Đánh giá chung và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kqkd tại công ty vật liệu nổ công nghiệp - Pdf 64

Đánh giá chung và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán
tiêu thụ thành phẩm và xác định kqkd tại công ty vật liệu nổ công
nghiệp
I - đánh giá chung
1.1 Đánh giá chung
Công ty Vật liệu nổ công nghiệp là một công ty có quy mô lớn, với một mạng lưới hoạt động tại khắp
mọi nơi trong cả nước, làm nhiệm vụ cung cấp vật liệu nổ công nghiệp cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công ty có lịch sử hình thành và phát triển trên 35 năm, đang từng bước nghiên cứu đổi mới công nghệ sản
xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường. Trong quá trình hoạt động của mình công ty luôn
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của chính phủ, các cơ quan chức năng trong việc tạo ra hành lang pháp lý
thuận tiện góp phần tạo nên những thành công của công ty. Công ty cũng luôn nhận được sự quan tâm, chỉ
đạo thường xuyên và thiết thực của đơn vị chủ sở hữu là Tổng công ty Than Việt Nam. Tuy nhiên, do sản
phẩm vật liệu nổ công nghiệp là loại sản phẩm đặc biệt nên việc tiêu thụ còn khó khăn. Việc bán hàng của
công ty chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan Nhà nước về kế hoạch, số lượng bán, giá bán cũng như
lượng chi phí sản phẩm. Khách hàng của công ty không phổ biến mà chủ yếu là những bạn hàng lâu năm,
thường mua sản phẩm của công ty với số lượng lớn. Những khách hàng này khi muốn mua sản phẩm vật
liệu nổ công nghiệp của công ty phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Điều này một phần nào
cũng hạn chế quá trình mở rộng, phát triển của công ty. Trong những năm gần đây công ty có một đối thủ
cạnh tranh đó là công ty GAET - Bộ quốc phòng. Mặc dù vậy thị phần cua công ty vẫn luôn chiếm một tỷ
trộng lớn (trên 80%). Công ty GAET chỉ tập trung chủ yếu vào những thị trường nhỏ.
Trong quá trình hoạt động và phát triển của mình công ty đã đạt được những kết quả sau:
Công ty đã xây dựng và giữ vững được bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ tại công ty và các đơn vị
trực thuộc, từng bước đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao dần chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ
công nhân viên. Dưới sự chỉ đạo của Tổng công ty Than và sự giúp đỡ của các bộ ngành có liên quan, công ty
luôn xây dựng được các chủ trương, đường lối đúng đắn, giải pháp thích hợp. Công ty chủ động hợp tác đầu
tư với các nhà máy quốc phòng, với các bạn hàng trong và ngoài nước. Trên cơ sở tăng nhanh nội lực của
công ty, công ty Vật liệu nổ công nghiệp vừa đẩy mạnh sản xuất, cung ứng vật liệu nổ công nghiệp, đầu tư
trang thiết bị, cải tiến dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa mở rộng ngành nghề kinh
doanh, tăng nhanh sản xuất các sản phẩm khác.
Công ty có hệ thống trang thiết bị đầy đủ, hiện đại đảm bảo cho quá trình hoạt động của mình.
Trong những năm gần đây, kết quả sản xuất kinh doanh của công ty luôn đạt ở mức cao, góp phần

tiêu thụ, thanh toán tiền hàng, ghi nhận doanh thu bán hàng chính xác, kịp thời theo đúng quy định của Bộ
tài chính, và của Tổng công ty Than Việt Nam. Hệ thống sổ sách doanh thu, chi phí, quan hệ thanh toán với
khách hàng, với Nhà nước, chứng từ kế toán và luân chuyển chứng từ có tính khoa học và đảm bảo được
nguyên tắc của chế độ kế toán hiện hành đồng thời phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty.
Công ty luôn tuân thủ các chính sách của Nhà nước về tiêu thụ, tổ chức công tác kế toán phù hợp, có hiệu quả
đê phản ánh, giám đốc tình hình tiêu thụ, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Vì vậy kế toán tiêu thụ
đã góp phần giúp doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ với Nhà nước, cũng như giúp doanh
nghiệp bảo vệ tài sản của doanh nghiệp trong lĩnh vực lưu thông. Những thông tin kế toán này tạo cơ sở tin
cậy cho các nhà lãnh đạo công ty đề ra phương hướng, chính sách phù hợp, nhằm mở rộng thị trường, nâng
cao chỉ tiêu doanh thu từ đó góp phần đưa công ty từng bước phát triển đi lên, nâng cao đời sống cho cán bộ
công nhân viên của công ty.
Kế toán hoạt động kinh doanh được chi tiết cho từng loại hoạt động một cách rõ ràng để từ đó tăng
cường đầu tư cho những hoạt động mang lại hiệu quả kinh doanh cao đồng thời có những biện pháp hữu
hiệu để đẩy mạnh đa dạng hoá các hình thức kinh doanh khác.
1.3 Những tồn tại trong công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ
thành phẩm
Bên cạnh những mặt đạt được, công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm
vẫn còn những tồn tại cần khắc phục.
Thứ nhất, vấn đề quản lý công nợ của công ty còn có nhiều vướng mắc. Tổng khoản phải thu và
phải trả còn chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng tài sản, tổng nguồn vốn kinh doanh của công ty. Điều này tạo
khó khăn cho công ty trong quá trình hoạt động. Như chúng ta đã biết, với tổng số công nợ phải trả quá cao,
sẽ gây cho công ty rất nhiều khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn và quá hạn, cũng như việc
chi trả các khoản lãi vay. Mặc dù trong năm 2003 công ty đã có nhiều cố gắng để giảm bớt các khoản phải
trả song tỷ lệ công nợ phải trả/ tổng nguồn vốn vẫn còn ở mức rất cao. Những năm tới công ty cần quan
tâm xây dựng các biện pháp giảm công nợ phải thu, góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính của công ty.
Nguồn vốn của công ty bị khách hàng chiếm dụng đang ở mức cao, dẫn đến số vòng quay của vốn lưu động
nhỏ, thời gian quay vòng dài, do đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp. Những tháng đầu năm 2003 công ty
đã thực hiện một số các biện pháp cụ thể để đẩy nhanh công tác thu hồi công nợ nhưng đến cuối năm thì
tổng số công nợ phải thu vẫn còn rất lớn.
Thứ hai là về vấn đề quản lý hàng tồn kho. Đến thời điểm ngày 31/12/2003 tổng giá trị hàng tồn

doanh gnhiệp. Tài khoản này chỉ được sử dụng ở công ty. Các chi phí quản lý phát sinh ở cá đơn vị trực thuộc
được hạch toán một phần vào giá thành thành phẩm, phần còn lại được tính vào chi phí bán hàng. Tại công
ty sẽ tính lẫi (lỗ) từ hoạt động sản xuất kinh doanh của riêng công ty, sau khi trừ đi tổng chi phí quản lý tập
hợp trên TK 642 và cộng với các khoản chênh lệch của các đơn vị trực thuộc để tính ra lãi (lỗ) của toàn công
ty. Làm như vậy thì kết quả kinh doanh của toàn công ty Vật liệu nổ công nghiệp không bị ảnh hưởng, nhưng
kết quả kinh doanh của riêng công ty và các đơn vị sẽ không phản ánh chính xác tình hình kinh doanh thuốc
nổ của công ty, vì các khoản chi phí quản lý phát sinh trên công ty không phải toàn bộ là chi phí quản lý riêng
phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty, mà nó còn bao gồm cả chi phí cho việc quản lý, điều hành
hoạt động kinh doanh của các đơn vị trực thuộc khác, của toàn công ty như chi phí hoạt động của Hội đồng
quản trị, của ban Giám đốc, của các phòng ban.... Mặt khác ngay tại các đơn vị trực thuộc cũng có bộ máy
quản lý riêng. Vì vậy công ty cần có sự thay đổi lại trong hạch toán chi phí quản lý.
Thứ năm, là về hạch toán chi tiết tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm.
Như chúng ta đã biết, sản phẩm chính của công ty là 4 loại vật liệu nổ công nghiệp: Anfo thường,
Anfo chịu nước, AH1, Zecno. Công ty cần tiến hành quản lý qúatrình tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ đến
từng loại thành phẩm cụ thể. Từ đó thấy được tình hình kinh doanh của mỗi loại sản phẩm, đưa ra các chính
sách, phương hướng phát triển cho phù hợp, đúng đán.
Hiện nay tất cả các sổ chi tiết của công ty liên quan đến phần hành kế toán tiêu thụ và xác định kết
quả tiêu thụ đều mở chung cho cả 4 loại thành phẩm này, do đó công ty không thể theo dõi đựoc quá tình
tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ của từng loại thành phẩm một cách riêng rẽ. Hơn nữa kết cấu của các sổ
doanh thu cũng chưa hợp lý, chúng chỉ phản ánh được những thông tin về mặt giá tiu. để toạ điều kiện cho
công tác kiểm tra đối chiéu thì các sổ chi tiết nên theo dõi thêm về mặt số lượng, và có thêm một số thay đổi
khác cho phù hợp như: Đơn giá, thuế GTGT...
Thứ sáu, Công ty chưa hạch toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý theo yếu tố chi phí. Trên thực tế
kế toán có chi tiết theo yếu tố chi phí và phần mềm kế toán máy cũng thiết kế phần hạch toán chi tiết theo chỉ
tiêu trên, nhưng khi hạch toán trên máy kế toán bỏ qua và không định khoản cột mã chi tiết theo yếu tố chi
phí, do đó máy không tự động đưa ra các sổ chi tiết chi phí bán hàng, sổ chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp
riêng theo từng yếu tố chi phí và trên Bảng kê số 5 cũng không có các dòng chi tiết về chi phí nhân viên, chi
phí vật liệu, dụng cụ, chi phí khấu hao... giống như mẫu quy định. Việc không hạch toán như vậy sẽ gây khó
khăn cho công tác quản lý, lập kế hoạch và đối chiếu giữa các phần hành khác có liên quan.
II- MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

* Trình tự hạch toán:
Dư nợ phải
thu của
khách
h ng nghià
Mức dự phòng
phải thu khó đòi
được lập cho
năm kế hoạch
x% Mất nợ có
thể
=
- Vào thời điểm 31/12/N - năm đầu tiên lập dự phòng, kế toán tính ra mức dự phòng cho năm N+1.
Số dự phòng được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
Nợ TK 642: Mức dự phòng lập cho năm N+1
Có TK 139
- Ngày 31/12/N+1 tiến hành lập dự phòng cho năm N+2 ròi tính ra chênh lệch giữa số dự phòng cần
lập của hai năm.
Nếu mức dự phòng năm N+2 lớn hơn năm N+1 thì hạch toán như sau:
Nợ TK 642 : Phần chênh lệch.
Có TK 139
Nếu mức dự phòng năm N+2 nhỏ hơn năm N+1 thì kế toán tiến hành hoàn nhập dự phòng phần
chênh lệch, ghi giảm chi phí quản lýdoanh nghiệp.
Nợ TK 139: Phần chênh lệch
Có TK 642
- Nghiệp vụ xoá nợ phải thu khó đòi:
+ Khi có quyết định xoá nợ khó đòi:
Nợ TK 139: Nếu đã lập dự phòng.
Nợ TK 642: Nếu chưa lập dự phòng
Có TK 131: Nợ xoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status