I. LỜI NÓI ĐẦU:
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được
ghi nhận tại Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam. Dưới
góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ
cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của mình”. Từ khái niệm có thể thấy rằng khiếu nại là đề nghị
của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành
chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu
tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Cùng với khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được tiếp tục ghi
nhận trong Hiến pháp, Luật khiếu nại, tố cáo và nhiều văn bản pháp luật
khác. Khái niệm tố cáo có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ pháp lý, tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp
luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức”. Như vậy, công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị
ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo đều
có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành vi vi phạm pháp luật
xảy ra trong đời sống xã hội. Khi thực hiện quyền tố cáo là công dân đã
thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc xây dựng và củng cố bộ máy
nhà nước làm cho bộ máy nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả trong
quản lý nhà nước, quản lý xã hội; hay nói rõ hơn thực hiện quyền tố cáo
chính là việc tỏ rõ trách nhiệm của công dân không chỉ trong việc giám sát
2
Qua thực tiễn và tiếp thu kiến thức từ các bài giảng trong chương trình
bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước của Trường đào tạo cán bộ Lê Hồng
Phong tổ chức, tôi lựa chọn tình huống với tiêu đề "Xử lý tình huống từ
vụ việc giải quyết tranh chấp về đất đai” để làm tiểu luận tình huống lớp
bồi dưỡng tiêu chuẩn ngạch chuyên viên K6A- 2015.
Mục tiêu của việc giải quyết tình huống này là tìm hiểu cơ sở pháp lý về
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong một trường hợp cụ thể về tranh chấp đất
đai xảy ra tại địa phương. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn khiếu nại, tố cáo
trong lĩnh vực tranh chấp đất đai và giải quyết khiếu nại tố cáo; những bất
cập trong cơ chế, chính sách để từ đó nêu ra một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực này. Năm 2003 là
thời điểm xảy ra tình huống nên các căn cứ để giải quyết tình huống là Luật
Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật Đất đai 2003 và các văn bản có liên quan
để giải quyết vấn đề.
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, kinh nghiệm công tác trong ngành
Tài nguyên và Môi trường chưa sâu, nên tình huống quản lý đưa ra và biện
pháp giải quyết không tránh khỏi thiếu sót, cần được sự hoàn thiện. Tôi rất
mong được sự quan tâm giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo.
Nội dung bài tiểu luận tình huống gồm các phần chính sau:
I. Lời nói đầu.
II. Nội dung:
1. Mô tả tình huống.
2. Xác định mục tiêu, xử lý tình huống.
3. Phân tích nguyên nhân, hậu quả.
4. Xây dựng, phân tích, lựa chọn phương án giải quyết tình huống.
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn.
III. Kết luận và kiến nghị
anh A lên UBND huyện ĐA. Sau khi thụ lý đơn, UBND huyện ĐA ra
Quyết định hủy giấy chuyển nhượng giữa anh A và anh B với lý do trước
khi chuyển nhượng cho anh A, anh B đã chuyển nhượng cho anh N, đồng
4
thời trả lại toàn bộ lệ phí anh A đã nộp cho nhà nước. Anh A không đồng ý
với Quyết định của UBND huyện nên làm đơn khiếu nại nhưng hết thời
hiệu giải quyết khiếu nại lần đầu, đơn của anh A vẫn không được UBND
huyện ĐA giải quyết; anh A đã làm đơn khởi kiện UBND huyện ĐA ra Tòa
án nhân dân huyện ĐA. Ngày 20/12/2004, Tòa án nhân dân huyện ĐA mở
phiên tòa sơ thẩm hành chính xét xử vụ kiện giữa người khởi kiện là anh A
và người bị kiện UBND huyện ĐA.
Kết quả phiên tòa: Tòa án nhân dân huyện ĐA “ bác đơn khởi kiện
của anh A, công nhận Quyết định của UBND huyện ĐA ”
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, anh A làm đơn kháng cáo với Tòa
án nhân dân huyện ĐA, hy vọng phiên tòa phúc thẩm sẽ bảo vệ được quyền
và lợi
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống:
- Đây là vụ việc về tranh chấp đất đai, đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của người có quyền lợi, việc giải quyết vụ việc cơ bản theo quy định
của Luật Đất đai, Luật Dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Khiếu nại, tố
cáo.
- Nâng cao trách nhiệm của UBND các cấp trong quản lý đất đai, gải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về đất đai thuộc thẩm quyền.
- Nâng cao hiệu quả công tác xét xử, công minh, khách quan, có lý,
có tình trong quá trình giải quyết của Tòa án đối với các vụ án liên quan
đến tranh chấp đất đai.
- Phổ biến tuyên truyền Pháp luật sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân
quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất
đai) để anh A làm thủ tục chuyển quyền thì căn cứ vào khoản 2 Điều 11
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, anh A có thể
thực hiện các thủ tục sau đây:
- Nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc tại
UBND cấp xã, gồm đơn xin cấp Giấy chứng nhận và hợp đồng, giấy tờ về
chuyển quyền sử dụng đất để được cấp Giấy chứng nhận.
6
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất căn cứ vào hợp đồng, giấy
tờ về chuyển quyền sử dụng đất, thông báo bằng văn bản cho người chuyển
quyền, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc:
+ Làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền
và việc hủy các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng chưa được giao
cho người nhận chuyển quyền đối với trường hợp chuyển quyền toàn bộ
diện tích đất;
+ hoặc: về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận
chuyển quyền và việc chỉnh lý hoặc cấp mới Giấy chứng nhận đối với
trường hợp chuyển quyền một phần diện tích đất;
- Sau thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng
tin lần đầu tiên trên báo địa phương về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng
nhận cho người nhận chuyển quyền mà:
+ Không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì thủ tục cấp Giấy
chứng nhận thực hiện theo quy định tại Điều 135 hoặc Điều 136 Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP hoặc theo quy định của pháp luật về nhà ở; Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyết định huỷ Giấy
chứng nhận đã cấp cho bên chuyển quyền nếu bên chuyển quyền không
nộp Giấy chứng nhận; nếu bên chuyển quyền nộp Giấy chứng nhận thì
đó, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất
cần phân biệt như sau:
a. Nếu tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất đó thì do Uỷ ban
nhân dân có thẩm quyền giải quyết.
b. Nếu tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá
trị quyền sử dụng đất thì Toà án nhân dân thụ lý giải quyết. Theo Nghị định
số 17 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 79 thì trong trường hợp
này người sử dụng đất cần làm thủ tục để được thực hiện các quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp
hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; do đó, khi giải
quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc trường hợp này thì
Toà án nhân dân áp dụng Nghị định số 17 đã được sửa đổi bổ sung theo
8
Nghị định số 79 và các điều tương ứng của Bộ Luật dân sự tuyên bố hợp
đồng vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Tuy nhiên, thực tế UBND huyện ĐA ra Quyết định hủy giấy tờ
chuyển nhượng giữa anh A và anh B là không đúng. Cũng theo quy định tại
thông tư trên thì việc tuyên hủy thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
huyện ĐA.
3.3. Việc UBND huyện ĐA không giải quyết khiếu nại của anh A
dẫn đến hết thời hiệu khiếu nại lần đầu mà không có lý do là sai.
Điều 37 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 quy định:
Khi cần thiết, người giải quyết khiếu nại lần đầu gặp gỡ, đối thoại
trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu
nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.
Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết
* Ưu điểm:
- Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
một cách nhanh chóng, đúng quy định của pháp luật.
- Thủ tục đơn giản, không tốn kém về thời gian, tiền bạc cho gia
đình.
- Giải quyết được mâu thuẫn giữa gia đình anh A và anh N.
* Nhược điểm:
Trách nhiệm của các cán bộ, công chức Nhà nước liên quan đến việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và anh B không được làm rõ,
gây mất niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, công chức Nhà nước có
thẩm quyền.
Phương án 2:
Anh A làm đơn đến UBND huyện ĐA yêu cầu giải quyết tranh chấp
đất đai giữa anh và anh N. UBND huyện ĐA căn cứ giấy chuyển nhượng
giữa anh B và anh N sẽ từ chối cấp GCN quyền sử dụng đất cho anh A
đồng thời hướng dẫn anh A khởi kiện anh B ra Tòa án nhân dân huyện ĐA
để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
10
* Ưu điểm:
- Thực hiện đúng quy trình, quy định của Pháp luật.
- Giáo dục ý thức tuân theo Pháp luật, tôn trọng pháp chế XHCN của
nhân dân.
- CB CC cơ quan Nhà nước thấy được trách nhiệm của mình do lối
làm việc quan liêu, thiếu trách nhiệm.
* Nhược điểm:
Tốn kém tiền bạc và thời gian cho gia đình anh A.
Phương án 3:
Điều 142.
Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ
1- Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe
doạ, thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho
bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của
giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó.
2- Bên lừa dối, đe doạ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.
Tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức của bên lừa dối, đe doạ bị tịch thu sung
quỹ nhà nước.
Điều 146.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
dân sự của các bên từ thời điểm xác lập.
2- Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các bên khôi phục lại tình trạng
ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được
bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi
thường.
Tuỳ từng trường hợp, xét theo tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sản
giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của
pháp luật.
12
Ưu điểm lớn nhất của phương án này là giải quyết được mâu thuẫn
giữa hai gia đình anh A và anh N. Khi đó giấy chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của anh N là hợp pháp và hoàn toàn có quyền làm thủ tục để được
UBND huyện ĐA cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xây nhà trên
mảnh đất này.
Anh A làm đơn xin rút đơn
Tòa án nhân dân
huyện ĐA
1/2005
2/2005
UBND
huyện
khiếu nại đồng thời làm đơn
ĐA; Tòa án nhân
gửi Tòa án nhân dân huyện
dân huyện ĐA
ĐA đề nghị hủy giao dịch dân
sự
3
Tòa án xử sơ thẩm theo đơn
2/2005
2/2005
Qua phần trình bày trên, một vụ việc cụ thể về tranh chấp đất
đai, cho chúng ta một số kết luận sau:
- Tranh chấp đất đai là một thuật ngữ, một khái niệm đã trở lên rất
phổ biến trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này hiện
nay vẫn chưa được hiểu một cách đồng nhất, kể cả trong giới luật học. Việc
xác định nội hàm khái niệm tranh chấp đất đai có ý nghĩa quan trọng kể cả
về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đặc biệt là trong việc xác định cơ chế,
thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết.
- Theo khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 thì, tranh chấp đất
đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc
nhiều bên trong quan hệ đất đai.
- Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tranh chấp
đất đai trong Luật Đất đai năm 2003. Thứ nhất, có quan điểm cho rằng,
tranh chấp đất đai chỉ là những tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, trong Luật Đất đai năm 2003 lại không có khái niệm hay định
nghĩa nào về tranh chấp về quyền sử dụng đất, cho nên thế nào là tranh
chấp về quyền sử dụng đất là hoàn toàn phụ thuộc vào cách hiểu của các
bên có liên quan và đặc biệt là của cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Điều
136 Luật Đất đai năm 2003 quy định tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự
không nhất trí thì được giải quyết như sau:
+ Một là: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định
tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 và tranh chấp về
tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
+ Hai là: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy
tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì
phường, thị trấn không tổ chức hòa giải hoặc không hòa giải theo yêu cầu
của các bên tranh chấp, thì các bên tranh chấp sẽ mất quyền khởi kiện ra
Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình cho dù về bản chất,
các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất này hoàn toàn là tranh chấp dân
sự thuần túy. Đồng thời, về mặt khoa học và chức năng, nhiệm vụ trong tổ
chức bộ máy nhà nước, thì việc các cơ quan quản lý nhà nước đứng ra giải
15
quyết các tranh chấp về tài sản và quyền tài sản sẽ không đúng thẩm quyền
và không phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội. Chính vì vậy, những
quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã
gây ra nhiều khó khăn cho các bên tranh chấp trong quá trình giải quyết.
Đồng thời, tạo ra những kẽ hở pháp lý dẫn đến việc gây nhũng nhiễu, hách
dịch đối với nhân dân và là mầm mống cho các hoạt động tiêu cực của
những người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai.
- Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:
Theo Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 thì có hai hệ thống cơ quan có
thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp đất đai là hệ thống cơ
quan xét xử (Tòa án nhân dân các cấp) và hệ thống cơ quan quản lý nhà
nước (ủy ban nhân dân các cấp). Cơ sở để Luật Đất đai năm 2003 và các
văn bản hướng dẫn thi hành phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp
đất đai là giấy tờ pháp lý của đất tranh chấp mà đương sự có và tài sản gắn
liền với đất.
+ Về giấy tờ pháp lý của đất tranh chấp
Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định thẩm quyền giải quyết
tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2
và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 thì do Toà án nhân dân giải quyết.
xác định chủ sử dụng thực sự của đất tranh chấp tức là xác định chính xác
ai có quyền sử dụng đất. Đối với đất đang tranh chấp thì chưa có cơ sở để
xác định phần diện tích đất tranh chấp thuộc về ai, người đang có giấy tờ
hay những người tham gia tranh chấp. Đồng thời, trên thực tế hiện nay
người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người đang quản
lý, sử dụng đất chưa chắc đã phải là chủ sử dụng đất, chẳng hạn như chủ sử
dụng đất ủy quyền cho người khác đứng tên trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, hoặc các đồng chủ sử dụng đất có thỏa thuận cho một người
đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... Vì vậy, quy định này
đã tạo ra kẽ hở cho cơ quan tòa án trong quá trình thụ lý vụ án lợi dụng gây
khó khăn cho người khởi kiện và có thể phát sinh tiêu cực.
Thứ hai, bản chất của việc giải quyết tranh chấp đất đai là xác định
phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai, ai là chủ sử dụng
hợp pháp đất đang tranh chấp, nhưng pháp luật lại quy định thẩm quyền
17
giải quyết căn cứ theo người có giấy tờ về đất. Mặt khác, các giấy tờ về đất
chỉ có một bản gốc duy nhất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và
thường do một bên tranh chấp giữ. Vì thế, khi phát sinh tranh chấp các bên
còn lại sẽ không thể có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nộp
cho tòa và yêu cầu Tòa án thụ lý vụ án được. Trong trường hợp này, Tòa án
có thể từ chối thụ lý vụ án do viện vào quy định của pháp luật là đương sự
không có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Trên thực tế, theo quy
định của pháp luật, những bên còn lại trong tranh chấp đất đai chỉ có thể
xin được bản sao của giấy tờ đất hoặc xin thông tin liên quan đến đất tranh
chấp từ Văn phòng đăng ký nhà và đất mà thôi. Có thể nói, đây cũng là kẽ
hở phát sinh tiêu cực vì thực tế Tòa án có thể thụ lý hoặc không thụ lý vụ
án.
chí, trong nhiều trường hợp các bên trong tranh chấp không thể đưa vụ việc
ra cơ quan tòa án hoặc ủy ban nhân dân để giải quyết do các cơ quan này
đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
Như vậy, quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng
dẫn thi hành về tranh chấp và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đã gây ra
nhiều khó khăn cho các bên tranh chấp trong quá trình giải quyết. Đồng
thời, tạo ra những kẽ hở pháp lý tạo cơ sở cho việc gây nhũng nhiễu nhân
dân và là mầm mống cho các hoạt động tiêu cực của những người có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Đề xuất và kiến nghị:
Quy định của pháp luật về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp
phải hướng tới tính ổn định, tạo điều kiện thuận lợi, đơn giản cho các bên
tranh chấp trong việc giải quyết và đặc biệt phải hướng tới việc giải quyết
triệt để các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh tạo sự ổn định cho xã hội. Trên
cơ sở phân tích những bất cập trong quy định về tranh chấp đất đai và giải
quyết tranh chấp đất đai hiện nay, tôi đề nghị sửa đổi những quy định này
như sau:
Thứ nhất: Cần phải quy định, giải thích và phân biệt rõ hơn, cụ thể
hơn về khái niệm tranh chấp đất đai và tranh chấp về quyền sử dụng đất;
Thứ hai: Bỏ quy định về hòa giải tranh chấp đất đai được quy định
tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 159 Nghị định 181 như hiện
nay vì quy định này gây khó khăn, tốn kém cho các bên trong giải quyết
19
tranh chấp đất đai và không mang lại hiệu quả, đồng thời tạo thêm gánh
nặng công việc cho ủy ban nhân dân cấp xã trong quá trình hoạt động;
Thứ ba: Sửa đổi thuật ngữ “đương sự” trong Điều 136 Luật Đất đai
thành thuật ngữ “người khởi kiện” để chính xác, phù hợp với Bộ luật Tố