Một sô biện pháp cơ bản để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán - Pdf 34

MỤC LỤC

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTCP
CTCK
CTTNHH
KDCK
LCK
NĐT
NHTM
TTCK
TTGDCK
UBCKNN

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

2

Công ty cổ phần

khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”.
Với định nghĩa này, khái niệm KDCK ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa khá
rộng và cơ bản tương đồng với khái niệm KDCK trong pháp luật các nước trên thế
giới, đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á như Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản... Nói một cách khái quát, KDCK là loại hình hoạt động
thương mại đặc biệt mà ở đó các CTCK, công ty quản lý quỹ và các chủ thể được
phép KDCK tiến hành các nghiệp vụ về chứng khoán cho chính mình hoặc cho
khách hàng vì mục tiêu thu lợi nhuận tối đa.
2. Rủi ro trong hoạt động KDCK
2.1. Khái niệm
Rủi ro là một tình huống khó tránh trong hoạt động kinh doanh. Rủi ro nói chung
là “khả năng xảy ra sự cố bất lợi cho chủ thể, hay có thể hiểu đó là những nguy cơ
một hành động, một sự việc sẽ ảnh hưởng bất lợi đến việc đạt được các mục tiêu
cũng như việc thực hiện thành công những chiến lược kinh doanh của một tổ chức”.
Có thể hiểu rủi ro trong KDCK là khả năng xảy ra những việc bất lợi cho các chủ
thể KDCK khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như môi giới, bảo lãnh phát
hành, tự doanh, tư vấn đầu tư, quản lý chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng
khoán.
2.2. Phân loại
Từ cách hiểu thế nào là rủi ro trong KDCK ở trên, có thể phân loại được các rủi
ro thường gặp trong hoạt động KDCK như sau:
Rủi ro thị trường: Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời
gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có
3


thế rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các NĐT về các
loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi
trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự hy

Thứ hai, những rủi ro trong KDCK nếu không được giải quyết hợp lý và kịp thời
thường dẫn đến hậu quả lớn gây thiệt hại về tài chính và tác động đến nhiều đối
tượng tham gia vào TTCK.
2.3 Tác động của rủi ro trong hoạt động KDCK
Rủi ro trong hoạt động KDCK không chỉ có tác động đến các NĐT, các chủ thể
KDCK mà còn có tác động đến TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung:
- Đối với các chủ thể KDCK: những rủi ro trong KDCK tác động trực tiếp
đến các chủ thể KDCK, do họ là những chủ thể thực hiện tất cả các nghiệp
vụ kinh doanh và tham gia vào hầu hết các giai đoạn của hoạt động kinh
doanh. Họ chính là những đối tượng chịu thiệt hại lớn nhất khi xảy ra
4


những rủi ro. Bên cạnh những thiệt hại về vật chất mà rủi ro KDCK đem
đến, các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh này còn gánh chịu những
rủi ro về mặt uy tín của doanh nghiệp.
- Đối với các NĐT: NĐT khi tham gia vào TTCK nói chung và các giao dịch
liên quan đến các nghiệp vụ KDCK nói riêng luôn có mục tiêu hướng tới
lợi nhuận. Nhưng khác với các CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán, công ty đầu tư chứng khoán – là các chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt
động KDCK – các NĐT ít có kinh nghiệm dự đoán thị trường, khả năng
phân tích và dự đoán rủi ro rất thấp; chính vì vậy, họ là đối tượng thường
xuyên gặp phải những rủi ro khi tham gia vào các giao dịch chứng khoán.
Điều này tác động rất lớn đến họ, đặc biết đối với các NĐT nhỏ, lẻ. Chính
các rủi ro này làm cho các NĐT chịu những thiệt hại đáng kể về tài sản, dẫn
đến niềm tin cũng như tâm lý của họ vào thị trường không vững chắc.
- Đối với TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung: có thể khẳng định, rủi ro
trong KDCK tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường. Nó làm cho
hoạt động kinh tế diễn ra chậm chạp hơn, khả năng huy động vốn qua kênh
chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu ... thấp hơn. Ở mức độ cao hơn, rủi ro

trong KDCK nước ta đã có những quy định rất cụ thể về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và trong từng
nghiệp vụ KDCK.
Ngay từ những điều luật đầu tiên của LCK 2006, Nhà nước đã thể hiện sự quan
tâm cũng như sự giám sát của mình đối với sự phát triển của TTCK nói chung và
hoạt động KDCK nói riêng. Theo đó, “Nhà nước có chính sách quản lý, giám sát
bảo đảm TTCK hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả”
(khoản 2 Điều 5 LCK).
Tại Điều 7 LCK đã chỉ ra: Chính phủ thống nhất quản lý về chứng khoán và
TTCK. Đặc biệt, để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với hoạt động
KDCK, UBCKNN là cơ quan trực tiếp quản lý hoạt động KDCK nói riêng và
TTCK nói chung.
Quy định này đã thể hiện được tính thống nhất trong quản lý hoạt động KDCK
nước ta. Với việc phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan chức năng, pháp luật phòng
ngừa rủi ro trong KDCK đã tránh được hiện tượng chồng chéo về chức năng cũng
như quyền hạn của các cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề xảy ra trong hoạt
động KDCK, điều này giúp cho việc quản lý hoạt động KDCK diễn ra dễ dàng và
gọn nhẹ hơn. Tuy nhiên, việc quản lý này cũng bộc lộ nhiều hạn chế:
Thứ nhất, UBCKNN là cơ quan trực tiếp quản lý thị trường cũng như hoạt động
KDCK. Như vậy, phạm vi quản lý và khối lượng công việc của cơ quan này rất lớn,
điều này dẫn đến việc quá tải trong công tác quản lý của UBCKNN. Ngoài ra,
UBCKNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, nên với địa vị pháp lý này,
UBCKNN không tránh khỏi bị hạn chế về thẩm quyền, không thể xử lý nhanh nhạy
những tình huống phát sinh trên TTCK – là một thị trường có tính phức tạp và luôn
có những diễn biến thay đổi rất nhanh và chịu tác động của nhiều yếu tố trong và
ngoài nước. Do đó mà làm cho các rủi ro trong hoạt động này không được kiềm chế
kịp thời, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Thứ hai, việc quản lý nhiều tầng lớp của Nhà nước đối với TTCK và hoạt động
KDCK làm cho những quyết định quan trọng của các cơ quan nhà nước bị hạn chế.
Đặc biệt, đối với thị trường diễn biến nhanh và phức tạp như nước ta, sự quản lý nhà

hạn chế đó, góp phần giảm thiểu nguy cơ rủi ro xảy đến. Cùng với quyền hạn được
“thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và
TTCK”, UBCKNN có thể lấy đây là công cụ để “răn đe” các công ty tham gia
KDCK thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ để hạn chế rủi ro và thực hiện các nghiệp vụ
của mình đúng pháp luật.
Bên cạnh những quy định khá chi tiết về quản lý Nhà nước trong KDCK, có thể
thấy pháp luật hạn chế rủi ro trong KDCK còn bộc lộ một số hạn chế trong các quy
định về quản lý nhà nước ở lĩnh vực này:
Thứ nhất, đó là các quy định về các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của
các cơ quan quản lý Nhà nước trong KDCK còn chưa đầy đủ. Đối với hoạt động
thanh tra đột xuất, nhà làm luật quy định chỉ được tiến hành khi “có dấu hiệu vi
phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK”; tuy nhiên, luật lại không quy định rõ thế
nào được coi là có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngoài ra quy định về thanh tra theo
chương trình, kế hoạch đã được chủ tịch UBCK phê duyệt khi được thực hiện trên
thực tế sẽ mất đi tính bất ngờ, khi đó, các chủ thể KDCK có thể chuẩn bị trước cho
đợt thanh tra nên hiệu quả thanh tra không được đúng với mục đích ban đầu.
Thứ hai, pháp luật chưa quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công
tác thanh tra, kiểm tra, giám sát có được tiến hành hoạt động điều tra hay không.
Vấn đề cũng là một bất cập, bởi lẽ KDCK là một lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro và
nhạy cảm, các nghiệp vụ của nó đòi hỏi trình độ chuyên môn cao nên hoạt động điều
tra cần được giao cho cơ quan có thẩm quyền am hiểu về hoạt động này tiến hành.
Có như vậy, hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát mới được nâng cao và góp
phần hạn chế các rủi ro trong KDCK.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy quy định cho phép UBCKNN thực hiện
hoạt động điều tra nên được bổ sung vào các quy định của pháp luật để nó trở thành
cơ sở pháp lý cho hoạt động này của UBCKNN. Bởi lẽ, thông qua quá trình điều tra,
7


tổ thanh tra mới xác định được đúng sự thật, từ đó mới có thể hạn chế được các rủi

Theo quy định của pháp luật hiện hành các chủ thể kinh doanh chứng khoán bao
gồm CTCK, công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư chứng khoán.
Các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán bao gồm: nghiệp vụ môi giới chứng
khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng
khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán (Khoản 19 Điều 6 LCK).
CTCK được phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh
phát hành, tư vấn đầu tư, lưu ký chứng khoán và các nghiệp vụ tài chính khác
(khoản 3 Điều 60 LCK). Công ty quản lý quỹ được phép tiến hành quản lý quỹ và
8


quản lý danh mục đầu tư chứng khoán (khoản 1 Điều 61 LCK). Công ty đầu tư
chứng khoán được tiến hành tự doanh chứng khoán (Khoản 1 Điều 96 LCK). Như
vậy việc phân định các nghiệp vụ cụ thể đối với từng chủ thể kinh doanh giúp đảm
bảo được hiệu quả của hoạt động KDCK, đảm bảo sự phát triển của thị trường.
Tuy nhiên, cần bổ sung quy định về hoạt động môi giới chứng khoán. Theo quy
định của pháp luật hiện hành, CTCK có nghĩa vụ cung cấp trung thực các thông tin
cho khách hàng khi họ có yêu cầu nhưng pháp luật lại không quy định rõ CTCK
phải có nghĩa vụ thông tin cho khách hàng về giao dịch đã thực hiện và kết quả của
giao dịch. Điều này tác động đến quyền lợi của NĐT, chính vì vậy cần thiết phải bổ
sung thêm quy định này để NĐT có thể giám sát được các giao dịch và hạn chế
được các rủi ro có thể xảy ra đến với mình.
Bên cạnh đó cũng cần bổ sung các quy định về hoạt động tự doanh chứng khoán:
LCK nước ta hiện nay đã cho phép CTCK có hoạt động tự doanh được thực hiện
nghiệp vụ bán khống (khoản 9 Điều 71 LCK). Đây được xem là một nghiệp vụ có
tính hai mặt: vừa hỗ trợ kinh doanh, vừa mang tính rủi ro. Vì vậy, nếu không được
áp dụng đúng quy định sẽ dễ gây ra những hậu quả xấu đối với KDCK và đối với
TTCK. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn nghiệp vụ
này do đó pháp luật phòng ngừa rủi ro trong KDCK cần sớm bổ sung thêm quy định

trên thực tế có rất nhiều chủ thể là tổ chức, cá nhân đang tham gia các hoạt động
KDCK, đặc biệt là ở nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán. Điều này đòi
hỏi cần hoàn thiện và có thêm các quy định để điều chỉnh hoạt động của các cá
nhân, tổ chức này nhằm tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động
KDCK và hạn chế những rủi do các hoạt động của các chủ thể này mang lại.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng nên cho phép NHTM được trực tiếp KDCK và thừa
nhận là chủ thể được phép KDCK ở nước ta. Bởi, NHTM nếu xét về điều kiện thành
lập và hoạt động đều thỏa mãn được các yêu cầu về chủ thể KDCK. Thêm vào đó,
hiện nay NHTM tham gia vào TTCK nói chung và KDCK nói riêng với tư cách là
một chủ thể giám sát và thực hiện hoạt động lưu giữ tài sản của các nhà đầu tư và
CTCK. Vì vậy, với kỹ năng và chuyên môn cao về việc quản lý tiền và tư vấn đầu tư
cho khách hàng, NHTM nên được pháp luật cho phép thực hiện các nghiệp vụ
KDCK.
Thứ hai, về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật
Điều kiện về cơ sở kĩ thuật, trang thiết bị hạ tầng là điều kiện đầu tiên, được đặt
lên đầu tiên đối với việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động của CTCK và công ty
quản lý quỹ. Theo đó, doanh nghiệp phải có: “Có trụ sở, có trang bị, thiết bị phục
vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang bị,
kĩ thuật” (Điểm a Khoản 1 Điều 62 LCK).
Thứ ba, điều kiện vốn pháp định
Hoạt động KDCK đòi hỏi phải có số vốn lớn nhằm kịp thời giải quyết những rủi
ro có thể xảy ra trong quá trình diễn ra hoạt động. Do đó pháp luật có những quy
định cụ thể về số vốn pháp định mà các chủ thể phải đáp ứng khi đăng kí thực hiện
một trong các nghiệp vụ KDCK, đó là:
Đối với CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài
tại Việt Nam thì yêu cầu về vốn pháp định cho nghiệp vụ “môi giới chứng khoán là
25 tỷ đồng Việt Nam, tự doanh chứng khoán là 100 tỷ đồng, bảo lãnh phát hành
chứng khoán là 165 tỷ đồng, tư vấn đầu tư chứng khoán là 10 tỷ đồng, trong trường
hợp tổ chức đề nghị được cấp giấy phép để được hoạt động nhiều nghiệp vụ kinh

vốn khả dụng giảm xuống dưới 120% mức quy định, chủ thể KDCK sẽ bị cảnh cáo
và yêu cầu khắc phục (Điều 74 LCK). Quy định này nhằm đảm bảo các chủ thể có
nguồn tài chính dự phòng, tránh tình trạng mất khả năng thanh toán nhất thời. Ngoài
ra, trong thời kỳ hoạt động, mọi giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu cổ phần hay
phần vốn góp chiếm từ 10% vốn điều lệ CTCK, công ty quản lý quỹ đều phải được
UBCKNN chấp thuận, trừ trường hợp cổ phiếu của các công ty đó đã được niêm
yết. Thêm vào đó, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập không được chuyển
nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp của mình trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày được
cấp giấy phép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông
sáng lập,thành viên sáng lập khác trong công ty. Họ phải cùng nhau nắm giữ ít nhất
20% vốn điều lệ của CTCK trong vòng 3 năm kể từ khi được cấp giấy phép thành
lập và hoạt động.
Như vậy, có thể thấy các nhà làm luật nước ta đã quy định rất chi tiết về mức
vốn, nguốn vốn góp của chủ thể KDCK. Điều này là rất cần thiết để giảm thiểu tối
đa những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động KDCK của họ.Tuy nhiên,
pháp luật phòng ngừa rủi ro trong KDCK nên điều chỉnh mức vốn pháp định đối với
các chủ thể KDCK. Thực tế cho thấy, với quy định mức vốn tối thiểu cho từng
nghiệp vụ KDCK như nước ta hiện nay là cao so với nhiều nước trên thế giới, và
11


cao hơn so với so với quy định về mức vốn pháp định đối với hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm ở nước ta. Việc điều chỉnh mức vốn pháp định
đối với các chủ thể KDCK theo hướng giảm thấp hơn hiện nay sẽ tạo ra sự bình
đẳng giữa các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở các lĩnh vực
khác nhau. Ngoài ra, nó đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều công ty KDCK được thành
lập và hoạt động, làm gia tăng tính cạnh tranh của các công ty này trên thị trường,
dẫn đến chất lượng dịch vụ sẽ tăng cao, chi phí giao dịch sẽ được giảm để thu hút
NĐT..., nó mang lợi không chỉ cho NĐT mà còn cho cả TTCK.
Thứ hai, quy định về hạn chế đầu tư

rủi ro bởi trong trường hợp họ không tự giải quyết được các vấn đề phát sinh thì
UBCKNN sẽ có biện pháp xử lý kịp thời, phù hợp với tình hình chung của TTCK.
Thứ tư, quy định về cơ chế kiểm soát nội bộ.
12


Pháp luật phòng ngừa rủi ro trong KDCK đã có những quy định buộc chủ thể
KDCK phải thực hiện cơ chế kiểm soát nội bộ dựa trên nguyên tắc quy định tại Điều
28 LCK. Điều này được cụ thể hóa trong các điều luật khác của LCK như Điều 71,
72... bao gồm: kiểm soát việc tuân thủ quy trình nghiệp vụ của các bộ phận kinh
doanh và của người hành nghề chứng khoán, kiểm toán báo cáo tài chính, giám sát
tỷ lệ vốn khả dụng và các tỷ lệ an toàn tài chính, “thiết lập hệ thống kiểm soạt nội
bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công
ty và trong giao dịch với người có liên quan”... Việc quy định như vậy là nhằm bảo
đảm tính khách quan, chính xác của hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp cũng
như của cơ quan quản lý Nhà nước về KDCK. Nó cũng góp phần giảm thiểu được
những rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệp khi KDCK.
1.4. Xử lý vi phạm trong hoạt động KDCK
Việc quy định các chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm trong hoạt
động KDCK là một biện pháp cần thiết để hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Điều này
không chỉ đạt ra đối với các chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động KDCK mà còn
được đặt ra với chính các NĐT tham gia vào bất cứ giao dịch nào trên thị trường.
Bởi việc tuân theo pháp luật là cơ sở đảm bảo một phần cho những rủi ro được hạn
chế ở mức thấp nhất.
Có thể thấy, vi phạm trong KDCK xảy ra khi các chủ thể thực hiện hoạt động
này thiếu tôn trọng pháp luật (bởi đó là các hành vi bị cấm được quy định tại Điều 9
LCK 2006), việc xử lý vi phạm trở thành một nguyên tắc pháp lý (Điều 118) với
hình thức xử phạt và mức phạt đa dạng. Theo đó có các hình thức: phạt hành chính,
buộc bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy vào mức
độ vi phạm mà áp dụng mức phạt khác nhau. LCK phân định việc xử lý đối với

có chất lượng cao, lành mạnh và minh bạch trong công tác tài chính – kế toán.
Theo quy định tại Nghị định số 14/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/1/2007
quy định chi tiết thi hành một số điều của LCK thì: chứng khoán bị hủy bỏ niêm yết
khi tổ chức niêm yết lỗ trong 3 năm liên tục hoặc bị sáp nhập, hợp nhất, giải thể hay
phá sản; Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh chính từ 1 năm trở lên hoặc bị
thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực chuyên ngành cũng phải
rời sàn. Chính những quy định khắt khe này buộc các doanh nghiệp niêm yết phải
không ngừng nỗ lực cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề quản trị công ty
ngày càng trở thành vấn đề thời sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm tăng
cường khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế. Do đó, các
doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam cần thiết phải xây dựng cho mình một
thông lệ quản trị công ty. Các doanh nghiệp thực hiện quản trị công ty tốt có xu
hướng kiểm soát rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một
cách tốt hơn.
3. Giải pháp đối với CTCK
Phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho NĐT
Một trong những giải pháp chiến lược để nâng cao hoạt động đầu tư, giảm thiểu
rủi ro trong đầu tư chứng khoán, tạo cầu nối cho cung cầu chứng khoán gặp nhau là
phải mở rộng phát triển quy mô và nâng cao chất lượng dịch vụ hoạt động của các tổ
chức tài chính trung gian, đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao nghiệp vụ và tính
chuyên nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ.
Nhu cầu được tư vấn của NĐT cá nhân rất cao, nhất là thời điểm hiện nay, khi thị
trường không còn cảnh mua đâu thắng đó nên NĐT rất cần có nhiều thông tin, có
người trao đổi trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Để nâng cao chất lượng dịch
vụ, thu hút nhiều hơn các NĐT tham gia và nhằm hạn chế rủi ro cho các NĐT, các
CTCK cần phát triển các hình thức tư vấn đầu tư và nâng cao năng lực hiệu quả hoạt
động tư vấn cho hách hàng.
Để giúp cho các NĐT có thể tiếp cận một cách nhanh chóng và thuận tiện với
TTCK mọi lúc, mọi nơi thì các CTCK cần hiện đại hóa hệ thống giao dịch, mở rộng

tối đa rủi ro đầu tư. Hơn thế nữa, việc đa dạng hóa danh mục đầu tư còn giúp NĐT
gắn liền lợi ích cá nhân vào nhiều ngành như: công nghệ thông tin, ngân hàng, bất
động sảm... Phân tán hóa đầu tư chứng khoán tuy không hoàn toàn có thể xóa bỏ
được hết các rủi ro nhưng nó có thể làm giảm thiểu tối đa mức rủi ro đó. “Không
nên để tất cả trứng vào cùng một rổ” là câu nói minh chứng cho trường hợp này.
4.2. Quản lý và kiểm soát rủi ro
Song song với việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, để đạt được tỷ lệ lợi nhuận cao
đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong đầu tư chứng khoán, vấn đề đặt ra
đối với các NĐT là phải quản lý được mức rủi ro này. Vấn đề quan trọng nhất trong
quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy trình quản lý rủi ro. Thông thường quản lý
rủi ro được chia thành 5 bước:
Bước 1: Nhận dạng rủi ro.
Bước 2: Ước tính, định lượng rủi ro.
Bước 3: Đánh giá tác động của rủi ro.
Bước 4: Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro.
Bước 5: Lựa chọn công cụ và quản lý rủi ro thích hợp.
Bên cạnh đó, để quá trình đầu tư được thành công đòi hỏi NĐT thực hiện tốt quá
trình kiểm soát rủi ro các khoản đầu tư. Vẫn còn rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trên thị
trường sẵn sàng “ập tới” NĐT nếu họ lơ là mà bỏ qua giai đoạn này. Mỗi người có
những cách khác nhau để chăm sóc và kiểm soát rủi ro các khoản đầu tư của mình.
4.3. Kết hợp phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản
15


Trước khi quyết định đầu tư, mua hoặc bán một loại cổ phiếu nào đó, một điều
không thể thiếu đối với các NĐT chuyên nghiệp là thông qua việc phân tích cơ bản
và phân tích kỹ thuật để tìm ra giá trị nội tại của cổ phiếu và dự báo sự thay đổi giá
của cổ phiếu đó trong tương lai.
Cả hai phương án phân tích này đều đóng vai trò thiết yếu trong đầu tư chứng
khoán bởi vì NĐT có thể xác định được các loại chứng khoán đang giao dịch không

5.2. Nâng cấp và phát triển hệ thống thông tin
Để khắc phục tình trạng quá tải lệnh giao dịch của NĐT, sở giao dịch và
TTGDCK cần phải đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại để cải tiến hệ thống kỹ thuật
giao dịch. Phát triển đồng bộ hệ thống giao dịch kết nối Sở, Trung tâm với các
CTCK, trước hết là giải quyết được tình trạng quá tải tại sản giao dịch, thứ hai là với
hệ thống giao dịch hoàn hảo sẽ tự động sàng lọc những lệnh được chấp nhận để
chuyển thẳng vào Sở và Trung tâm. Bên cạnh đó, cần sớm đầu tư nâng cao năng lực
16


cho TTGDCK để giảm thời gian thanh toán từ T+3 xuống còn T+2 hoặc T+1, tạo
vòng quay tiền – hàng nhanh hơn, góp phần hạn chế phần nào rủi ro cho NĐT.
Lợi ích của việc nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin trên nhằm giảm tải
những thao tác thủ công và giúp việc đặt lệnh vào hệ thống được nhanh chóng hơn,
làm tăng lượng giao dịch thành công cho NĐT.
5.3. Hình thành và phát triển các định chế trung gian.
Hiện nay, số tổ chức phát triển cộng đồng ở nước ta còn quá ít so với nhu cầu thị
trường cũng như so với các nước trên thế giới. Hiện tại, trên TTCK Việt Nam mới
chỉ có Hiệp hội các NĐT tài chính và Hiệp hội KDCK. Vì vậy, nên có chính sách
phát triển các hình thức này để thu hút các NĐT tiềm năng cũng như các NĐT chiến
lược và củng cố thêm lòng tin của các NĐT hiện tại. Nhà nước cần có chính sách
khuyến khích sự ra đời và phát triển các định chế tài chính trung gian như: Hiệp hội
đầu tư chứng khoán, Hiệp hội tư vấn chứng khoán, Hiệp hội bảo vệ các NĐT...
Để TTCK phát triển, việc thành lập tổ chức định mức tín nhiệm là vấn đề hết sức
cần thiết. Trong điều kiện mức độ hiểu biết của công chúng đầu tư còn hạn chế, các
kênh cung cấp thông tin và đánh giá đúng rủi ro còn rất ít hoặc chưa có, sự xuất hiện
của tổ chức định mức tín nhiệm sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin cho cộng đồng
đầu tư, và chính bảng xếp hạng của tổ chức định mức tín nhiệm sẽ làm cho NĐT
yên tâm hơn khi quyết định đầu tư vào một loại chứng khoán nào đó. Việt Nam đã
có TTCK, song hoạt động của các tổ chức định mức tín nhiệm vẫn chưa xuất hiện.

cao trình độ của những người làm việc trong lĩnh vực này.
KẾT LUẬN
Có thể thấy rủi ro trong KDCK có tác động rất lớn tới không chỉ NĐT, chủ thể
KDCK mà còn tới cả TTCK và nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy, các biện pháp
phòng ngừa rủi ro trong KDCK luôn đóng vai trò rất quan trọng để hạn chế được tối
đa những tác động của những rủi ro đó. Nhưng với thực tế hiện nay thì cần thiết
phải tiến hành hoàn thiện PL về CK và TTCK nói chung và pháp luật về phòng
ngừa rủi ro trong hoạt động KDCK nói riêng để TTCK Việt Nam hoạt động hiệu
quả và đúng pháp luật, thực hiện tốt chức năng huy động và luân chuyển vốn phục
vụ công cuộc phát triển kinh tế đất nước.

18


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật chứng khoán, Nxb. CAND, Hà
Nội, 2008.
2. Luật doanh nghiệp năm 2005.
3. Luật chứng khoán năm 2006.
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 62/2010/QH12.
5. Nghị định số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và thị trường
chứng khoán
6. Nghị định số 14/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/1/2007 quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật chứng khoán.
7. Nghị định số 84/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 2/8/2010 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP.
8. Vũ Thị Ngọc Ánh, Pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh
chứng khoán, khóa luận tố nghiệp. hà nội 2011
9. http://www.vma.vn/index.php?
option=com_content&view=article&id=166&catid=54:kien-thuc-chungkhoang&Itemid=411


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status