Đánh giá thực trạng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giải
có yếu tố nước ngoài kể từ khi Việt Nam tham gia Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền
tác giả.
Lê Thị Thu, Bảo hộ quyền tá giả theo quy định của công ước Berne và vấn đề thực thi công ước
tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, 2011.
Ngày 26 tháng 7 năm 2004, chính phủ Việt Nam đã nộp văn kiện gia nhập Công ước Berne. Trong văn kiện
này, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố bảo lưu các quy định tại Điều 33(1) của Công ước
Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công
ước Berne. Công ước Berne có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2004.
Thực trạng quy định của pháp luật việt nam về quyền tác giả.
Ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam 1946, quyền tác sgiar đã được ghi nhận với
các quyện cụ thể như: quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, quyền nghiên cứu khoa học, sáng
tác văn học nghejej thuật và bảo đảm quyền tư hữu tai fsanr cùng quyền lợi trí thức.
Chúng ta đã ban hanahf văn bản riêng biệt đầu tiên quy định về quyền tác giả tại Nghị định
142/1986/NĐ-Cp năm 1986. Từ đó đến nay có nhiều văn bản ra đời và sửa đổi thể hiện bươc
tiến đáng kể trong hoạt đọng lập pháp về lĩnh vực này. Sauk hi gia nhập Công ước Berne
(2004), Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đưa hệ thống SHTT nói chung và quyền tác giả nói
riêng từng bươc phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Về cơ bản những quy định của pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu bảo hộ quyền tác
giả trong nước và tạo điều kiện giao lưu văn hóa với nhân loại. Pháp luật đã tạo lập được môi
trường kích thích lao động sáng tạo, là phương tiên để tác giải bảo vệ được lợi ích hợp pháp của
mình, là công cụ để quản lý xã hội tránh tình trạng tự do sử dụng tác phẩm của người khác.
Tác động của công ước berne tới Pháp luật veeff quyền tác giả ở Việt Nam
sau khi gia nhập Liên minh berne, pháp luật Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt theo
hướng tương thích với những quy định của Công ước này.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc hoàn thienj pháp luật quốc sgia cho phù hợp với pháp
luật quốc tế là cần thiết. Do đó mà ngay sau khi tahm gia Berne, một loạt các luật mới liên quan
tới quyền tác giả được ban hành : BLDS 2005, Luật SHTT 2005….theo đó, các nhà làm luật đã
kết thừa nội dung các quy định về quyền tác giả phù hợp với berne của Việt Nam trươc skhi
tham gia công ước.
quốc tế, tạo môi trường pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế một cách toàn diện. Qua việc
nhìn lại bức tranh toàn cảnh thực trạng quy định pháp luật về quyền tác giả, ta đã thấy được
nỗi lực cua rVn trên con đường tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là CƯ berne để có
được hệ thống quy phạm chuẩn và khả thi như hiện nay.
Thực tiễn áp dụng công ước berne tại Việt Nam
Thành tựu
Gần 7 năm thực hiện cư berne- 1 khoảng thời gian chưa lâu nhưng ĐƯQT này đã tạo nên
những chuyển biên đáng ghi nhận
Thứ nhất, gia nhập cư berne , Việt Nam đã tạo cho mình những tiên fđề đáng kể từng
bước hội nhập nền kinh tế quốc tế. sau khi gia nhập cư berne , Việt Nam đã lần lượt tham
gia các ĐƯQT về quyền tác giả: CƯ gionever bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, CƯ Brussels,
2
hiệp định Trips, CƯ rome…Việc trở thành thành viên chính thức của Liên hiệp berne cũng
là đọng lức thúc đẩy quá trình gia nhập tổ chứng thương mại thế giowisw (WTo). Hoàn
thiện hệ thống pháp luật sao cho phù hợp vơi snhwngx quy tắc xử sự chung trên thế giới là
hướng đi nhanh chóng và heieuj quả nhất để hội nhập.
Thứ hai, Việt Nam cũng đã thúc đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên báo chí và các
phương tiện thông tin đại chúng vì thế công chúng dần dần ý thức được ý nghĩa ucuar việ b
ảo hộ quyền tác giả. Trong khi tình trạng vi phạm bản quyền ddang ngày càng gia tăng thì
đây là một bước tiến không nhỏ trong nhận thức và thói quen sử dụng tác phẩm. Các tác giả,
nghệ sĩ, dịch giả , nhà xuất bản, đài truyền thanh, truyheenf hình đã chủ đọng hơn trong việc
mua bản quyền tác phẩm nước ngoài, cũng như quan taamhown đến việc bảo hộ chính tác
phẩm của mình.
Cụ thể : năm 2009, cụ bản quyền đã thụ lý hồ sơ, cấp 4560 giấy chứng nhận cho 4560 tác
giả, chủ sở hữu tác phẩm (bắc : 3418, nam 1484).
Thứ ba, về mặt tổi chức, sau khi gia nhập Liên hiệp Bern hệ thống tổ chức quản lý quyền
tác giả bao gồm: Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc (VCPMC), trung tâm quyền tác
giả văn học (VLCC), hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam(RIAV)…đã được thành lập và
quyền, gây mất cân đối trong xuất bản mà tai hại hơn, nó còn làm đình trin nhiều giao địch xuất
bản lành mạnh và đe dọa phá hỏng cả thị trường sách Việt Nam.
Như trường hợp FAhasa (năm 2009) , đại diện hang Disney đã yêu cầu đơn vị phải thu
hồi các ấn phẩm không có bản quyền của Disney đang bày bán trong các nhà sách trên toàn
quốc nếu không muốn đối mặt với các vụ kiện từ trong nước đến quốc tê.s Và đơn vị đã phải
thu hồi các bản sách đang bày bán dù các ấn bản đó về mặt danh nghĩa có giấy phép xuất bản
hợp pháp.
Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh băng, đĩa: tình trạng nhập lậu, in lậu, lưu hành và
kinh doanh băng , đĩa lậu , vi phạm bản quyền đã diễn ra trong nhiều năm, đây là vấn đề nhức
nhaoois trong lwinhx vực bản quyền. Thị trường băng đĩa lậu hiện nay phát sinh, biến tướng
nhiềuh ình thức và kiểu cách mới tinh vi khó lường. Vừa qua cơ quan công an đã triệt phá tận
gốc nhiều ổ in sang đĩa phim đồi trụy vơi số lượng hàng ngàn đãi và hàng ngàn tập tin trong
máy vi tính. Đốii tượng vi phạm sử dụng những ứng dụng côn nghệ tin học tỏng việc mua và tải
phim từ những trang web đồi trụy trên internet va flwu trừ tỏn gmays vi tính dươi sdngj những
tập tin nén sau đó có thể biên tập lại và in sang hàng loạt, đem kinh doanh. Đây là hình thức rất
mới và lân nhanh một cách nguy hiểm. Đây là hình thức rất mới và lan nhanh một cách nguy
hiểm.
Sau khi Nghị định 75/2010/ND-CP về qui định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt
động văn hóa (thay thế các qui định tại Chương II Nghị định số 56/2006/ND-CP ngày
6/6/2006) có hiệu lực từ đầu tháng 9/2010, nhưng tình trạng sao chép đĩa lậu vẫn tràn lan. Điểm
mới là ngoài các qui định xử phạt những người in, sao chép, bán và cho thuê băng đĩa lậu, Nghị
định còn qui định xử phạt người mua băng đĩa lậu. Theo qui định, khi đi kiểm tra các cửa hàng,
nếu gặp người mua đĩa không tem, nhãn hoặc dán nhãn giả từ 10 cái trở lên sẽ phạt tiền với
những mức phạt khác nhau. Nhưng trên thực tế, rất ít khi gặp người mua 10 đĩa một lúc.
Hầu hết, những người làm công tác xuất bản đều cho rằng, việc giải quyết nạn băng đĩa lậu, cần
có sự chung tay của cả cộng đồng.
+ Trong lĩnh vực âm nhạc: Tháng 2 năm 2009, VCPMC đã có công văn gửi Bộ trưởng Bộ
Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục trưởng Cục Bản
4
các đĩa CD ROM này gồm: Hệ điều hành Microsoft Windows XP, Microsoft Office 2003, bộ
Từ điển Lạc Việt, bộ gõ Vietkey và phần mềm diệt virus Norton Antivirus.
Thông tin từ đoàn thanh tra cho biết, tổng giá trị các phần mềm bất hợp pháp ước tính lên
tới hơn 200 triệu đồng. Điều này cho thấy không chỉ những phần mềm của các doanh nghiệp
phần mềm nước ngoài bị xâm hại mà ngay chính những sản phẩm phần mềm trong nước cũng
đang bị sao chép tràn lan.
5
Trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật: Biểu diễn âm nhạc là lĩnh vực có tình trạng vi
phạm quyền tác giả khi biểu diễn nhiều nhất, không xin phép hoặc có xin phép nhưng không trả
thù lao.
Gần đây nhất, người ta xôn xao khi Việt Nam Idol Uyên Linh “lỡ” vi phạm bản quyền
khi thể hiện ca khúc “Đường cong” do Thu Minh và Nguyễn Hải Phong nắm quyền tác giả.
Những trường hợp như trên không phải là hiếm, rất nhiều ca sĩ Việt cũng từng phải chịu trách
nhiệm về việc sử dụng không xin phép tác phẩm của người khác để biểu diễn. Tuy nhiên sau
khi gia nhập Công ước Berne, tình trạng này có giảm đi đáng kể so với thời kì trước.
Trong các lĩnh vực khác như: Hội họa, điện ảnh,…: Tình trạng vi phạm bản quyền
trong những lĩnh vực này ngày càng trở nên tinh vi hơn. Hàng ngàn các cửa hàng bán tranh mọc
lên, một phần trong đó là tranh giả. Việc những tác phẩm của các họa sĩ nổi tiếng: Bùi Xuân
Phái, Thành Chương, Lê Thanh Sơn,… bị làm giả gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới nghệ
thuật hội họa trong nước. Không những thế, rất nhiều tác phẩm của các tác giả nước ngoài cũng
bị làm giả một cách tinh vi và lưu hành rộng rãi, điều đó gây những ấn tượng không tốt cho
Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ hai, mức độ vi phạm của tình trạng vi phạm quyền tác giả ngày càng nghiêm
trọng.
Như đã trình bày sơ lược ở trên về mức độ ngày càng tinh vi và nguy hiểm của các hình
thức vi phạm bản quyền trong hầu hết các lĩnh vực xoay quanh tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học.
Thứ ba, xử lí vi phạm quyền tác giả còn gặp nhiều khó khăn và bất cập.
Khi phát hiện có hành vi vi phạm quyền tác giả có thể được giải quyết theo thủ tục hành
chính, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng hình sự. Tuy nhiên, số vụ việc được đưa ra tòa rất
ít, chủ yếu là giải quyết bằng thủ tục hành chính. Hàng năm lực lượng quản lí thị trường kiểm
tra và xử lí hàng ngàn vụ vi phạm sở hữu trí tuệ nhưng chủ yếu do cảnh sát kinh tế, Quản lí thị
trường và Thanh tra Văn hóa thông tin phụ trách giải quyết. Trong khi vi phạm quyền tác giả
đang trở thành một vấn nạn thì chính những người mà quyền lợi của họ bị xâm phạm tỏ ra rất e
ngại khi tốn thời gian, công sức và tiền bạc cho việc hầu tòa. Điều đó đặt ra câu hỏi cho các nhà
làm luật về một cơ chế tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả bảo vệ được tác phẩm của mình,
bên cạnh đó thì đội ngũ được đào tạo chuyên nghiệp sẽ là yếu tố quan trọng nhất tạo nên lòng
tin của công chúng.
3.3. Nguyên nhân và giải pháp nhằm thực thi công ước Berne có hiệu quả tại Việt Nam.
3.3.1. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm bản quyền trong những năm thực thi công ước
Berne tại Việt Nam.
Thứ nhất, trong hơn một thập kỉ qua Việt Nam đã và đang phải khắc phục tình
trạng vi phạm bản quyền diễn ra trầm trọng.
Khi tham gia Công ước Berne, Việt Nam đang diễn ra tình trạng vi phạm bản quyền trầm
trọng. Với phạm vi ngày càng lan rộng trên hầu hết các lĩnh vực liên quan tới quyền tác giả và
mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, nên việc đưa Công ước thực thi tại Việt Nam,
ngay từ đầu tiên đã gặp những trở ngại không nhỏ.
Do mặt trái của cơ chế thị trường đã thúc đẩy một số tổ chức, cá nhân bất chấp pháp luật,
đạo đức, chạy theo lợi nhuận bất chính. Với thực trạng đó, không ít các nhà lao động sáng tạo
chân chính nhụt chí, cũng không tạo được môi trường lành mạnh cho rất nhiều tài năng.
7
Khi vi phạm bản quyền lan rộng hơn nữa, không chỉ làm thiệt hại tới những tổ chức cá
nhân có quyền lợi chính đáng mà còn làm mất đi những điều kiện giao lưu quốc tế. Nhiều vụ
việc đã xảy ra trên thực tế như: Năm 2008, VTV đã không được truyền hình trực tiếp đêm
nhất với quyền tài sản.
- Qui định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả.
8
Pháp luật Việt Nam qui định các quyền nhân thân không gắn với tài sản hay quyền nhân
thân không thể chuyển giao của tác giả được bảo hộ vô thời hạn. Còn quyền nhân thân gắn
với tài sản hay quyền nhân thân có thể chuyển giao của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và
quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ có thời hạn là suốt cuộc đời tác
giả và 50 năm sau khi tác giả chết…
Thứ ba, việc quản lí Nhà nước về bảo hộ quyền tác giả chưa hiệu quả
Theo qui định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật SHTT thì Chính phủ thống nhất quản
lí Nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan. Trong đó, Cục bản quyền tác giả Văn học –
Nghệ thuật là cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể Thao, Du lịch thực hiện chúc năng quản lí Nhà
nước về quyền tác giả.
Nhìn chung trên thực tế, hệ thống các cơ quan có chức năng quản lí về bảo hộ quyền tác
giả còn thiếu đồng bộ dẫn tới hiện tượng chồng chéo chức năng hay quá nhiều tầng nấc xử lí
khiến qui trình bảo hộ trở nên phức tạp. Trong đó có các cơ quan hành chính như: UBND
các cấp, Thanh tra Văn hóa, Cảnh sát kinh tế, Quản lí thị trường, hải quan,…
Bên cạnh các cơ quan hành chính, các cơ quan tư pháp cũng có nhiệm vụ rất quan trọng
trong việc đảm bảo thực thi quyền tác giả, nhưng thực tế thì cơ quan này chưa phát huy
được vai trò của mình. Vấn đề nhân lực là yếu tố tạo nên sự chênh lệch này trong thực tế vì
vậy chú trọng yếu tố con người là việc làm cần thiết của các cơ quan tư pháp.
Thứ tư, ý thức pháp luật chưa cao.
Về phía tác giả, chủ sở hữu tác phẩm: Đa số những chủ thể sáng tạo còn chưa thực sự ý thức
sâu sắc về quyền tác giả. Khi có sự xâm phạm xảy ra với tác phẩm của mình, không phải tác
giả nào cũng kiên quyết đòi lại tác quyền mà không ít trường hợp “làm lơ”. Nhiều tác giả
còn nặng về hư danh, có tâm lí ngại đề cập tới tiền bạc, coi tác phẩm của mình đã được đón
nhận và không đòi hỏi gì hơn… Các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cần chủ động hơn
tắc bảo hộ tioosi thiểu của cư, lại phù hợp vwois điều kiện của nước ta thì thiết nghĩ không
nên điều chỉnh, rập khuôn cứng nhắc theo cư.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật sx tạo ra hành lang pháp lí thoogns nhất không chri đáp ứng
được tình trạng trong nước mà còn phù hợp với thông lệ và chuẩn mực pháp lí quốc tế.
- Tăng cường tính hiệu quả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi quyền tác giả
như đã phân tích ở phần trên, một trong những khó khăn của việc thực thi CƯ Berne,
cugnx như pháp luật về quyền tác giả trong thực tế là do các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền chưa hiệu quả. Bên cạnh việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tác
giả, để đáp ứng được yêu cầu bảo hộ trong nước và hội nhập quốc tế thì hệ thống thực thi
quyền tác giả cũng cần đượ cải cách đẻ nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của các
cơ quan này.
Hiện nay các cơ quan có thẩm quyền thực thi quyền tác giả thì nhiêu nhưng thẩm quyền
thì chồng chéo. Nên việc cần làm ngay lúc này là phải làm rõ chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn cẩu cac stoor chức này, để không có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, vi phạm
thì vẫn xảy ra hằng ngày, nhưng nhiều trường hợp các cơ quan lại cho rằng đó không
thuộc thẩm quyền của mình là mà là của cơ quan khác. Thẩm quyền thì ai cũng có ,
nhưng cuối cùng trách nhiệm lại đổ thừa cho nhau
10
Cần cải cách hệ thống tư pháp trong đó nâng cao vai trò của Ta để dáp ứng được yêu cầu
của công tác giải quyết tranh chấp và vi phạm về SHTT. Có ý kiến cho rằng cần có một
tòa chuyên trách vevef SHTT. Nhưng thiết nghĩ điều đó là không cần thiết và cũng không
phù hợp với điều kiện nước tta như hiện nay. Việc làm cần thiết lúc này là cần nâng cao
trình độ của thẩm phán về SHTT nói chung và quyền tác giả nói riêng. Trong thời gian
tới cần thiêt sphari đưa một số thẩm phán có trình độ ngoại ngữ đi đào tạo về SHTT ở
nước ngoài, nhằm bồi dưỡng xây dựng một odoij ngũ thẩm phán chuyên nghiệp, có hiểu
biết sâu vê flinhx vực SHTT, giải quyết nhanh chóng, chính xác các vụ việc, tạo niềm tin
về sự công bằng và hiệu lực đối vwois các quyết địnhc ủa TA.
thức pháp luật của ng dân ko cao. Để pháp luật đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, trước
tiên công chugns phải biết và hiểu các qui định pháp luật đó. Do đó nhiệm vụ đạt ra là phải đẩy
mạnh các công tác tuyên truyền, giáo dục dưới nh hình thức nhằm nâng cao nhận thức và tri
thức về quyền tác giả nói chung và cư berne nói riêng.Cần nhanh chóng tổ chức việc tuyên
truyền , phổ biến hướng dẫn kỹ lượng nội dung cư berne cho toàn xh đặc biền cần tập tủng
những kiến thức căn bản, theiets twhcj nhất cho các tổ chức, cá nhân có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan như các tác giả, nxb, cty bản quyền, các cơ quan quản ly snn cơ quan thông tấn báo chí.
Để thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền cần :
+ Tổ chức các cuộc hội thảo về cư berne và vấn đề thực thi cư berne tại Việt Nam
+ sử dụng các ptien báo chí, truyền thông đại chúng, internet để truyền tải các nội dung của cư
berne đến đông đảo ng dân
+ phát động các cuộc thi tìm hiểu nội dung và vai trò của cư berne trong đời soogns xh hiện
nay.
+ tổ chức các chwowgn tình xh với quy mô lớn tạo dư luận, tác động đến tâm lý công chugns
khiến họ hình thành ý thức bảo vệ các sản phẩm có bản quyền, tẩy chay hàng hóa vi phạm bản
quyền
+ đưa các kiến thức về quyền tác giả, cư beren nói riêng và shtt nói chung vào tỏng học
ddowwngf.
- đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết với tình tạng vi phạm bản quyền.
cần phối hợp thực hiện nh biện phpas khác nhau như: dấu tranh bằng dư luận xh, tạo nên làn
song tẩy chay hàng vi phạm bản quyền, thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên và xử lý
nghiêm minh, kịp htowi facs hành vi vi phạm bản quyền đố ivowis các hành vi đã cấu tahnfh
tội phạm thì phải truy cứu tnhs, bên cạnh đó khuyến khích khen thưởng đối vwois các tổ chức
cá nhân đóng góp cho công cuộc chóng vi phạm bản quyền.
- tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền tác gải
là tv của lieenhieepj berne với hơn 160 quốc gia tv, Việt Nam cần tăng cường sự hợp tác về nh
mặt với chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế về shtt. Cần tích cực tham gia hoạt động có
hiệu quả hơn các chương trình hành đọng trong khuôn khổ tổ chức wipo , tranh thủ sự ủng hộ
về mọi mặt của tổ chức cho việc thực hti cư berne tại Việt Nam, cử các chuyên gia trong lĩnh
vực shtt đi học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia thực hiện có hiệu quả cư berne, tranh thủ sự