LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên tham gia công ước quốc tế về
quyền trẻ em nhưng tình trạng trẻ em bị bạo hành trong gia đình còn xảy ra ở mức
khá nghiêm trọng. Các hình thức bạo lực đối với trẻ em có thể là mắng, chửi thô
tục, làm nhục hoặc dùng đòn roi hành hạ…những hành động bạo lực đó để lại
những hậu quả hết sức nặng nề về thể chất và tinh thần cho trẻ. Rất nhiều vụ việc
bạo hành mà cha mẹ hay người thân gây ra cho trẻ em đã được phát hiên và đưa
lên các phương tiện thông tin đại chúng khiến dư luận xã hội rất căm phẫn, đồng
thời cũng lo ngại về sự xuống cấp của chuẩn mực đạo đức, sự thiếu vắng môi
trường văn hóa chuẩn mực giáo dục. Bạo lực trẻ em trong gia đình đã và đang là
một vấn đề gây nhức nhối trong xã hội và được quan tâm đặc biệt vì mức độ ngày
càng gia tăng của nó. Do đó, vấn đề bảo vệ quyền trẻ em là vấn đề cần được xã hội
và các cấp chính quyền quan tâm để trẻ em có thể vui sống, phát triển về thể chất
và tinh thần không còn phải đối mặt , lo sợ trước những vụ bạo hành gia đình nữa.
Nhóm chúng em xin tìm hiểu về vấn đề này qua bài tiểu luận có đề tài: “Bạo
lực đối với trẻ em trong gia đình và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em”.
1
NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM TRẺ EM VÀ QUYỀN TRẺ EM
1. Trẻ em là ai?
Ta có thể hiểu trẻ em là một con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh và tuổi dậy
thì. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kì ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ
ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành.Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc
thù do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, dễ tổn thương, dễ thay đổi, dễ
thích nghi, dễ uốn nắn, dễ tự ái, tự ti, hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn. Xu hướng muốn
tự khẳng định, được đánh giá, được tôn trọng, nhiều hoài bão và nhìn chung còn
thiếu thực tế, thiếu kinh nghiệm.
Định nghĩa trên góc độ pháp lý thì trẻ em chính là một đứa trẻ chưa đến tuổi
giáo. Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ để có thể phát triển
hài hoà.
+ Quyền được bảo vệ: bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo
vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm
dụng matuý, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán. Trẻ em còn được bảo
vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư.
Quyền được bảo vệ bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập và lạm dụng
trong trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ.
+ Quyền được tham gia: tạo mọi điều kiện cho trẻ em được tự do bày tỏ
quan điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình. Trẻ em
còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hoà bình, được tạo điều kiện tiếp cận các
nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp.
Quyền trẻ em với tư cách là một khái niệm mới về mặt lịch sử vì khái niệm
này mới chỉ được chấp nhận ở Việt Nam trong thời gian gần đây ở thời kì đổi mới
trong các quan hệ xã hội và gia đình. Tại đại hội Đảng lần thứ IX, lần đâu tiên từ
“quyền trẻ em” được dùng trong các văn kiện của Đảng. Từ đó, quyền trẻ em với
tư cách là quyền con người được thảo luận công khai và rộng rãi ở Việt Nam. Nhìn
3
chung, trong nhiều thế kỉ, trẻ em Việt nam không được hưởng quyền gì cả. Nó lí
giải vì sao hàng triệu trẻ em nông thôn phải tham gia lao động, làm các công việc
tạo thu nhập cho gia đình. Bên cạnh đó là hàng nghìn trẻ em bị buôn bán, bị lạm
dụng và bị bạo lực.
II. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BẠO LỰC ĐỐI VỚI TRẺ EM
TRONG GIA ĐÌNH
1. Thực trạng
Theo báo cáo tình trạng trẻ em thế giới của Unicef năm 2009, hiện có khoảng
500 triệu trẻ em bị ảnh hưởng của bạo lực chiếm khoảng ¼ tổng số trẻ em trên thế
giới. Đối với nước ta, tình trạng bạo lực trẻ em trong những năm gần đâydiễn biến
học) 735 học sinh.
- Theo số lượng trường học và học sinh hiện này thì cứ 5.260 học sinh thì
xảy ra một vụ đánh nhau và cứ 9 trường học lại xảy ra một vụ học sinh đánh nhau.
- Cứ 10.000 học sinh thì có một học sinh bị kỷ luật khiển trách, cứ 5.555 học
sinh thì có một học sinh bị kỷ luật cảnh cáo vì đánh nhau; cứ 11.111học sinh thì có
một học sinh bị buộc thôi học có thời hạn vì đánh nhau.
Trong số các vụ việc học sinh đánh nhau được phân tích ở trên, phần lớn là vụ
việc xích mích nhỏ giữa các học sinh, các em dùng tay, chân đánh nhau nhưng
được sự can ngăn kịp thời nên không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên
trong số đó vẫn có những vụ việc xảy ra mang tính chất hoặc gây hậu quả nghiêm
trọng. Đáng lưu ý là các hiện tượng, vụ việc: Học sinh nữ đánh nhau hội đồng, làm
nhục bạn, quay phim rồi tung lên mạng, coi như là một “chiến tích” để thể hiện
mình trước mọi người (xảy ra ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quãng Ngãi, An
Giang...). Học sinh đánh nhau có sử dụng hung khí, gây thương tích nặng cho bạn,
có vụ việc xảy ra chết người (năm học 2009-2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh
nhau dẫn đến chết người ở trong và ngoài trường học).
2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực nêu trên, có thể nói đến như:
5
a) Những nguyên nhân thuộc về chính trẻ em đó là xuất phát từ đặc điểm tâm lý
của trẻ em, đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lí của trẻ, với
một số biểu hiện sau:
Các em có nhu cầu tự thể hiện mình rất cao, những trẻ em học kém, gia đình
ít quan tâm, thầy cô xem là thành phần phải kèm cặp thì càng ra vẻ ta đây, muốn
chứng tỏ mình. ở lứa tuổi này, mọi suy diễn để chứng minh bằng hành động của
các em đều bắt đầu bằng sự tự phát và không có định hướng.
Sự phát triển tâm lí xúc cảm của lứa tuổi này là rất đa dạng: Các em thấy
bỡ ngỡ và nghi ngờ bản thân. Tình cảm mạnh mẽ và biến đổi thất thường. Nhu cầu
Trong khi đó, vai trò bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình, cộng
đồng chưa được coi trọng, kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em của cha mẹ, người chăm sóc trẻ và của chính bản thân trẻ chưa đầy đủ dẫn đến
năng lực bảo vệ trẻ em của gia đình, cộng đồng còn hạn chế, trẻ em dễ trở thành
nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại tình dục và dễ bị lôi kéo vào con đường
phạm tội. Tình trạng nhiều gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; cha mẹ ly hôn,
ly thân; cha mẹ mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật…cũng là nguyên nhân
dẫn đến việc trẻ em bỏ học, lang thang kiếm sống và bị bạo lực
Nhận thức về bảo vệ trẻ em còn hạn chế thể hiện ở khía cạnh thiếu hiểu biết
về luật pháp, về các hành vi vi phạm quyền trẻ em, dẫn đến tình trạng người thân
trong gia đình xâm hại tình dục, bạo lực trẻ em (khoảng 50% tổng số vụ vi phạm)
và các thành viên khác trong xã hội phạm tội nghiêm trọng đối với trẻ em đến mức
phải xử lý hình sự.
Tiếp đến là những hệ lụy của những trang web đen, trò chơi điện tử bạo lực
không thể lường trước được. Nhiều gia đình tan nát, nhiều vụ án đau lòng đã xảy
ra, nhiều trẻ em đã phải lĩnh án. Trò chơi điện tử là một thế giới ảo, ở đó người
chơi có thể làm tất cả những điều mình thích mà không bị trừng phạt. Tuy nhiên,
khi cuộc chiến trên thế giới ảo trở thành cuộc chiến thật ngoài đời thì thú chơi này
thật sự trở thành một mối nguy hiểm lớn đối với xã hội.
Văn hoá ″Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi″ bấy lâu nay khiến
cho người ta coi chuyện đánh con là bình thường là quyền của cha mẹ là cho con
7
lên người; do thiếu hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật về quyền trẻ em
nói riêng; về kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cộng đồng, gia đình
và chính bản thân các em đã dẫn tới mọi người vẫn cho rằng cha mẹ có quyền dạy
con bằng đòn roi, bằng sự xỉ nhục, hành hạ.
Pháp luật chưa đủ mạnh, chưa đủ răn đe những người có hành vi bạo lực, như
Điều 110 Luật Hình sự có quy định ″Người nào đối xử tàn ác với đối tượng là trẻ
a) Tích cực:
Trên thế giới: Nhiều thập kỷ qua, việc chăm sóc trẻ em ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới đã được quan tâm ở những mức độ khác nhau, song do các yếu tố chủ
quan và khách quan như thiên tai, mất mùa, chiến tranh, hoặc do trình độ dân trí
thấp… Tháng 2/1949 Hội phụ nữ châu Á họp ở Bắc Kinh đã có sáng kiến đề nghị
Hội Phụ nữ dân chủ thế giới chọn một ngày thiếu nhi quốc tế để kêu gọi toàn thế
giới đấu tranh chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ nhi đồng và là ngày đoàn
kết thiếu nhi quốc tế. Trong một phiên họp đã quyết định chọn ngày 1/6 hàng năm
là ngày “Quốc tế bảo vệ thiếu nhi” và nhắc nhở mọi người tưởng nhớ vụ thảm sát
man rợ ở Liđisơ và Ôrađua. Kể từ năm 1950 trở đi ngày 1/6 đã được tổ chức ở
khắp thế giới.
Tháng 4/1952, Hội nghị Bảo vệ thiếu nhi thế giới có 64 nước tham gia họp tại
Viên - Áo đã nhất trí chính thức lấy ngày 1/6 là ngày Quốc tế bảo vệ thiếu nhi.
Điều đó khẳng định trẻ em là “đối tượng” được nhân loại toàn thế giới luôn quan
tâm. Vì vậy ngày 20/11/1989, Liên hợp quốc đã thông qua và phê chuẩn “Công
ước về quyền trẻ em” bao gồm 54 điều khoản có hiệu lực từ ngày 20/11/1990.
Trong lời mở đầu, công ước đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân
cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không
khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông… Trẻ em cần được chuẩn bị đầy đủ để
sống cuộc sống cá nhân trong xã hội và cần được nuôi dưỡng theo tinh thần các lý
tưởng được nêu ra trong hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt trong tinh thần hòa
bình, phẩm giá, khoan dung, tự do, bình đẳng và đoàn kết”.
9
Ở Việt Nam:
Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn
công ước quốc tế về quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990. Sau sự kiện này, hàng loạt
các luật mới ra đời như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em(1991) Luật phổ
Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em chưa được toàn xã hội quan tâm, nhận thức về bảo
vệ quyền trẻ em ở các tầng lớp nhân dân còn kém, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Người dân tộc thiểu số ít người vẫn theo
phong tục tập quán lạc hậu thì đại đa số không có nhận thức về việc bảo vệ quyền
trẻ em.
2. Một số quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
Ở Việt Nam, hiện nay các quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004( hiệu lực thi hành ngày
01/01/2005). Luật này nhấn mạnh nhiệm vụ của xã hội đối với sự bảo vệ và chăm
sóc trẻ em, yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm quyền trẻ em.
Luật này đã quy định các quyền trẻ em như sau:
_ Được khai sinh và có Quốc tịch ( Điều 11).
_ Được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất trí tuệ và đạo đức (Điều 12).
_ Được sống chung với cha mẹ ( Điều 13).
_ Được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự, được
bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về vấn đề có liên quan ( Điều 14).
_ Được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ( Điều 15) .
_ Được học tập và phát triển năng khiếu ( Điêu 16).
_ Được vui chơi, giải trí lành mạnh ( Điều 17).
_ Được có tài sản, được quyền thừa kế và quyên hưởng các chế độ bảo hiểm
( Điều 19) .
_ Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội
( Điều 20 ).
Mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em làm tổn hại đến sự phát triển bình thường
của trẻ em đều bị nghiêm trị ( Điều 6) . Luật cũng cấm sử dụng lao động trẻ em trái
quy định của pháp luật có hại cho sự phát triển bình thường của trẻ em ( Điều 7).
11
_Tiếp tục củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ,
chăm sóc trẻ em từ trung ương đến cơ sở; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành
trong đó xác định rõ trách nhiệm của các ngành, các tổ chức trong việc thực hiện
công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Phát triển đội ngũ cán bộ xã hội, cộng tác viên,
tình nguyện viên đến tận thôn, bản, khu, ấp…
KẾT LUẬN
Chừng nào trên trái đất còn trẻ em đói rét, còn trẻ em bị ngược đãi, bắn giết,
chừng nào trẻ em còn chưa được tạo mọi điều kiện tốt nhất để phát triển đúng cách
thì Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em vẫn là tiếng chuông báo hiệu,
nhắc nhở mọi người, nhắc nhở mọi quốc gia hãy hành động vì tương lai tốt đẹp của
trẻ em.
13