Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của hộ gia đình bà nguyễn thị a và ông nguyễn văn b trú tại thôn trung lập, xã tri trung, huyện phú xuyên, đối với các quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đa - Pdf 34

MỤC LỤC

PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................... 2
PHẦN 2. NỘI DUNG ........................................................................................ 4
2.1. Mô tả tình huống: ........................................................................................ 4
2.2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống:............................................................ 5
2.3. Nguyên nhân: ............................................................................................ 12
2.4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống: ................ 14
2.5. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn (phương án 3): 16
PHẦN 3. .......................................................................................................... 20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 20
3.1. Đánh giá: ................................................................................................... 20
3.2. Kết luận và kiến nghị:................................................................................ 20

1


PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ,
nhân dân ta tốn bao công sức và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và
bảo vệ được vốn đất như ngày nay.
Tại Khoản 1, Điều 5, luật Đất đai năm 2003 quy định “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”; Khoản 1, Điều 6, luật Đất đai
năm 2003 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai”. Điều đó cho thấy
rằng công tác quản lý đất đai là vô cùng cấp thiết và quan trọng. Trong đó, phải
kể đến công tác giải quyết tranh chấp đất đai là nhiệm vụ quan trọng được Đảng,
Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm nhằm ổn định sản xuất kinh doanh,
tinh thần đoàn kết của nhân dân cũng như giữ gìn an ninh, trật tự và ngăn ngừa

Tuy nhiên, đây là một vấn đề mang tính lý luận gắn với thực tiễn nơi tôi
đang công tác có đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân, do thời gian có hạn và
bản thân mới được tiếp cận với lĩnh vực tiếp dân và tổng hợp nên bài viết sẽ còn
nhiều thiếu sót cần bổ sung. Mong nhận được sự quan tâm và sự giúp đỡ của
thầy giáo, cô giáo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn giúp cho bản thân có
thêm kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn và trong phạm vi chức
năng nhiệm vụ được giao.

3


PHẦN 2. NỘI DUNG
2.1. Mô tả tình huống:
Năm 2004, gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B trú tại thôn
Trung Lập, xã Tri Trung, huyện Phú Xuyên tự ý canh tác trên một phần diện
tích đất công ích tại khu đồng Bến, thôn Trung Lập. Đến tháng 7 năm 2007, do
biết được thông tin UBND xã Tri Trung và UBND huyện Phú Xuyên có chủ
trương cho thuê khu đất trên để san lấp, tạo mặt bằng phát triển ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp của địa phương. Gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn
B đã tiến hành xây tường bao ngăn, đổ đất san lấp mặt bằng phần diện tích đất
trên. UBND xã Tri Trung đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và yêu
cầu gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B chấm dứt hành vi vi phạm.
Nhưng sau đó gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B vẫn tiếp tục xây
tường bao, tập kết vật liệu để xây dựng nhà. UBND xã Tri Trung tiếp tục lập
biên bản vi phạm hành chính lần 2, đình chỉ xây dựng và yêu cầu gia đình bà
Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B phải khôi phục hiện trạng ban đầu và trả
lại diện tích đất trên cho UBND xã quản lý đồng thời báo cáo UBND xã để ra
quyết định xử lý vi phạm hành chính. Trong thời gian trên gia đình bà Nguyễn
Thị A và ông Nguyễn Văn B đã xây dựng xong nhà cấp 4 với diện tích 20m2 và
02 gian công trình phụ với diện tích 09 m2. UBND xã Tri Trung đã có Quyết

Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B đang sử dụng.
- Kiểm tra việc ra các Quyết định xử lý, cưỡng chế và việc giao các quyết
định trên cho đương sự.
- Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại lần đầu.
2.2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống:
Tiến hành phân tích tình huống nhằm mục tiêu làm sáng tỏ tình huống,
hiểu rõ tình huống, xem xét cụ thể diễn biến các tình tiết của tình huống trên cơ
sở các quy định pháp luật hiện hành có liên quan để xem các tình tiết trong tình
huống có sai phạm gì, thuộc quy định ở văn bản pháp luật nào, mối liên hệ của
các tình tiết như thế nào, trách nhiệm của các bên liên quan trong tình huống
như thế nào, có gì vi phạm, … để có cơ sở giải quyết tình huống một cách khách
5


quan, hợp tình hợp lý, đúng quy định của pháp luật.
2.2.1. Giải quyết các vấn đề:
a. Xác minh nguồn gốc thửa đất gia đình bà Nguyễn Thị A và ông
Nguyễn Văn B đang sử dụng:
Việc đầu tiên ta phải xác định thửa đất mà gia đình bà Nguyễn Thị A và
ông Nguyễn Văn B đã lấn chiếm thuộc thửa số bao nhiêu? Diện tích bao nhiêu?
thuộc tờ bản đồ nào? Được đo đạc năm nào? Ngoài ra còn cần xác minh làm rõ
về chủ thể sử dụng đất, mục đích sử dụng đất căn cứ vào sổ mục kê giải thửa do
cán bộ địa chính xã cung cấp. Trong quá trình sử dụng đất đã được giao cho ai
hay chưa?
Mục đích của công tác xác minh trên nhằm khẳng định quá trình sử dụng
đất của gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B là hợp pháp hay bất
hợp pháp, việc xây dựng nhà ở từ thời điểm nào là vi phạm pháp luật?
Như tình huống đã nêu cho thấy: Gia đình bà Nguyễn Thị A và ông
Nguyễn Văn B đã sử dụng một phần thửa đất số 220, diện tích 800m2, thuộc tờ
bản đồ số 02 được đo đạc năm 1992. Theo sổ mục kê giải thửa có ghi: thửa số

năm, địa điểm lập biên bản; họ tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày,
tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành
chính và việc đảm bảo xử phạt (nếu có); tình trạng tang vật, phương tiện vi
phạm (nếu có); lời khai của người vi phạm hoặc lời khai của đại diện tổ chức có
hành vi vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc người đại
diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, lời khai của họ.
Biên bản phải được lập thành ít nhất 02 bản; phải được người lập biên
bản, người vi phạm hoặc người đại diện tổ chức vi phạm ký; nếu có người
chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc người đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ
cùng ký vào biên bản; trong trường hợp biên bản được lập thành nhiều tờ thì
những người đã nêu trên phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm,
người đại diện tổ chức có hành vi vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại
hoặc người đại diện cho tổ chức bị thiệt hại từ chối ký vào biên bản thì người lập
biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Biên bản lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm 01 bản;
nếu hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì

7


người lập biên bản phải gửi biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt theo quy
định của pháp luật.
Dưới góc độ thanh tra, kiểm tra thì người cán bộ làm công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo, những thắc mắc của công dân cũng xem xét cụ thể, kỹ lưỡng
biên bản vi phạm hành chính, từ đó có những đánh giá khách quan, đúng đắn
nhằm xác định chính xác tính chất, mức độ của hành vi vi phạm làm cơ sở để đối
chiếu với quyết định xử lý xem đã phù hợp với quy định của pháp luật hay chưa?
Tình huống trên nêu về gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B
có hành vi chiếm đất công (đất công ích 5%) xây dựng nhà cấp 4 nên thuộc mức
2 giá trị quyền sử dụng đất quy thành tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Căn

Văn B về hành vi lấn chiếm đất đai nhưng vẫn có thể áp dụng biện pháp buộc
khắc phục hậu quả hoặc buộc tháo dỡ công trình vi phạm, xây dựng trái phép
theo quy định của pháp luật.
Trong quyết định xử phạt cũng phải ghi rõ cá nhân, tổ chức bị xử phạt nếu
không tự nguyện chấp hành thì bị cưỡng chế thi hành; quyền khiếu nại khởi kiện
đối với quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Ở đây, văn
bản điều chỉnh quyền khiếu nại, khởi kiện của công dân theo luật khiếu nại tố
cáo năm 1998 được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2004. Quyết định xử phạt
cũng cần ghi rõ ngày có hiệu lực.
Quyết định xử phạt được gửi cho các cá nhân, tổ chức bị xử phạt và cơ
quan thu tiền phạt trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt.
Yêu cầu về nội dung của quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Trong
quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ tên, chức vụ
của người ra quyết định; họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc
tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm hành chính; những tình tiết
liên quan đến việc giải quyết vụ việc vi phạm; điều khoản của văn bản pháp luật
được áp dụng; hình thức xử phạt hành chính, hình thức xử phạt bổ sung (nếu
có); các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); thời hạn, nơi thi hành quyết định
xử phạt và chữ ký của người ra quyết định.
Ngoài ra, người ra quyết định xử phạt cũng cần lưu ý khi giao quyết định
xử phạt đối với người có vi phạm cần lập biên bản giao quyết định xử phạt,
trong trường hợp người bị xử phạt cố tình tìm cách không nhận quyết định thì có
ý nghĩa quan trong để người bị xử phạt không thể trốn tránh trách nhiệm, đồng
9


thời là căn cứ tính thời gian cho việc áp dụng biện phát cưỡng chế nếu người vi
phạm không tự giác thực hiện.
d. Xác minh việc giải quyết khiếu nại lần đầu:
Giả sử, ngay sau khi nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính

khiếu nại bằng con đường hành chính.
Sau khi nhận được văn bản giao vụ việc của chủ tịch UBND huyện, chánh
thanh tra huyện phải ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra. Nội dung quyết
định thành lập Đoàn thanh tra cần nêu rõ: Căn cứ pháp lý để thanh tra giải quyết
đơn thư; Thời hạn tiến hành thanh tra; đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của đoàn
thanh tra; trưởng đoàn thanh tra và các thành viên khác của đoàn thanh tra.
Thông thường quyết định thành lập đoàn thanh tra được gửi đến UBND huyện
để báo cáo, lãnh đạo thanh tra huyện, các thành viên của đoàn thanh tra và các
đối tượng thanh tra.
Sau khi xem xét, xác minh vụ việc, từng thành viên của Đoàn thanh tra có
báo cáo phân nhiệm vụ của mình do trưởng đoàn thanh tra giao và đề xuất biện
pháp xử lý; Trưởng đoàn thanh tra tổng hợp hồ sơ vụ việc hoàn thành báo cáo
kết quả thanh tra, kiểm tra trình lãnh đạo thanh tra huyện (người ra quyết định
thanh tra) để lãnh đạo thanh tra huyện trình UBND huyện ra quyết định giải
quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Việc giải quyết nhằm tăng cƣờng kỷ luật, kỷ cƣơng; tăng cƣờng
pháp chế CHXH:
Hành vi vi phạm hành chính của gia đình bà Nguyễn Thị A và ông
Nguyễn Văn B cần phải xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật; trong quá trình giải
quyết cần có biện pháp kết hợp biện pháp tuyên truyền - giáo dục rộng rãi trong
nhân dân nói chung và gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B nói
riêng, đồng thời xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật nhằm
nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân.
2.2.3. Việc giải quyết phải bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc với lợi ích gia
đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B:
Gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B lấn chiếm đất công cần
phải xử lý, tuy vậy việc xử lý cần tuân theo quy định của pháp luật; trong quá
trình xử lý cần giáo dục thuyết phục gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn
Văn B tự nguyện chấp hành các quy định hành chính đúng đắn. Hạn chế đến
11

về đất đai.
12


Hệ thống pháp luật đất đai trong thời gian dài đã tránh né việc giải quyết một
số quan hệ về đất đai, dẫn tới tồn đọng số vụ việc cần giải quyết và gây ra sự vận
dụng khác nhau giữa các địa phương khi giải quyết những vấn đề giống nhau.
2.3.3. Sự thiếu trách nhiệm, sa sút phẩm chất đạo đức của một bộ
phận cán bộ công chức trong xử lý:
Việc áp dụng pháp luật của Uỷ ban nhân dân các cấp còn có tình trạng tuỳ
tiện, nhất là ở cấp huyện và cấp xã. Rất nhiều điểm đổi mới của Luật Đất đai
năm 2003 vẫn chưa đưa được vào thực tế vì cán bộ quản lý ở nhiều nơi chưa
biết, vẫn quyết định theo quy định của pháp luật trước đây. Uỷ ban nhân dân các
cấp chưa chăm lo nhiều đến công tác tiếp dân, công tác giải quyết tranh chấp,
khiếu nại, tố cáo của công dân. Từ đây làm cho dân không tin vào bộ máy hành
chính ở địa phương, không tin vào quyết định hành chính của địa phương, luôn
mong muốn có sự phán quyết của Trung ương.
Đất đai là vấn đề phức tạp, các chính sách đất đai liên tục thay đổi từ thời
chiến sang thời bình, từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Để giải quyết cần
có một đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu, làm
việc chuyên trách, có trách nhiệm cao, biết làm một công bộc của dân.
Đất đai có giá trị đặc biệt, nhưng trong thời gian dài đã quản lý lỏng lẻo,
dẫn tới những sai phạm có tính phổ biến, trong đó đáng lưu ý là một bộ phận cán
bộ, công chức đã lợi dụng chức quyền để chia chác đất đai hoặc trục lợi từ đất
đai, để lại những hậu quả nặng nề và gây ra những bức xúc trong dư luận xã hội.
2.3.4. Do ý thức pháp luật của ngƣời dân chƣa cao:
Người dân tuy đã được nhiều loại phương tiện thông tin đại chúng cung
cấp nhiều kiến thức về pháp luật, song trong hành vi vẫn còn sự tuỳ tiện vi phạm
hành chính nên cơ quan nhà nước khi tiến hành giải quyết vụ việc cần tiếp tục
giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho người dân nói chung và những người vi

cũng cho gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B biết: người khiếu nại
có quyền rút đơn trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.
a. Ƣu điểm: Nếu làm được việc này sẽ rất tốt vì không chỉ nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của công dân, mà còn không cần thiết phải áp dụng các
thủ tục trong việc ra quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 và việc tổ chức cưỡng
chế.

14


b. Nhƣợc điểm: Trong thực hiện công tác cho thấy, phương án này rất
khó thành công, số vụ việc có thể áp dụng thành công là ít.
2.4.2. Phƣơng án 2: Cơ quan nhà nƣớc áp dụng biện pháp phạt vi
phạm và hợp thức hoá cho tồn tại:
UBND huyện chỉ đạo UBND xã Tri Trung làm thủ tục xử phạt vi phạm
hành chính đối với gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B, đồng thời
hợp thức hoá mảnh đất trên cho gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn
B được quyền sử dụng.
a. Ƣu điểm: Phương án này giúp gia đình bà Nguyễn Thị A và ông
Nguyễn Văn B có chỗ ở mới và tránh những thiệt hại khi phải cưỡng chế, tháo
dỡ công trình xây dựng trên đất lấn chiếm.
b. Nhƣợc điểm: Thực tế, những năm trước đây (vi phạm trước thời điểm
năm 2000) quan điểm này đã được áp dụng tại một số địa phương trong thành
phố. Nhưng từ năm 2000 trở đi, quan điểm của UBND huyện đã thống nhất phải
xử lý triệt để các vi phạm về đất đai. Cho nên, việc áp dụng phương án này là
không khả thi, vì:
- Việc áp dụng phương án này sẽ gây ra tình trạng vi phạm tràn lan, làm
thu hẹp diện tích đất canh tác (các vi phạm chủ yếu trên đất canh tác).
- Nếu xử phạt và hợp thức hoá cho tồn tại sẽ dẫn đến việc phát triển quỹ
đất thổ cư không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Khi nhà nước thực hiện

tưởng để cho gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B tự nguyện chấp
hành một cách nghiêm túc.
2.5. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện phƣơng án đã lựa chọn
(phƣơng án 3):
2.5.1. Quan điểm chỉ đạo:
UBND cấp xã cần có sự chỉ đạo của UBND cấp huyện kiểm tra việc thực
hiện Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với gia đình bà Nguyễn Thị A và
ông Nguyễn Văn B. UBND cấp xã cần thông báo kịp thời việc chấp hành hình
phạt và việc yêu cầu gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B tự tháo dỡ
công trình vi phạm.

16


Trong trường hợp gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B không
tự tháo dỡ công trình vi phạm, trả lại hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã cần
phải lập biên bản kiểm tra việc tự giác thực hiện Quyết định xử lý vi phạm hành
chính của gia đình bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn B về lĩnh vực đất đai;
đồng thời ra Quyết định cưỡng chế việc thực hiện Quyết định xử lý vi phạm
hành chính. Thời điểm này cần lưu ý, việc giao quyết định cưỡng chế cần lập
thành biên bản, định rõ thời hạn thực hiện việc cưỡng chế. Việc làm như vậy là
cần thiết vì sẽ có sự tác động đến ý thức tự giác chấp hành pháp luật của công
dân, thể hiện sự kiên quyết xử lý của chính quyền. Nếu gia đình bà Nguyễn Thị
A và ông Nguyễn Văn B có hành vi chây ì, không chấp hành thì cũng phải có
động thái chuyển đồ đạc và những tài sản, vật dụng có giá trị ra khỏi căn nhà
xây dựng trái phép, hạn chế việc phải lập biên bản có nội dung rất phức tạp khi
tiến hành cưỡng chế.
2.5.2. Kế hoạch cƣỡng chế:
Yêu cầu của việc cưỡng chế phải tiến hành kịp thời và có sự chuẩn bị chu
đáo. Công việc này UBND huyện hoặc UBND xã phải lập kế hoạch cưỡng chế.

nhiệm vụ được giao. Nếu cơ quan Nhà nước không thu được tiền phạt và không
thu được những chi phí bỏ ra trong quá trình thực hiện cưỡng chế thì những chi
phí này do ngân sách cấp xãhoặc ngân sách cấp xã tạm ứng hay gánh chịu. Điều
này dẫn đến tình trạng một công dân có thể vi phạm nhiều lần, nhiều người vi
phạm, ngân sách nhà nước không có đủ khả năng để thực hiện các biện pháp
cưỡng chế dẫn đến tình trạng lỏng lẻo trong quản lý nhà nước về đất đai, hay
tình trạng phạt cho tồn tại đã gây ra nhiều vụ tố cáo tại nhiều địa phương trên địa
bàn Thành phố.
Thực tế cho thấy nhiều xã, huyện có hiện tượng vi phạm theo dây truyền,
một vài người vi phạm không bị xử lý hoặc người nhà cán bộ vi phạm mà không
bị xử lý thì hàng loạt các cá nhân khác cũng vi phạm theo, biện pháp xử lý của
chính quyền không triệt để cộng với việc tự do chuyển nhượng đất đai lấn chiếm
càng làm cho tình hình phức tạp thêm. Nhiều vụ việc, chính quyền địa phương
không giải quyết được hoặc giải quyết không thoả đáng gây ra những bức xúc,
những điểm nóng trong việc vi phạm trật tự về quản lý đất đai. Khi cơ quan cấp
trên tiến hành làm điểm lập lại trật tự quản lý thì dẫn đến những vụ khiếu kiện
phức tạp, đông người, việc giải quyết là vô cùng khó khăn. Do vậy, việc nâng
18


cao ý thức pháp luật của công dân là một công tác quan trọng nhưng việc quán
triệt và tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở xử lý ngay và đúng quy
định của pháp luật đối với những vi phạm đất đai từ thời điểm mới phát sinh là
biện pháp tốt nhất để ngăn chặn các hành vi vi phạm, thực hiện pháp chế
XHCN, trật tự an ninh ở địa phương, tạo điều kiện cho các phong trào phát triển.

19


PHẦN 3.


nhanh chóng, kịp thời đúng quy định pháp luật, là động lực trong quá trình cải
cách bộ máy hành chính ở nước ta.
3.2.2. Chú trọng việc đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực nghiệp vụ
cho cán bộ làm công tác quản lý đất đai ở cơ sở:
Cũng như kết luận và kiến nghị đã trình bày, hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về quản lý đất đai rất cồng kềnh, phức tạp nên việc áp dụng các quy
phạm đối với cán bộ cơ sở còn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập mà nguyên nhân
chính là do trình độ cán bộ còn non yếu, không kịp thời cập nhật được những
thay đổi của các văn bản quy phạm pháp luật hoặc không nắm chắc nội dung các
văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật
không thống nhất giữa các địa phương; khi có thanh tra kiểm tra thì việc chấn
chỉnh công tác quản lý cũng chỉ được ở một số địa phương. Vì vậy, việc phân
công cán bộ địa chính chuyên trách với chức năng công chức cấp xã là một biện
pháp tốt, tạo điều kiện cho các đồng chí này tập trung làm việc, tự nâng cao
năng lực cá nhân. Tuy nhiên, để việc quản lý được đồng bộ, thống nhất và hiệu
quả thì việc tập huấn cho các cán bộ địa chính cấp xã, xã những chuyên đề cụ
thể về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai là rất cần thiết. Trên địa bàn
Thành phố, có thể phân công cho Sở Tài nguyên & Môi trường tập hợp văn bản,
có tài liệu và công văn chỉ đạo thống nhất công tác quản lý đất đai phù hợp với
các quy định chung của Nhà nước. Điều đó làm giảm thiểu sự phát sinh những
vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài mà điểm xuất phát lại từ những vụ việc đơn
giản nhưng do công tác xử lý còn nhiều bất cập đã phát triển thành những vụ
việc có đông người tham gia gây nhiều khó khăn cho công tác giải quyết. Thực
tế cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do sự lúng túng của đội ngũ cán bộ cơ sở
trong công tác áp dụng pháp luật vì chưa được đào tạo chính quy, chưa được tập
huấn hay hướng dẫn thực hiện thống nhất những văn bản quy phạm pháp luật.
3.2.3. Các cơ quan nhà nƣớc chủ động rà soát và tập hợp hoá hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý và
sử dụng đất đai (lấn chiếm đất đai):

thức pháp luật của nhân dân:
Việc vi phạm pháp luật của người dân trong lĩnh vực quản lý đất đai ngày
càng nhiều với quy mô lớn, đông người. Hầu hết ở các địa phương đều có tình
trạng lấn chiếm đất đai mà chính quyền địa phương còn buông lòng, không giải
22


quyết triệt để. Để giải quyết dứt điểm tình trạng trên, một mặt UBND xã cần có
kế hoạch cụ thể, đấu tranh không khoan nhượng với những trường hợp vi phạm
lấn chiếm đất đai, không thoả hiệp hợp thức hoá bằng hình thức phạt tiền và cho
tồn tại; mặt khác cần có biện pháp răn đe xử phạt nghiêm minh, mở rộng công
tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân
nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Việc làm này cần huy động toàn
bộ hệ thống chính trị cơ sở vào cuộc như: Mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ, đoàn
thanh niên, hội nông dân… Đồng thời có kế hoạch đưa vào những nội dung sinh
hoạt nhà văn hoá khu dân cư, các bưu điện văn hoá xã, tủ sách pháp luật của
xã… Phát huy vai trò thực sự là nơi sinh hoạt tinh thần của nhân dân, tạo điều
kiện cho nhân dân tiếp cận và nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật. Đây là điều
kiện cần thiết để mọi người dân sống và làm việc theo pháp luật. Làm được như
vậy, các vụ việc phát sinh sẽ nhanh chóng được giải quyết từ cơ sở, các công
dân có điều kiện hiểu rõ quyền và lợi ích hợp pháp của minh nên việc khiếu nại,
tố cáo cũng chính xác, phù hợp với quy định của pháp luật, hạn chế tình trạng
khiếu nại, tố cáo sai do không hiểu chính sách pháp luật, khi được các cơ quan
nhà nước giải quyết thì các công dân lại tiếp tục khiếu kiện do tâm lý hơn thua
làm sự việc ngày càng trở nên phức tạp. Tóm lại, việc tuyên truyền và nâng cao
ý thức pháp luật cho nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng cần được chính
quyền cơ sở quan tâm. Mục đích chính là hạn chế vi phạm pháp luật, thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của địa phương.
Trên đây là một tình huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
Nhà nước về sử dụng đất đai, cụ thể là tình huống công dân có hành vi chiếm

Hà Nội, tháng 11/2015

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status