặc toàn bộ các phán quyết của Toà án nước ngoài
như: công nhận ngay lập tức mà không cần thực hiện bất kỳ một thủ tục tư pháp hay
hành chính nào; thủ tục công nhận trên cơ sở có đi có lại (Pháp, Hy Lạp, Ý); thủ tục
13
công nhận trên cơ sở không có đi có lại (Mêhicô, Panama và Côlômbia) và việc công
nhận chỉ giới hạn trong việc thu hồi tài sản (Hà Lan, Thuỵ Điển).
4. Sửa đổi quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải
quyết vụ án (Điều 27 và Điều 57 Luật Phá sản năm 2004)
Việc quy định cần phải tạm đình chỉ thi hành tất cả các bản án đã có hiệu lực pháp
luật từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là cứng nhắc, không bảo
đảm lợi ích chính đáng của một số chủ nợ có liên quan đến việc giải quyết phá sản.
Theo khoản 1 Điều 27 thì kể từ thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản,
tất cả các bản án mà theo đó doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ thi hành đều bị tạm
đình chỉ. Quy định như vậy, về cơ bản là đúng nhưng còn cứng nhắc, không hợp lý
trong một số trường hợp, không phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam cũng như
thông lệ của pháp luật nhiều nước trên thế giới. Xuất phát từ địa vị pháp lý, khả năng
kinh tế cũng như nhu cầu phải có sự ứng xử một cách đặc biệt đối với một số chủ nợ
nên Luật Phá sản năm 2004 của nhiều nước đều có quy định, theo đó, đối với một số
bản án, nhất là các bản án mà người được thi hành là các cá nhân bị doanh nghiệp mắc
nợ gây thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng, danh dự; các bản án Toà án yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ phải trả lại tài sản cho người khác do tài sản này đã bị
doanh nghiệp mắc nợ chiếm hữu một cách bất hợp pháp… đều được thi hành mà
không bị tạm đình chỉ. Quy định này cũng rất phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, vì
vậy, rất đáng được xem xét, tiếp thu.
5. Kiến nghị bổ sung quy định về giải quyết tranh chấp có liên quan đến nghĩa
vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Phá sản năm 2004 thì kể từ ngày Toà
hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã để đáp ứng được nhu cầu của
nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế và thu hút vốn
đầu tư nước ngoài.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật thương mại 1 – Trường đại học Luật Hà Nội
2. Luật phá sản năm 2004
3. Luật doanh nghiệp năm 2005
4. Luật dân sự năm 2005
5. Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của Chính phủ
6. Trang web:
- Sinhvienluat.vn
- http://www.sggp.org.vn
- http://www.lapdoanhnghiep.com.vn
- http://vi.wikipedia.org
16