Thực tiễn thi hành vài kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định chung BLTTHS 2003 thủ tục tố tụng phiên tòa sơ thẩm hình sự - Pdf 34

Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

MỤC LỤC
A. LỜI NÓI ĐẦU……………………………………...……………………
B. NỘI DUNG……………………………………………………….
I. Quy định chung của BLTTHS 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ
thẩm hình sự.
1. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục……………………………………...
2. Thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm. …………………………………...
3. Những người tham gia phiên tòa. ……………………………………............
4. Thời hạn hoãn phiên tòa. ……………………………………...…………….
5. Giới hạn của việc xét xử. ……………………………………........................
6. Việc rút quyết định truy tố. ……………………………………....................
7. Nội quy phiên tòa và biện pháp xử lý đối với người vi phạm trật tự phiên
tòa..……………………………………...……………………………………............
8. Việc ra bản án và các quyết định của tòa án. ………………………………...
9. Biên bản phiên tòa. ……………………………………...……………………
II. Thực tiễn thi hành và một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
chung của BLTTHS 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.

C. KẾT LUẬN……………………………………...………………………

LỚP NO1_TL1_NHÓM 2

1

Nguyễn Phương Thảo_341202



chung, việc xét xử phải được tiến hành liên tục từ khi khai mạc phiên toàn cho đến
khi tuyên án trừ giờ nghỉ và thời gian cần thiết để nghị án. Hội đồng xét xử phải xử
xong vụ án này mới được xử vụ án khác.
11.Thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm.

LỚP NO1_TL1_NHÓM 2

2

Nguyễn Phương Thảo_341202


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai Hội
thẩm. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét
xử có thể gồm có hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Nếu bị cáo là người chưa thành niên thì thành phần của Hội đồng xét xử phải có
một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
(Điều 307 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003). Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét
xử về tội khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai
Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Các thành viên của Hội đồng xét xử phải tham gia xét xử vụ án từ khi khai mạc
phiên toàn cho đến khi kết thúc. Thẩm phán chủ toạ phiên toàn là người điều khiển
việc xét xử tại phiên toàn và giữa trật tự phiên toà.
Trong quá trình xét xử, nếu có Thẩm phán hoặc Hội thẩm không tiếp tục tham
gia xét xử được thì Toà án vẫn có thể xét xử vụ án, nếu có Thẩm phán hoặc Hội
thẩm dự khuyết. Thẩm phán hoặc Hội thẩm dự khuyết phải có mặt tại phiên toà từ

viên dự khuyết.
Đối với những vụ án phưc tạp mà địa phương thấy cần thiết hoặc đối với những
vụ án mà bị can, bị cáo là người có chức sắc cao trong tôn giáo, nhân sĩ, trí thức có
tên tuổi, người nước ngoài có thể phải chịu mức hình phạt cao nhất thì thông
thường Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tham gia phiên
toà.
• Bị cáo
Bị cáo phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án. Nếu bị cáo vắng
mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải. Bị cáo tại ngoại đã được giao giấy
triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên toàn không có lý do chính đáng thì Thẩm
phán chủ toạ phiên toà ra lệnh áp giải đến phiên toà (trong ngày hoặc vài ngày
khác) để xét xử. Việc vắng mặt tại phiên toà được coi là có lí do chính đáng nếu bị
cáo gặp những trở ngại mà không thể có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của
Toà án. Lý do chính đáng phải được báo cho Toà án biết trước khi khai mạc phiên
toà.
Nếu bị cáo vắng mặt có lí do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Nếu bị cáo bị
bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án
cho đến khi bị cáo khỏi bệnh. Nếu bị cáo trốn, Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án
và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo. Nếu trong vụ án có nhiều bị cáo trong
đó có bị cáo bỏ trốn, có bị cáo không bỏ trốn thì Toà án vẫn quyết định tạm chỉ vụ
án đối với tất cả các bị cáo. Ngoài ra, Toà án có thể xử vắng mặt bị cáo trong những
trường hợp quy định tại khoản 2 điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Tại phiên toà, bị cáo phải được giám sát chặt chẽ. Nếu đang bị tạm giam thì khi
ra phiên toàn, bị cáo được tiếp xúc với người bào chữa nhưng phải thực hiện đúng
nội quy phiên toà và tuân theo sự điểu khiển của chủ toạ phiên toà. Việc tiếp xúc
với những người khác phải được phép của chủ toạ phiên toà. Trong trường hợp bị
cáo muốn được tiếp xúc với người khác thì phải nói rõ xin được tiếp xúc với ai và
LỚP NO1_TL1_NHÓM 2

4

Toà án nhân dân tối cao ngày 02/10/2004 hướng dẫn thực hiện hành một số quy
định trong Phần thứ nhất "những quy định chung" của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, trường hợp bị can, bị cáo, nhiều đại diện hợp pháp của họ không mời người
bào chữa và theo yêu cầu của Toà án văn phòng luật sư đã cử người bào chữ cho họ
…Thì tòa án phải thông báo cho bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị
can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất biết. Việc thông báo có thể bằng văn bản riêng, có thể được ghi trong quyết
định đưa vụ án ra xét xử.
LỚP NO1_TL1_NHÓM 2

5

Nguyễn Phương Thảo_341202


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Trước khi mở phiên toà, nếu bị can, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của
họ yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn
bản trong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Những
người nói trên cũng có thể trực tiếp đến Toà án yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người
bào chữa. Toà án phải lập biên bản ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người
bào chữa và người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản. Văn bản về
yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa phải được lưu vào hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà, bị cáo người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc
từ chối người bào chữa thì Hội đồng xét xử không cần lập thành văn bản riêng
nhưng phải ghi vào biên bản phiên toà. Hội đồng xét xử có thể quyết định chấp
nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của họ. Nếu hội đồng xét xử không chấp nhận

họ là cần thiết) hoặc vẫn cứ tiến hành xét xử (nếu sự vắng mặt của họ không trở
ngại cho việc xét xử, lời khai của họ ít quan trọng hoặc họ đã có lời khai ở Cơ quan
điều tra).
Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự
chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách
việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự (điều 191 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003).
- Người làm chứng
Người làm chứng vắng mặt tại phiên toà thì tuỳ từng trường hợp, Hội đồng xét
xử quyết định hoãn phiên toà (nếu sự có mặt của họ là cần thiết) hoặc vẫn tiến hành
xét xử. Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã có lồi khai ở Cơ quan
điêu tra và Toà án quyết định vẫn tiến hành xét xử thì chủ toạ phiên toà công bố lời
khai đó của họ (Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).
Người làm chứng đã được triệu tập nhưng cố ý không đến mà không có lí do
chính đáng thì hội đồng xét xử có thể ra quyết định dẫn giải. Nói chung toà án chỉ
quyết định dẫn giải người làm chứng khi sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc
xét xử, phải hoãn phiên toà.
Thủ tục dẫn giải người làm chứng được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003. Trong quyết định dẫn giải người làm chứng phải ghi rõ thời
gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định, họ tên, ngày
tháng, năm sinh, nơi cư trú của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm
chứng phỉa có mặt. Quyết định dẫn giải người làm chứng được gửi cho Thủ trưởng
Cơ quan điều tra cùng cấp. Người thi hành việc dẫn giải phải đọc, giải thích quyền
và nghĩa vụ của người làm chứng và lập biên bản về việc dẫn giải. Khi dẫn giải
không được đối xử thô bạo với người làm chứng; cơ quan ra lệnh dẫn giải người
làm chứng có trách nhiệm thanh toán tiền tàu, xe, ăn ở (nếu có) cho người làm
chứng và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ.
• Người giám định
Người giám định vắng mặt tại phiên toàn thì Toà án hoãn phiên toàn nếu thấy
sự có mặt của họ là cần thiết. Nếu người giám định đã có kết luận viết và sự vắng

• Người giám định vắng mặt tại phiên tòa;
14.Giới hạn của việc xét xử.
Theo Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy định về giới hạn xét xử, có hai ranh
giới mà tòa án không được phép vượt qua:
Một là, tòa án không được xét xử những người và những hành vi chưa được
Viện kiểm sát truy tố. Như vậy, tòa án chỉ bị giới hạn bởi tội danh nặng hơn chứ
không bị hạn chế bởi khung hình phạt nặng hơn. Cũng có nghĩa, tòa án có thể xét
xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Việt Kiểm sát truy tố trong cùng một Điều
luật.
Hai là, toà án không thể xét xử bị cáo về một tội khác nặng hơn tội mà Viện
kiểm sát đã truy tố. Ranh giới này được xác định bởi một yếu tố quan trọng đó là
tội danh mà Viện kiểm sát đã truy cứu.

LỚP NO1_TL1_NHÓM 2

8

Nguyễn Phương Thảo_341202


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Quy định này xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát và thể hiện tính nhân
đạo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
15.Việc rút quyết định truy tố.
Việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát được chia làm ba trường hợp như
sau:


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

tòa cho phép. Người phát biểu phải đứng dậy khi được xét hỏi, trừ trường hợp lý do
sức khỏa được tòa cho phép ngồi để trình bày.
Ba là, người dứoi 16 tuổi không được phép vào phòng xử án, trừ trường hợp
được tòa triệu tập.
Khi có sự vi phạm, tùy từng trường hợp, chủ tọa phiên tòa có quyền phạt cảnh
cáo, phạt tiền, buộc ròi khỏi phòng sử án hoặc ra lệnh bắt giữ. Đối với trường hợp
xử lý bằng hình thức buộc ròi khỏi phòng xử án thì chủ tọa phiên tòa không phải
lập biên bản và không phải ra quyết định bằng biên bản.Đối với trường hợp xử lý
bằng hình thức bắt giữ thì chủ tọa phải lập biên bản và ra quyết định bằng văn bản
(có thể được bắt giữ trước khi lập biên bản).
17.Việc ra bản án và các quyết định của tòa án.
Việc ra bản án và các quyết định của tòa án được thể hiện tại Điều 199
BLTTHS năm 2003 như sau: Bản án của Tòa án quyết định việc bị cáo có phạm tội
hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Bản án phải được
thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Quyết định về việc thay đổi thành viên
của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên
dịch, chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và
về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại
phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Quyết định về các vấn đề khác được
Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn
bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa
18.Biên bản phiên tòa.
Điều 200 quy định cụ thể về biên bản phiên tòa như sau:
Biên bản phiên tòa phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm của phiên tòa và
mọi diễn biến ởphiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án. Cùng với việc ghi

người bị kết án oan và đặc biệt trong năm 2006 không có trường hợp nào toàn án
kết án oan. Tuy nhiên, hiên nay, những quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên
tòa sơ thẩm cũng bộc lộ những thiếu sót cần phải kịp thời tháo gỡ. Trong đó, đáng
lưu ý là những hạn chế cần khắc phục như sau:
Về sự tham gia vào phiên tòa sơ thẩm hình sự, thực tiễn xét xử cho thấy
trường hợp đáng quan tâm nhất có lẽ là sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa
này. Hiện nay, trường hợp không bắt buộc phải có người bào chữa, nếu người bào
chữa không thể có mặt tại phiên toà xét xử, thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét
xử bình thường. Chỉ có một cách duy nhất thực hiện quyền và nghĩa vụ bào chữa
cho bị cáo, đó là người bào chữa gửi trước bản bào chữa cho Toà án. Theo nhiều
người làm việc trong các cơ quan pháp luật, quy định trên của Bộ Luật Tố tụng
Hình sự (BLTTHS) đã hạn chế quyền được có người bào chữa tại phiên toà của bị
cáo.
Do đó, cần thiết phải có sự điều chỉnh về mặt pháp luật để nâng cao hơn vị trí
của người bào chữa trong phiên tòa sơ thẩm hình sự.

LỚP NO1_TL1_NHÓM 2

11

Nguyễn Phương Thảo_341202


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Mặt khác, theo Điều 57 BLTTHS, những trường hợp sau đây phải bắt buộc có
người bào chữa: Bị can, bị cáo phạm tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình; Bị
can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể


Nguyễn Phương Thảo_341202


Bài tập lớn học kỳ

Môn Luật Tố Tụng Hình Sự

hơn tại phiên tòa. Thực tiễn cho thấy, tại phiên tòa, bên thực hành quyền công tố là
kiểm sát viên được Viện kiểm sát chỉ định tham dự phiên tòa sơ thẩm hình sự, họ
không đủ quyền hạn để tiến hành rút quyết định truy tố khi chưa có sự đồng thuận
từ phía Viện kiểm sát. Quy định này đã thể hiện một phương diện khá chủ quan khi
cho rằng kiểm sát viên có thể thay mặt Viện kiểm sát ra quyết định. Điều này rất dễ
dẫn tới việc kiểm sát viên đưa ra một quyết định không thực sự chính xác và khách
quan. Trong nhiều trường hợp, kiểm sát viên tham dự phiên tòa đã xin hoãn phiên
tòa để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên và cho dù vậy thì việc hội đồng xét xử chấp
nhận hoãn phiên tòa là một điều rất khó khăn.
Về việc thực hiện nội quy phiên tòa, hiện nay, nhiều phiên tòa sơ thẩm hình sự
không kiểm soát được sự quá khích của những người có liên quan tham dự. Dù vấn
đề này chỉ là thứ yếu so với các quy định khác, song việc đảm bảo một môi trường
thuận lợi và nghiêm trang cho việc xét xử là một yếu tố không thể thiếu giúp tăng
cường hiệu quả xét xử. Do đó, nên chăng cần thắt chặt và mạnh tay hơn nữa khi
xây dựng các biện pháp xử lý đối với người vi phạm trật tự phiên tòa để phòng
ngừa, răn đe những hiện tượng gây náo loạn phiên tòa sơ thẩm hình sự.

C. KẾT LUẬN
Những quy định chung về thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là hành lang
pháp lý an toàn để hoạt động tố tụng trong phiên tòa được diễn ra hiệu quả và toàn
diện. Mang tính chất nền tảng, những quy định này hiện nay đã và đang củng cố
pháp chế XHCN trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tố tụng hình sự. Mặc dù còn những

14

Nguyễn Phương Thảo_341202




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status